Bản án số 624/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 624/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 624/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 624/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà Võ Hồng T đối với “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” đề ngày 19/5/2011, tại thửa đất số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 624/2026/DS-PT Bản án số 624/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 624/2026/DS-PT Bản án số 624/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 624/2026/DS-PT
Ngày 09 tháng 9 năm 2026
V/v tranh chấp HĐ chuyển
nhượng QSĐĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế
Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn
Giang Thị Cẩm Thúy
- Thư ký phiên tòa: Hứa Như Nguyện Là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ
Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29/7 09/9/2026 tại Toà án nhân n tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 219/2026/TLPT-DS ngày 12/5/2026
về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và thuê nhà.
Do bản án dân sự thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 9 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 433/2026/QĐPT-DS
ngày 23/6/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn V, SN: 1974. CCCD số ************, cấp
ngày 16/04/2021. Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã H, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Bằng
L Là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Bằng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.
- Bị đơn: Hồng T, sinh năm 1978. CCCD số ************, cấp
ngày 10/05/2021. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Phước H
Là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Nguyễn Thị N, sinh năm 1980.
Căn cước công dân số ************ ngày 16/04/2021. Địa chỉ trú: p K,
H, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:Hồng T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2023 trong quá trình giải quyết
vụ án, ông Trần Văn V nguyên đơn trình bày: Năm 2011 ông nhn chuyn
2
nhưng quyn s dụng đất ca v chng ông Trương Hoàng V1, bà Nguyn Thanh
T1. Ngày 19/5/2011 ông được UBND huyn H cp Giy chng nhn Quyn s
dụng đất ti thửa đất s 350, t bản đồ s 02, ti p K, H, tnh Mau vi din
tích 100m², loại đất ti nông thôn.
Ngày 08/8/2011 bà Võ Hng T và ông V ký kết hợp đồng thuê nhà có chng
thc ca UBND L, thi hn thuê t ngày 08/8/2011 đến ngày 08/8/2016, giá
thuê 850.000 đồng/tháng. Đồng thi, ông V T tha thun bng li nói
(ngoài hợp đồng) là: “Ông V cho bà T thuê đất, bà T xây cất nhà trên đất thuê, tin
xây ct nhà ca T tiền thuê đất ca ông V mỗi tháng 850.000 đng và bà T
không phi tr tiền thuê nhà, cho đến khi hết hn thuê nhà, bà T tr li diện tích đt
đã thuê giao luôn căn nhà cho ông V”. Diện tích đất thuê diện tích đt T
cất nhà và đang tranh chp. Bà T thc hiện như thỏa thun là t b tin xây ct nhà
vi din tích 4,5m x 10m và không phi tr tin thuê nhà.
Sau khi ký kết hợp đồng thuê nhà được mt thi gian, bà T than vãn vi ông
V rng: không tài sản đ khoe vi bn nên nh ông V viết giy tay
chuyển nhượng gi phần đất ông V đã cho thuê, đ ly giy chuyển nhượng
đi khoe với bn bè là bà có tài sản (mua được đất). Do có mi quan h thâm tình t
lâu nên ông V đồng ý t viết giy tay chuyển nhượng đất cho T “Giấy
chuyển nhượng đất th cư” đề ngày 19/5/2011 cho trùng vi ngày ông V đưc cp
Giy chng nhn quyn s dụng đất, vi din tích 05m x 10m vi giá 75.000.000
đồng, ông V cũng tự tên người chng kiến gm Nguyn Th N (v ông V),
ông Nguyễn Văn C (cha v ông V), không xác nhn ca chính quyền địa phương
rồi đưa cho T gi bn gc (ch viết 01 bn gc) chỉ nhằm mục đích hình thức,
không có việc mua bán, không nhận tiền.
Đến khi hết thi hn thnhà, ông V gp bà T để ly li tài sn cho thuê,
nhưng T cho biết t khi thuê đt, ct nhà T chưa lấy được vn nên xin
thêm vài năm nữa s tr. Ông V chưa nhu cầu s dụng đất bn thân nên
ông đồng ý cho bà T tiếp tc mà không làm hợp đồng thuê tiếp tc vi bà T. Vào
khoảng năm 2020 Nhà nước đã tiến hành thu hi mt phn diện tích đt ngoài din
tích đt tranh chấp để m rng tuyến l Ngan Da - L Ninh Quới A; đến khong
cuối năm 2021 đầu năm 2022, Nhà c bồi thường, h tr mt khong tin nên
ông V liên h quan thẩm quyền để nhn tin bồi thường thì bà T ngăn cản
không cho ông V nhn tin cho rằng: Đất này ông V đã chuyển nhượng cho bà.
Ông V tha thun vi T2 là: Nếu T đồng ý tr đất, nhà cho ông nhn tin
bồi thường thì ông V s h tr bà T mt phn tin xây cất nhà nhưng T2 không
đồng ý.
Do đó, ông V khi kin yêu cu Tòa án gii quyết hy hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đt gia ông Hng T đi với “Giy chuyn
nhượng đất th cư” đề ngày 19/5/2011, ti thửa đất s: 350, thuc t bản đồ s: 02,
ta lc ti p K, H, tnh Mau, vi din tích chuyển nhượng khoảng 50m² đất
nông thôn.
Yêu cu bà Võ Hng T tr 122.400.000 đồng tin thuê nhà.
3
Đối với diện tích đất được thu hồi bồi thường qua thẩm định, đo đạc thực tế
thì nằm ngoài diện tích đất tranh chấp nên ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết
đối với diện tích đất này.
Ngày 22/09/2025 ông V có lời khai xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện
về trả tiền thuê nhà. Ông V chỉ yêu cầu T trả tiền thuê nhà từ ngày 08/8/2017
đến ngày 18/10/2023 với giá thuê 1.275.000 đồng/tháng x 86 tháng =
109.650.000 đồng. Các yêu cầu còn lại ông Vũ G nguyên.
Tại phiên tòa ông Trần Văn V xác định là yêu cầuhiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất gia ông Hng T đi với “Giấy chuyn
nhượng đất th cư” đề ngày 19/5/2011, ti thửa đất s: 350, thuc t bản đồ s: 02,
ta lc ti p K, H, tnh Mau, vi din tích chuyển nhượng khoảng 50m² đất
nông thôn. Đồng thi xin rút li yêu cu v vic buc bà T tr tin thuê nhà từ
ngày 08/8/2017 đến ngày 18/10/2023 với giá thuê 1.275.000 đồng/tháng x 86
tháng = 109.650.000 đồng. Không tranh chấp tài sản trên đất. Ngoài ra, không còn
yêu cầu nào khác.
Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 20 tháng 11 năm 2025 và trong quá trình giải
quyết vụ án, Hồng T bị đơn trình bày: thống nhất với lời khai của ông
V về nguồn gốc đất tranh chấp, còn các nội dung còn lại bà không thống nhất.
T cho rằng ông V cần tiền nên chuyển nhượng cho phần đất (đất đang tranh
chấp) ngang 5m x dài 10m = 50m
2
với giá 15.000.000 đồng/m ngang x 5m ngang
= 75.000.000 đồng. Đất tọa lạc tại ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã H,
tỉnh Mau) thuộc một phần thửa đất số 350, tờ bản đồ số 02 do ông V đứng tên
quyền sử dụng. Ông V đã tự tay viết giấy chuyển nhượng đất “Giấy chuyển
nhượng đất thổ cư” đề ngày 19/5/2011, viết tại đâu bà không biết, khi ông V mang
giấy chuyển nhượng lại đưa tên thì đã chữ của ông V 02 nhân
chứng là bà N, ông C. Bà T tên xong đưa lại ông V mang đi xác nhận ở ấp K
Ủy ban nhân dân xã L xong ông V đưa lại cho bà T giữ. Bà T đã trả đủ tiền chuyển
nhượng đất cho ông V tại nhà ông V, vợ chồng ông V cùng nhận tiền và ký tên vào
biên nhận trả tiền nhưng đã bmất. Do diện tích đất nhỏ, không đủ điều kiện tách
thửa nên không thể làm thủ tục chuyển quyền sang tên được. Để làm tin, tránh
sau này ông V không thừa nhận việc chuyển nhượng đất cho nên ông V đã
giao cho bà T giữ bản sao chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần
đất chuyển nhượng, giấy chứng minh nhân dân của ông V, sổ hộ khẩu gia đình của
ông V. Khi nhận chuyển nhượng đất xong thì T cất nhà ngay cùng thời điểm
ông Vũ cất nhà ông. Cất nhà xong T ở được khoảng 02 năm thì cho thuê đến khi
phát sinh tranh chấp. Từ khi phát sinh tranh chấp đến nay không có người thuê nhà
nên nhà đtrống T là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Từ trước đến
nay T không hề thuê nhà của ông V nên không hợp đồng thuê nhà hay
thuê đất với ông V, chữ Hồng T dưới mục bên nhận thuê nhà tại Hợp đồng
thuê nhà ngày 08/08/2011 mà ông V nộp cho Toà án không phải do bà ký, viết ra.
Do đó, T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, không yêu cầu
Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng bị hủy hoặc bị vô hiệu.
4
Đồng thời T phn t. Yêu cu Tòa án công nhn hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất gia bà vi ông Trần Văn V đối vơi diện tích đất ngang
05m x dài 10m = 50m
2
, thuc mt phn thửa đt s 350, t bản đồ s 02, ta lc p
K, xã L, huyn H, tnh Bc Liêu (nay p K, xã H, tnh Cà Mau) do ông Trần Văn V
đứng tên trên giy chng nhn quyn s dụng đất.
Đối với diện tích đất được thu hồi bồi thường qua thẩm định, đo đạc thực tế
thì nằm ngoài diện tích đất tranh chấp nên T không yêu cầu Tòa án giải quyết
đối với diện tích đất này. Ngoài ra, không còn yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Thị N người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà Nguyn Th N là v ông Trần Văn V nên li trình
bày ca ti bn t khai ngày 24/12/2025 cũng như trong quá trình gii quyết v
án là cùng li trình bày vi ông V. Ngoài ra, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2026/DS-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau Quyết định:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả
109.650.000 đồng tin thuê nhà.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn. Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt
gia ông Trần Văn V vi bà Hng T theo “Giấy chuyển nhượng đất th cư” đề
ngày 19/5/2011, diện tích đất 50m² thuc mt phn thửa đất s 350, t bản đồ s
02, do ông Trần Văn V đng tên quyn s dng, loại đất nông thôn, ta lc ti p
K, xã L, huyn H, tnh Bc Liêu (nay là p K, xã H, tnh Cà Mau), có v trí: ng
Đông giáp kênh Xáng Ngan Da có cạnh dài 5m; Hướng Tây giáp đưng C - N
cạnh dài 5m; Hướng Nam giáp đt ông Trần Văn V cạnh dài 10m; Hướng Bc
giáp đất ca ca hàng X có cnh dài 10m.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi hợp đồng dân sự
hiệu nên a án không xem xét giải quyết, các đương sự quyền khởi kiện
thành vụ án khác.
Tài sản trên đất các đương skhông tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 14/4/2026 bà T kháng cáo yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông V về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 19/5/2011 giữa
ông V với bà hiệu; Chấp nhận yêu cầu phản tố của tuyên b hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ giữa với ông V ngày 19/5/2011 với diện tích đất 50m
2
có hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm: người bảo vệ quyền lợi của T T cho rằng
ông V thừa nhận viết và ký tên trong giấy chuyển nhượng đất, còn việc thuê nhà bà
T không thừa nhận, việc tách quyền SDĐ không thực hiện là do ông V đem giấy đi
thế chấp Ngân hàng để vay tiền, khi chuyển nhượng ông V đã pho to giấy chứng
nhận QSDĐ, Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu cho bà T, T làm mất biên nhận
5
tiền, việc cất nhà do ông Vũ C1, bà T đưa tiền cho ông Vũ C1, việc này ông V thừa
nhận. Lời khai ông H1 cho rằng chỉ liên hệ thẩm định bồi thường với ông H1
không liên hệ với T. Tuy nhiên ông H1 thừa nhận khiếu nại ngăn cản của bà
T nên việc bồi thường đã bị ngăn lại. Nên kiến nghị HĐXX sửa án thẩm chấp
nhận kháng cáo của bà T.
Người bảo vệ quyền lợi của ông V ông V cho rằng về hợp đồng chuyển
nhượng đất không đúng về mặt hình thức, T thừa nhận khi chuyển nhượng ông
V chưa được cấp QSDĐ, đất chuyển nhượng ngang 5m. Nhưng thực tế chỉ
4,5m, hợp đồng chỉ có ông Vũ K không có vợ ông V ký, bà T nhận chuyển nhượng
nhưng không biên nhận đã giao tiền chuyển nhượng. Việc lập hồ sơ giải tỏa bồi
thường do ông V Thực hiện do T không giấy chứng nhận QSDĐ, về yêu
cầu giám định chữ trong hợp đồng thuê nhà do T nhiều chữ khác
nhau nên không giám định được, ông V xin rút yêu cầu giám định, tóm lại hợp
đồng chuyển nhượng đã vi phạm cả nội dung lẫn hình thức nên kiến nghị HĐXX
không chấp nhận kháng cáo của bà T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử và đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng. Về
nội dung, quá trình chuẩn bị xét xử ông V xin rút yêu cầu giám định chữ bà T
trong HĐ thuê nhà, nên quan hệ còn lại tại cấp phúc thẩm là tranh chấp HĐ chuyển
nhượng QSDĐ, hai bên xác định hợp đồng xác lập năm 2011, sau khi chuyển
nhượng T đã cất nhà cho thuê liên tục cho đến nay, ông V cạnh bên
không có ý kiến đòi lại hay phản đối, về diện tích đất chuyển nhượng 50m
2
tại thời
điểm xác lập chuyển nhượng chưa đủ điều kiện chuyển nhượng, nhưng đến nay đã
quy định của UBND tỉnh C diện tích này cho phép chuyển nhượng, nên kiến
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ
thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 Cà Mau
chấp nhận kháng cáo của T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] V hình thc, v ni dung và thi hn kháng cáo được T thc hin
đúng quy định ti các Điều 272, 273 B luật TTDS, đ điu kiện để HĐXX xem
xét kháng cáo của bà theo thủ tục phúc thẩm. V thm quyền cấp thẩm thụ lý,
giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu đòi tiền thuê nhà của nguyên đơn: Tại tòa cấp thẩm,
ông V tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện buộc T trả tiền thuê nhà từ ngày
08/8/2017 đến ngày 18/10/2023 số tiền 109.650.000 đồng. Việc Tòa án cấp
thẩm quyết định đình chỉ giải quyết đối với nội dung này là đúng pháp luật. Hội
đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục ghi nhận sự tự nguyện này giữ nguyên quyết
định đình chỉ.
[3] Xét kháng cáo của bà T:
[3.1] Về tính hiệu lực của “Giấy chuyển nhượng đất th cư” đề ngày
19/5/2011: Ông V cho rằng việc lập giấy chuyển nhượng đất ngày 19/5/2011 chỉ
mang tính chất hình thức, giả tạo để bà T mang đi khoe với bạn bè. Tuy nhiên, các
tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy, sau khi giấy chuyển nhượng,
6
ông V đã giao cho T giữ bản sao chứng thực Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với phần đất chuyển nhượng, cùng với bản sao Giấy chứng minh nhân
dân Sổ hộ khẩu gia đình của ông V đều chứng thực. Việc một người tự
nguyện giao các giấy tờ pháp sở hữu đất toàn bộ giấy tờ tùy thân của mình
cho người khác quản minh chứng ràng thể hiện ý chí thực hiện giao dịch
chuyển nhượng tài sản thật trên thực tế, chứ không đơn thuần chnhằm mục
đích “khoe bạn bè” như lời trình bày của nguyên đơn. Do đó, lời khẳng định hợp
đồng giả tạo của ông V không có cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Về quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong giao dịch chuyển
nhượng đất: Sau khi nhận giấy chuyển nhượng vào năm 2011, T đã btiền
xây dựng một căn nhà diện tích 4,5m x 10m trên phần đất tranh chấp để ở ổn định,
sau đó đem cho thuê và trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến nay. Việc xây dựng nhà
kiên cố diễn ra công khai, sát cạnh nhà ông V, người xây dựng nhà chính là ông V,
do T bỏ tiền ra thuê ông xây dựng, T nhận nhà ở, cho thuê trong suốt nhiều
năm nhưng ông V không bất kỳ phản đối, ngăn cản hay tranh chấp nào về
quyền sở hữu tài sản. Về nghĩa vụ thanh toán, T khẳng định đã trả đủ số tiền
75.000.000 đồng cho vợ chồng ông V, bà N, tuy ông V không thừa nhận việc nhận
tiền chuyển nhượng nhưng với việc ông pho giấy chứng nhận QSDĐ, CMND,
sổ hộ khẩu gia đình việc T cất nổn định từ năm 2011 đến nay đã chứng
minh bà T đã thanh toán xong tiền chuyển nhượng đất.
[3.3] Về mặt hình thức pháp trong giao dịch chuyển nhượng đất: Mặc
“Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” ngày 19/5/2011 chỉ được viết bằng giấy tay,
không được chứng thực của quan thẩm quyền theo quy định, tuy nhiên, T
đã thực hiện nghĩa vụ giao trả đủ số tiền 75.000.000 đồng nhận chuyển nhượng,
đồng thời đã nhận bàn giao đất trên thực địa xây cất nhà ổn định, liên tục từ
năm 2011 cho đến khi phát sinh tranh chấp. Căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều
129 Bộ luật Dân sự, hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất bằng giấy tay
giữa các bên tuy vi phạm điều kiện về hình thức nhưng các bên đã thực hiện hoàn
thành nghĩa vụ (bên nhận đã trả đủ tiền, bên chuyển nhượng đã giao đất và giấy tờ
liên quan), do đó giao dịch này phải được công nhận hiệu lực pháp luật. Về diện
tích đất đôi bên chuyển nhượng 50m² đất thổ cư, với diện tích này tại thời điểm
chuyển nhượng chưa đủ điều kiện tách thửa theo quy định của địa phương, nhưng
hiện nay theo điểm b, khoản 1, điều 4, Quyết định số 148/2026/-UBND ngày
20/6/2016 của UBND tỉnh C quy định về điều kiện, diên tích tối thiểu tách thửa đất
trên địa bàn tỉnh Mau, quy định diện tích tối thiểu tách thửa đất khu vực các xã
50m
2
phù hợp với diện tích đất đôi bên chuyển nhượng, điều này bổ sung thêm
điều kiện có hiệu lực đối với giao dịch chuyển nhượng đất của hai bên.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp thẩm
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V bà T hiệu
chưa đánh giá một cách khách quan, toàn diện chứng cứ cũng như thực tế sử
dụng đất của các đương sự, xét thấy kháng cáo của T căn cứ được chấp
nhận.
7
Tại phiên tòa ngày 29/7 ông V yêu cầu hoãn phiên tòa giám định lại chữ
của bà T trong hợp đồng thuê nhà và ghi lời khai của ông H1 là cán bộ Ban quản lý
dự án, sau đó ông xin rút yêu cầu giám định. Tòa án đã ghi ý kiến ông H1 ông cho
rằng chỉ liên hệ lập hồ giải tỏa bồi thường với ông V do ông V đúng tên giấy
chứng nhận QSDĐ, không liên hệ với T, ban quản dán không biết việc
chuyển nhượng QSDĐ giữa hai bên, đến khi bồi thường thì T đến yêu cầu bồi
thường cho nên đơn vị đã ngưng việc bồi thường cho đến nay để hai bên giải
quyết tranh chấp. Lời khai này của ông H1 không phải chứng cứ phủ quyết việc
giao dịch chuyển nhượng QSDĐ giữa ông V và bà T.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên
tòa đnghị sửa bản án thẩm theo hướng công nhận hiệu lực hợp đồng hoàn
toàn phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Hồng T không phải chịu theo quy định tại
Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do sửa bản án thẩm nên án phí dân sự
thẩm được xác định lại:
Yêu cầu khởi kiện của ông V không được chấp nhận, ông V phải chịu án phí
dân sự thẩm 300.000 đồng. Đối trừ stiền ông đã nộp tạm ứng 3.360.000
đồng, ông V được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 3.060.000 đồng.
Yêu cầu phản tố của bà T được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí sơ
thẩm. Hoàn trả lại cho bà T số tiền bà đã nộp tạm ứng 300.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng: Gồm chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ
(5.238.783 đồng) chi p giám định chữ (5.691.000 đồng) tổng cộng
10.929.783 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên ông V
N phải trách nhiệm chịu toàn bộ chi phí tố tụng này. Quá trình chuẩn bị xét
xử, bà T đã nộp tạm ứng trước 10.000.000 đồng, ông V đã nộp tạm ứng thanh toán
số tiền còn lại là 929.783 đồng. vậy, ông V N nghĩa vụ phải hoàn trả
lại cho bà T số tiền 10.000.000 đồng.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định, Hội đồng xét
xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308; Điều 148, 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về án phí lphí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của Hồng T, sửa
một phần bản án dân sự sơ thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau. Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn V về việc yêu cầu
Hng T trả 109.650.000 đồng tin thuê nhà.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn V. Chấp nhận yêu
cầu phản tố của bà Võ Hng T. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyn s dng
đất gia ông Trần Văn V vi bà Võ Hng T theo “Giấy chuyển nhượng đất th cư”
8
đề ngày 19/5/2011, diện tích đất 50m² thuc mt phn thửa đất s 350, t bản đồ
s 02, do ông Trần Văn V đng tên quyn s dng, loại đất nông thôn, ta lc ti
p K, L, huyn H, tnh Bc Liêu (nay p K, xã H, tnh Mau), v trí:
ớng Đông giáp kênh Xáng Ngan Da có cạnh dài 5m; Hướng Tây giáp đưng C
- N cạnh dài 5m; Hướng Nam giáp đất ông Trần Văn V cnh dài 10m;
ng Bc giáp đất ca ca hàng X có cnh dài 10m có hiu lc.
Ông V N nghĩa v tiếp tc thc hiện nghĩa vụ theo hợp đồng chuyn
nhưng, hoàn tt h để T chuyển tên QSDĐ. Nếu ông V N không thc
hin thì bà T có quyn lp h sơ đăng ký xin cấp QSDĐ theo quy định.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn V và bà Nguyên Thị N1 có trách nhiệm
hoàn trả lại cho bà T 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày T đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong
các khoản tiền, hàng tháng ông V N1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự.
4. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn V phải nộp 300.000 đồng, ngày 27/11/2023
ông đã nộp tạm ứng số tiền 3.360.000 đồng theo biên lai thu số 0007383 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được đối trừ, ông được
hoàn lại 3.060.000 đồng.
Võ Hồng T không phải nộp, ngày 27/11/2025 đã nộp tạm ứng số tiền
300.000 đồng theo biên lai thu số 0005483 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau
được hoàn lại.
- Án phí phúc thẩm: Võ Hồng T không phải chịu, ngày 14/4/2026 bà đã
dự nộp số tiền 300.000đ tại lai thu số 0004391 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau
được hoàn lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 9 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ninh Quang Thế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 624/2026/DS-PT Bản án số 624/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 624/2026/DS-PT Bản án số 624/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất