Bản án số 511/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 511/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 511/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 511/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 511/2026/DS-PT Bản án số 511/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 511/2026/DS-PT Bản án số 511/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương
Ông Lương Đức Dương
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trí - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm
Đồng, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân
sự thụ lý s418/2026/TLPT-DS ngày 06-7-2026 v vic “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đất”.
Do Bản án n sự thm số 35/2026/DS-ST ngày 12-5-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - m Đồng bị kng o. Theo Quyết định đưa vụ án ra t
xử phúc thẩm số 510/2026/-PT ny 10 tháng 7 năm 2026, gia c đương s:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Thị T1, Nguyễn
T1), sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn Q, K, tỉnh Lâm Đồng - đơn xin xét xử
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Hu Q,
sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, N, tỉnh Lâm Đồng. Văn bản ủy quyền ngày
06-4-2023 - Có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 511/2026/DS-PT
Ngày 27 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Bị đơn: Ông Võ Văn P, sinh năm 1964; địa chỉ thường trú: Thôn Q, xã K,
tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Mai Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ thường trú: Thôn Q, K, tỉnh
Lâm Đồng; chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hu L, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn B, N, tỉnh Lâm
Đồng - Vắng mặt.
Người kháng cáo: bị đơn Võ Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa
người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03-11-1997, Nguyễn Thị T nhận chuyển nhượng của ông
Văn P một mảnh vườn với diện tích 3.700m
2
, hai bên viết “Giấy sang nhượng
vườn” gia đình T đồng ý mua với giá trị 3.000.000 đồng, đã trả đủ tiền
nhận đất, bà T giao đất cho em trai là ông Nguyễn Hu L quản lý, sử dụng trồng
cà phê ổn định, không ai tranh chấp gì. Đến năm 2022, gia đình bà T muốn đăng
ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thì mới biết đất đã cấp
GCNQSDĐ đứng tên ông Văn P. T qua nhà ông P nói chuyện về việc
sang tên thửa đất cho gia đình, nhưng ông P không đồng ý sang tên. Sau nhiều
lần qua nói chuyện thì hai bên không thống nhất được với nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, không lồng ghép được thửa đất 301 với bản
đồ giải thửa tại thôn Q, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay thôn Q, K,
tỉnh Lâm Đồng) nên nguyên đơn thống nhất xác định diện tích đất chuyển
nhượng theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ
3.699,4m
2
. Diện tích đất này hiện nay thuộc một phần của thửa đất số 60 tờ bản
đồ số 33 đo đạc năm 2011 của xã N (nay là xã K, tỉnh Lâm Đồng).
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc ông Văn P tiếp tục thực
hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 301,
tờ bản đồ số 03 đo đạc năm 1992, diện tích 3.700m
2
(hiện trạng 3.699,4m
2
một phần của thửa đất số 60 tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 của K, tỉnh
Lâm Đồng hiện nay) cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Võ Văn P trình bày:
3
Ngày 03-11-1997, ông P có chuyển nhượng cho bà T diện tích đất 3.700m
2
,
giá 3.000.000đ, đất đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên Văn P vào năm 1993.
Hai bên viết giấy tay với nhau, nội dung “Giấy sang nhượng vườn” ngày 03-
11-1997 do ông P viết, ch ký, ch viết tại vị trí người bán trong giấy sang
nhượng của ông P. Khi T tên vào vị trí người mua không ý kiến
nội dung bên trên. Khi viết giấy sang nhượng trên chỉ có ông P và T, ngoài ra
không ai khác chứng kiến hay biết việc này. Sau khi viết giấy sang nhượng
giao cho T thì ông P về nói việc bán đất này cho vợ ông Mai Thị H
vợ ông không ý kiến gì. Ông không chỉ hiện trạng 3.700m
2
cho T
nhưng có chỉ phần đất giáp ông L (em trai bà T) để bà làm. T không sử dụng
đất giao đất ông chỉ cho ông L sdụng (trồng phê) từ đó đến nay.
không lồng ghép được thửa đất 301 với bản đồ giải thửa nên nay ông P thống
nhất xác định diện tích chuyển nhượng theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2026
của Chi nhánh Văn phòng Đ 3.699,4m
2
. Diện tích đất này một phần của
thửa đất số 60 tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 của K, tỉnh Lâm Đồng hiện
nay. Nay, ông P đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất theo giấy sang nhượng ngày 03-11-1997 và sang tên diện tích đất
3.699,4m
2
cho T. Sau đó, ông P đơn thay đổi ý kiến trong biên bản hòa
giải thành ngày 02-4-2026 và tại phiên tòa ông P cho rằng ông chỉ cho mượn đất
và không nhận tiền 3.000.000đ nên không đồng ý với khởi kiện của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị H trình bày:
H vợ ông Võ Văn P, gia đình bà và gia đình T có mối quan hệ thông
gia. Diện tích đất 3.700m
2
ông P viết giấy sang nhượng cho T1 ngày 03-
11-1997 của vợ chồng đã được cấp bìa cho ông Văn P. Ban đầu
không đồng ý bán đất cho T cũng không giấy n đất cho T. Tuy
nhiên, chỗ thân quen nên nay vẫn đồng ý sang tên diện tích đất này cho gia
đình T. Phần đất ra gần 01 sào thì bà không đồng ý sang tên, phía gia đình
bà T phải trả lại cho bà. Sau khi nhận được kết quả hòa giải thành ngày 02-4-2026
củaa án tH đơn thay đổi ý kiến, không đồng ý kết quả hòa giải trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu L trình bày: Diện
tích đất các bên đang tranh chấp T giao cho ông L sdụng từ năm 1997 đến
nay. Ông L đồng ý yêu cầu khởi kiện của T buộc gia đình ông P sang tên
diện tích đất 3.700m
2
cho bà T.
Toà án đã mphiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nng không tnh.
4
Tại Bản án dân sự thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 12-5-2026 ca Toà án
nhân dân khu vc 7 - Lâm Đồng đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Buộc ông Văn P Mai Thị H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang nhượng vường) lập ngày 03-11-1997 gia
ông Văn P Nguyễn Thị T (tên gọi khác Nguyễn T1, Nguyễn Thị T1)
đối với diện tích đất 3.700m
2
, trong đó 400m
2
đất ở, 3.300m
2
đất trồng cây lâu
năm (thuộc thửa đất 301, tờ bản đồ 03 đo đạc năm 1991), hiện trạng
3.699,4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng y lâu năm) thuộc một
phần thửa đất 60, tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 của K, tỉnh Lâm Đồng
đứng tên ông Nguyễn Hu L.
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2026 ngày 27-3-2026 của Chi
nhánh Văn phòng Đ).
Buộc ông Võ Văn P và bà Mai Thị H giao GCNQSDĐ số AA 06118313 do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ cấp ngày 08-01-2026 đứng tên
ông Võ Văn P cho cho bà Nguyễn Thị T và có nghĩa vụ phối hợp với bà Nguyễn
Thị T các giấy tờ cần thiết (nếu có) để Nguyễn Thị T thực hiện quyền
nghĩa vụ khai đăng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 3.699.4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng cây lâu năm) nêu trên theo quy định
pháp luật.
Trường hợp ông Võ Văn PMai Thị H không giao GCNQSDĐ số AA
06118313 cho Nguyễn Thị T hoặc không phối hợp với bà Nguyễn Thị T
các giấy tờ cần thiết (nếu có) để Nguyễn Thị T thực hiện quyền nghĩa vụ
khai đăng quyền sử dụng đất thì đề nghị quan thẩm quyền thu hồi
GCNQSDĐ số AA 06118313 tiến hành GCNQS đối với diện tích đất
3.699.4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng cây lâu năm) cho
Nguyễn Thị T theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27-5-2026, bị đơn Văn P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm hủy Bản án dân sthẩm số 35/2026/DS-ST ngày 12-5-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm gi nguyên bản án thẩm. Bị đơn đề nghị
chấp nhận kháng cáo hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện
đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đến trước thời điểm nghị án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đquy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm v án.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử n cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kng cáo của bị đơn, sửa Bản án dân sự
thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 12-5-2026 ca Toà án nhân dân khu vc 7 - Lâm
Đồng theo ớng: chp nhận yêu cầu khởi kiện của ngun đơn bà Nguyễn Thị T.
ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang nhượng vườn)
lập ngày 03-11-1997 gia ông n P và Nguyễn Thị T (tên gọi khác Nguyễn
T1, Nguyễn Thị T1) đối với din tích đất 3.700m
2
, trong đó 400m
2
đất ở, 3.300m
2
đất trồng y u m (thuộc thửa đất 301, tờ bản đồ 03 đo đạc m 1991), hiện
trạng 3.699,4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng y u m) thuộc
một phần thửa đất 60, tờ bản đồ số 33 đo đạc m 2011 của K, tỉnh Lâm Đồng
hiệu lực pháp luật. Ván phí giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, căn cứ vào các chứng
cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên sở xem xét đầy đủ
toàn diện các chứng cứ, ý kiến các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, nhận thấy:
[1]. Về hình thức: bị đơn Văn P kháng cáo bản án thẩm trong thời
hạn, đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên được xem xét
theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của đơn Võ Văn P đề nghị bản án sơ thẩm, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Các đương sự xác nhận giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 25-11-2021 thỏa thuận đổi đất ngày 04-6-2022, việc kết
các hợp đồng hoàn toàn tnguyện, không bị lừa dối, nhầm lẫn, đe dọa hoặc
cưỡng ép. Bị đơn đã nhận 1.665.000.000 đồng của nguyên đơn.
6
[2.2]. Theo kết quả đo hiện trạng tại Mảnh trích đo địa chính số 20-2025
ngày 18-4-2025 của Chi nhánh n phòng Đ thì diện tích đất gia đình nguyên
đơn đang sử dụng (bao gồm cả phần đất hai bên chuyển nhượng) là 5.788,3m
2
. Bị
đơn không đồng ý kết quả đo đạc và đề nghchuyn lên cơ quan chuyên môn cấp
trên để đo đạc, lồng ghép lại cho rằng diện tích đất 3.699,4m
2
Tòa án công
nhận cho nguyên đơn dẫn đến phần diện tích đất còn lại (chưa được cấp
GCNQSDĐ của nguyên đơn) bị vây bọc, không lối đi vào. Bị đơn không
phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập đối với
diện tích đất còn lại này nên Tòa án thẩm không xem xét, giải quyết trong vụ
án đúng quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đề nghị nguyên
đơn dành lại cho bị đơn lối đi khoảng 03m nhưng nguyên đơn không đồng ý. Các
đương sự có thể giải quyết trong vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
[2.2]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Văn P tiếp tục thực hiện
kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 301, tờ bản
đồ số 03 đo đạc năm 1992, diện tích 3.700m
2
(hiện trạng 3.699,4m
2
một
phần của thửa đất số 60 tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 của K, tỉnh Lâm
Đồng hiện nay) cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Căn cứ nguyên
đơn khởi kiện là Giấy sang nhượng đất vườn ngày 03-11-1997 (bản gốc - bút lục
số 81). Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn T, bị đơn ông P thừa nhận các
nội dung trong giấy sang nhượng đất vườn ngày 03-11-1997, xác nhận ch ký,
ch viết, số tiền chuyển nhượng 3.000.000đ; các bên đã giao nhận đất từ ngày
chuyển nhượng. Đây tình tiết các bên thừa nhận không phải chứng minh quy
định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3]. Xét các điều kiện hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 03-11-1997: Tại thời điểm kết hợp đồng thửa số 301, tờ bản
đồ số 3, diện tích 3.700m
2
(đất khu dân cư, thời hạn sử dụng lâu dài) đo đạc năm
1992 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp GCNQSDĐ số B 947721 ngày 20-
11-1993 cho ông Văn P nên đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định tại
khoản 3 Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993. Trong giấy sang nhượng vườn
ngày 03-11-1997 các bên thống nhất chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của
thửa 301, tbản đồ số 3. Mai Thị H (vợ ông P) không vào giấy sang
nhượng nhưng thừa nhận có được ông P thông báo việc chuyển nhượng cũng
đồng ý thừa nhận việc chuyển nhượng đất, không có tranh chấp gì.
[2.4]. Hợp đồng được lập bằng văn bản nhưng không được công chứng
hoặc chứng thực chưa tuân thủ về hình thức, tuy nhiên, các bên đã giao nhận
7
toàn bộ số tiền 3.000.000đ (100% giá trị thanh toán); đã giao nhận đất căn cứ
khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Tòa án công nhận hiệu lực
của giao dịch và các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
[2.5]. Ngày 08-01-2026, ông P được Chi nhánh Văn phòng Đ cấp lại giấy
CNQSD đất số AA 06118313 đối với thửa đất số 301, tờ bản đồ số 3, diện tích
3.700m
2
, trong đó 400m
2
đất ở, 3.300m
2
đất trồng cây lâu năm. Theo kết quả xác
minh ngày 01-4-2026, Phòng Kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân K, tỉnh Lâm
Đồng cung cấp: Thửa đất số 301 tờ bản đồ 03 đo đạc năm 1992 nay thửa đất
60 tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 diện tích 57.940m
2
của K, tỉnh Lâm
Đồng, thửa đất đứng tên ông Nguyễn Hu L, hiện tại thửa đất không nằm trong
quy hoạch. Ông L khai nhận thửa đất 60, tờ bản đồ 33 bao gồm của phần đất
tranh chấp nhưng chưa đăng ký quyền sử dụng đất và không có tranh chấp.
Tòa án cấp thẩm tuyên xchấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
căn cứ đúng quy định pháp luật. Do đó, ông P không cung cấp tài liệu,
chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Tuy nhiên, Tòa án cấp
thẩm đã nhận định đủ căn cứ để công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang nhượng vườn) ngày 03-11-1997 nhưng
phần quyết định không tuyên xử công nhận hợp đồng có hiệu lực đlàm căn cứ
nguyên đơn thực hiện làm thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp lut
đất đai hiện hành tuyên xử buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng là chưa
phù hợp do đó cần sửa Bản án sơ thẩm, tuyên án lại cho phù hợp.
[3]. Về án phí: Do bản án bị sửa nên bị đơn Văn P không phải chịu án
phí phúc thẩm. Hoàn trả 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm tạm nộp tại Thi
hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng cho bị đơn Văn P.
[4]. Đối với c quyết định khác của bản án thẩm không kháng o,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ny hết thời hn kháng o, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ khoản 2 Điều 308 của B luật Tố tụngn sự; Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ny 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phía án.
Không chấp nhận kháng o của bị đơn n P, sửa Bản án n sự thẩm số
35/2026/DS-ST ngày 12-5-2026 ca Toà án nhân n khu vc 7 - Lâm Đồng.
8
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang nhượng
vườn) lập ngày 03-11-1997 gia ông Võ Văn P và bà Nguyễn Thị T (tên gọi khác
Nguyễn T1, Nguyễn Thị T1) đối với diện tích đất 3.700m
2
, trong đó 400m
2
đất ở,
3.300m
2
đất trồng cây u năm (thuộc thửa đất 301, tờ bản đồ 03 đo đạc m
1991), hiện trạng là 3.699,4m
2
(trong đó 400m
2
đất 3.299,4m
2
đất trồng cây lâu
năm) thuộc một phần thửa đất 60, tờ bản đồ số 33 đo đạc năm 2011 của xã K, tỉnh
Lâm Đồng có hiệu lực pháp luật đứng tên ông Nguyễn Hu L.
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 22-2026 ngày 27-3-2026 của Chi
nhánh Văn phòng Đ).
Buộc ông Văn P và Mai Thị H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AA 06118313 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Đ cấp
ngày 08-01-2026 đứng tên ông Văn P cho Nguyễn Thị T nghĩa vụ
phối hợp với Nguyễn Thị T các giấy tờ cần thiết (nếu có) để Nguyễn
Thị T thực hiện quyền nghĩa vụ khai đăng quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất 3.699.4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng cây lâu năm)
nêu trên theo quy định pháp luật.
Trường hợp ông Văn P Mai Thị H không giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AA 06118313 cho Nguyễn Thị T hoặc không phối hợp
với Nguyễn Thị T các giấy tcần thiết (nếu có) để Nguyễn Thị T thực
hiện quyền nghĩa vụ kê khai đăng quyền sử dụng đất thì đnghị quan
thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 06118313
tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất
3.699.4m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 3.299,4m
2
đất trồng cây lâu năm) cho
Nguyễn Thị T theo quy định pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: ông Văn P phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem
xét thẩm định tại chỗ, thu thập tài liệu 3.855.000 đồng, Nguyễn Thị T đã nộp
tạm ứng số tiền này nên ông Văn P phải trách nhiệm trả lại cho
Nguyễn Thị T 3.855.000 đồng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 6.145.000 đồng tiền
chi phí tố tụng còn thừa tại Tòa án theo Biên lai thu tiền ngày 13-02-2025.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Văn P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
9
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0003171 ngày 29-11-2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 7 - Lâm Đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trcho ông Văn P số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí đã tạm nộp
theo Bn lai s0010449 ny 03-6-2026 ca Thi nh án dân sự tỉnh m Đồng.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
36 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ II);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
K’Tiêng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 511/2026/DS-PT Bản án số 511/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 511/2026/DS-PT Bản án số 511/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất