Bản án số 594/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 594/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 594/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 594/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông S và bà N khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/5/2022 giữa ông Quách Thanh S và các thành viên trong hộ gia đình với ông Lê Chí N1; huỷ hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất ngày 28/10/2020 giữa ông Trần Chí T (theo uỷ quyền của ông S, bà N) với ông Lê Chí N1; huỷ nội dung chỉnh lý thay đổi chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 279664 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện U ngày 08/6/2022 từ ông S sang ông N1.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 594/2026/DS-PT
Ngày: 28 8 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Thuý Hồng Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 469/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 8
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất .
Do bản án dân sự thẩm số: 189/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 614/2026/QĐ-PT ngày
22 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Quách Thanh S, sinh năm 1958 (Vắng mặt);
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau
- Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Quách Thanh S
Nguyễn Thị N: Ông Trần Chí T, sinh năm 1956; Địa chỉ cư trú: Khóm G, phường A,
tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Chí N1, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Khóm B, phường A, tỉnh Cà Mau
- Người đi diện hợp pháp theo uquyền của ông Lê Chí N1: Ông Trương L,
sinh năm 1981; Địa chỉ trú: Số B, N, khóm B, phường L, tỉnh Mau (Có đơn
yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
2
1. Bà Quách Ước N2, sinh năm 1993 (Vắng mặt);
2. Bà Quách Thị M, sinh năm 1990 (Vắng mặt);
3. Ông Quách Thanh T1, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
4. Ông Quách Thanh V, sinh năm 1987 (Vắng mặt);
5. Ông Quách Thanh T2, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau
6. Ông Trần Chí T, sinh năm 1956 (Có mặt);
Địa chỉ cư trú: Số D, N, khóm G, phường A, tỉnh Cà Mau
7. Ông Nguyễn Văn Đ (Vắng mặt);
8. Bà Hồ Mỹ D (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp I, xã K, tỉnh Cà Mau
- Người kháng cáo: Ông Quách Thanh S Nguyễn Thị N, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Quách Thanh S và bà Nguyễn Thị N trình bày:
Ngày 28/10/2020, vợ chồng ông S ủy quyền cho ông Trần Chí T hợp
đồng đặt cọc với ông Chí N1 để chuyển nhượng phần đất diện tích 20.800m
2
,
thửa số 225, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã K, huyện U (nay là xã K, tỉnh Cà Mau);
giá chuyển nhượng 700.000.000 đồng. Ông T nhận tiền đặt cọc của ông N1 hai đợt
tổng cộng 400.000.000 đồng (đợt 1 nhận 360.000.000 đồng, đợt 2 nhận 40.000.000
đồng); số tiền còn lại 300.000.000 đồng phía ông N1 sẽ thanh toán cho vợ chồng
ông S trong thời hạn 04 tháng kể từ thời điểm hoàn tất thủ tục chuyển tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông N1 đứng tên.
Đến ngày 04/5/2022, vợ chồng ông S các con của ông S hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên cho ông N1. Khi ký hợp
đồng, ông N1 nói để giảm một phần chi phí khi làm thủ tục chuyển tên quyền s
dụng đất nên trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi số tiền chuyển nhượng
630.000.000 đồng, nhưng số tiền chuyển nhượng thực tế 700.000.000 đồng, ông N1
cam kết sẽ thanh toán số tiền còn lại với thời gian theo hợp đồng đặt cọc nói trên.
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng vợ chồng ông S đã giao giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và các giấy tờ có liên quan cho ông N1 làm thủ tục chuyển tên. Đối với
phần đất chuyển nhượng thì chưa bàn giao cho ông N1 chưa hoàn tất việc thi hành
án để bao chu vi diện tích đất theo bản án đã có hiệu lực; việc chưa bàn giao đất thì
ông N1 biết rõ, ông N1 đồng ý nhận chuyển nhượng chờ đợi thời gian để nhận
bàn giao đất.
Sau đó, vợ chồng ông S nhiều lần liên hệ với ông N1 yêu cầu thanh toán số
tiền còn lại 300.000.000 đồng thì ông N1 nói chưa hoàn tất thủ tục sang tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa thanh toán. Đến ngày 21/11/2022, vợ chồng
ông S liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện U đtrích lục hồ
chuyển tên thì phát hiện ông N1 đã hoàn tất thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận
3
quyền sdụng đất từ ngày 08/6/2022, nhưng ông N1 vẫn chưa thanh toán số tiền
còn lại cho vợ chồng ông S. Do ông N1 không thực hiện đúng thoả thuận nên ông S
bà N khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất tài
sản gắn liền với đất ngày 04/5/2022 giữa ông Quách Thanh S các thành viên trong
hộ gia đình với ông Chí N1; huỷ hợp đồng đặt cọc mua n nhà, đất ngày
28/10/2020 giữa ông Trần Chí T (theo uỷ quyền của ông S, bà N) với ông Lê Chí
N1; huỷ nội dung chỉnh lý thay đổi chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 279664 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện U ngày
08/6/2022 từ ông S sang ông N1.
- Theo ông Trương L người đại diện theo ủy quyền của ông Chí N1 trình
bày:
Ông N1 hộ ông Quách Thanh S (do ông Trần Chí T được ông S và N
uỷ quyền) hợp đồng đặt cọc ngày 28/10/2020 đông N1 nhận chuyển nhượng
của ông S phần đất trồng lúa diện tích 20.800m
2
, thửa s225, tờ bản đsố 10, tọa
lạc tại K, huyện U (nay là K, tỉnh Cà Mau); giá chuyển nhượng 700.000.000
đồng, thanh toán lần một ngày 28/10/2020 là 360.000.000 đồng, lần hai khi thi hành
án xong 40.000.000 đồng và lần ba sau khi sang tên 04 tháng 300.000.000 đồng.
Sau khi xong hợp đồng đặt cọc ông N1 đã giao cho ông S số tiền
360.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận; đến ngày 31/12/2020 xong việc
thi hành án liên quan phần đất trên thì ông N1 đã giao tiếp cho ông S số tiền
40.000.000 đồng nhưng không có làm biên nhận. Do phần đất của ông S thực tế chỉ
có diện tích 19.552m
2
nên hai bên thỏa thuận lại giá chuyển nhượng là 630.000.000
đồng và thanh toán bằng tiền mặt một lần sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng.
Ngày 04/5/2022, hộ ông S ông N1 hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất và tài sản gắn liền với đất, nội dung ông N1 nhận chuyển nhượng của ông
S phần đất diện tích 20.800m
2
(thực tế diện tích 19.552 m
2
), thửa số 225, tờ bản đồ
số 10, tọa lạc tại K, huyện U (nay K, tỉnh Mau); giá chuyển nhượng
630.000.000 đồng, thanh toán tiền mặt một lần. Sau khi ký xong hợp đồng ông giao
cho ông S số tiền còn lại 230.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận; đồng
thời ông S cũng giao cho ông N1 các giấy tliên quan đến phần đất chuyển
nhượng. Sau khi hai bên giao nhận tiền và các giấy tờ liên quan xong, ông S chỉ vị
trí và xịt nước sơn các góc của phần đất giao cho ông N1 nhưng không có làm biên
bản bàn giao đất, tại thời điểm ông S chỉ vị trí đất thì không có ai cản trở. Đến ngày
08/6/2022, ông N1 sang tên phần đất chuyển nhượng cho ông N1 đứng tên. Việc
giảm số tiền từ 700.000.000 đồng thành 630.000.000 đồng do các bên tự thỏa
thuận không sự lừa dối tại hợp đồng chuyển nhượng cũng thể hiện tiền mặt
giao một lần, nên việc giao nhận tiền, sổ đỏ các bên không làm biên nhận.
Ngày 18/01/2023, ông N1 có đơn yêu cầu gửi đến Ủy ban nhân dân xã K yêu
cầu xphạt hành vi chiếm đất của ông Đ thì ông được biết ông Đ đã bị xử phạt vi
phạm hành chính và buộc trả lại đất chiếm cho ông N1.
Do hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/5/2022 đã được thực hiện xong; đối với
hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất lập ngày 28/10/2020 điều kiện đthực hiện
4
hợp đồng chuyển nhượng khi các bên đã thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thì hợp đồng đặt cọc đương nhiên chấm dứt. Do đó, ông N1 không
đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông S và bà N.
Tại bản án dân sự thẩm số: 189/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 Mau quyết định:
Không chấp nhận khởi kiện của ông Quách Thanh S và bà Nguyễn Thị N đối
với ông Chí N1 về việc hủy hợp đng đặt cọc mua bán nhà đất lập ngày
28/10/2020; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất lập ngày 04/5/2022 đối với phần đất diện tích 20.800 m
2
(theo đo đạc diện tích
19.552 m
2
), thửa số 225, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại K, huyện U, tỉnh Mau
(nay K, tỉnh Mau); hủy nội dung chỉnh thay đổi chủ sử dụng đất trên Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất số 279664 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện U ký chỉnh lý thay đổi chủ sử dụng đất ngày 08/6/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 06/7/2026, ông Quách Thanh S và Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo,
yêu cầu sửa bản án sơ thẩm: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S và
N; trường hợp không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, thì buộc ông N1 trả
cho ông, số tiền 300.000.000 đồng, tính lãi 10%/năm từ ngày 08/10/2022 đến
ngày xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Quách Thanh S
và bà Nguyễn Thị N giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T không có ý kiến tranh luận
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Quách Thanh S
Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Quách Thanh S và Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử
xét thấy:
[1] Việc ông Trần Chí T (được ông S và bà N uỷ quyền) ký hợp đồng đặt cọc
mua bán nhà, đất với ông N1 ngày 28/10/2020 ông S cùng các thành viên trong
gia đình hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông N1 ngày 04/5/2022
thực tế, được các bên đương sự thừa nhận. Đây tình tiết không cần phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu của ông S bà N về việc cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày
28/10/2020:
5
Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất được xác lập vào ngày 28/10/2020 giữa
ông Trần C T (đại diện theo ủy quyền của ông S, bà N) với ông N1 mục đích là để
xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích
20.800m
2
tại thửa số 225, tờ bản đồ số 10, đất toạ lạc tại xã K, huyện U, tỉnh Mau
(nay K, tỉnh Mau). Đến ngày 04/5/2022 các bên đã hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất nêu trên, nên
các bên đã hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đặt cọc tthời điểm ngày 04/5/2022.
Do đó, yêu cầu của ông S N về việc hủy hợp đồng đặt cọc là không sở
chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu của ông S và bà N về việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 04/5/2022 và huỷ phần nội dung chỉnh lý giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất:
[3.1] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ ông S với ông N1
là thực tế có diễn ra, điều này đã được hai bên thừa nhận và phù hợp với các giấy tờ
hai bên cung cấp có tại hồ sơ. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa h
ông S ông N1 giao kết trên sở tnguyện, về nội dung hình thức của hợp
đồng không trái với quy định pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng đã được các bên
thực hiện; phần đất chuyển nhượng phía ông S và bà N đã giao cho ông N1 quản lý
sử dụng, ông N1 cũng đã thanh toán tiền chuyển nhượng đất cho ông S N.
Đồng thời, ông N1 cũng được quan thẩm quyền điều chỉnh đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất chuyển nhượng. Như vậy, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa hộ ông S với ông N1 đã hiệu lực. Việc
ông S và N cho rằng ông S chưa quyền định đoạt đối với phần đất chuyển
nhượng diện tích đất chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng diện tích
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi phần diện tích đất theo bản án
hiệu lực pháp luật chưa thực hiện được việc giao đất cho ông S. Đồng thời, ông N1
không thực hiện đúng như thỏa thuận thanh toán đã thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc
nên việc chuyển nhượng chưa hoàn thành, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất không căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, phần đất chuyển nhượng
trước đây tranh chấp giữa ông S, N với gia đình ông Đ, nhưng sự việc tranh
chấp đã được giải quyết bằng bản án thẩm số: 56/2017/DS-ST ngày 15/11/2017
của Toà án nhân dân huyện U Minh và bản án phúc thẩm số: 56/2018/DS-PT ngày
21/3/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Mau đã có hiệu lực pháp luật; phần đất tranh
chấp đã được Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh cưỡng chế thi hành án giao
cho ông S bà N quản sử dụng từ ngày 31/12/2020. Như vậy, việc tranh chấp
giữa ông S và bà N với gia đình ông Đ đã được Cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn
giao đất xong, phía ông S và bà N được toàn quyền định đoạt phần đất này kể từ khi
nhận đất. Do đó, tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng cho ông N1 thì phần đất
này không còn tranh chấp với ông Đ. Hơn nữa, phần đất nêu trên hiện nay ông N1
đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Hồ Mỹ D theo hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kết giữa ông Chí N1 với ông Nguyễn
Văn Đ và Hồ Mỹ D ngày 14/10/2024, phần đất hiện do ông Đbà D đang quản
sử dụng, ông Đ D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
29/10/2024. Do đó, yêu cầu của ông S N về việc huỷ hợp đồng chuyển nhượng
6
quyền sử dụng đất ngày 04/5/2022 giữa hộ ông S với ông N1 không sở chấp
nhận.
[3.2] Do yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất của ông S và bà N không được chấp nhận nên yêu cầu của ông S và
N về việc hủy nội dung chỉnh thay đổi chủ sử dụng đất trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AÐ 279664 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
U từ ông S sang ông N1 đứng tên ngày 08/6/2022 là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu của ông S N về việc buộc ông N1 trả số tiền chưa
thanh toán 300.000.000 đồng, tính lãi 10%/năm từ ngày 08/10/2022 đến ngày xét xử
phúc thẩm, xét thấy: Trong vụ án này, ông S và bà N chỉ khởi kiện yêu cầu huỷ hợp
đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông S huỷ nội
dung chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông S sang ông N1, không đặt
ra yêu cầu đối với số tiền ông bà cho rằng ông N1 còn nợ 300.000.000 đồng, nên
Toà án cấp sơ thẩm không đặt ra xem xét đối với số tiền mà ông S và bà N cho rằng
ông N1 còn nợ chưa thanh toán. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm đã có nhận định trường
hợp ông S N cho rằng ông N1 chưa thanh toán xong tiền chuyển nhượng đất
thì ông S và bà N quyền khởi kiện ông N1 yêu cầu trả số tiền còn nợ bằng vụ án
khác. Do đó, yêu cầu của ông S và bà N về việc buộc ông N1 trả số tiền chưa thanh
toán 300.000.000 đồng, tính lãi 10%/năm từ ngày 08/10/2022 đến ngày xét xử phúc
thẩm, là không có cơ sở để xem xét.
[5] Tnhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Quách
Thanh S và bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án pdân sự phúc thẩm: Ông S và bà N người cao tuổi nên được miễn
chịu án phí (đã được miễn dự nộp).
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo ông Quách Thanh S và Nguyễn Thị N.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 189/2026/DS-ST ngày 22 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 2- Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Thanh S và bà Nguyễn
Thị N đối với ông Chí N1 về việc hủy hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất lập ngày
7
28/10/2020; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất lập ngày 04/5/2022 đối với phần đất diện tích 20.800 m
2
(theo đo đạc diện tích
19.552 m
2
), thửa số 225, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại K, huyện U, tỉnh Mau
(nay K, tỉnh Mau); hủy nội dung chỉnh thay đổi chủ sử dụng đất trên Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất số 279664 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện U ký chỉnh lý thay đổi chủ sử dụng đất ngày 08/6/2022.
- Về chi phí tố tụng: Ông Quách Thanh S bà Nguyễn Thị N phải chịu
1.400.000 đồng, ông S và bà N đã nộp xong.
- Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: Ông Quách Thanh S, Nguyễn
Thị N được miễn án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 2- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 2- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất