Bản án số 655/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 655/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 655/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 655/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông yêu cầu ông M, ông L, bà S trả lại cho ông phần đất có diện tích 115,8m2 tọa lạc ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 655/2026/DS-PT
Ngày 14 - 9 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế
Các Thẩm phán: Các Thẩm Phán: Ông Phùng Văn Định
Ông Nguyễn Thành Lập
- Tphiên tòa: Hứa Như Nguyện TTòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11, 14 tháng 9 năm 2026 tại trsở Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 354/2026/TLPT-DS ngày
25 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 354/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 660/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt K, sinh năm 1982. CCCD số:
************. Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Các bị đơn:
1. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1949. CCCD số: ************.
2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960. CCCD số: ************.
3. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972. CCCD số:************. Các bị
đơn cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp cho S, ông M: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm
1949. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau, cùng là bị đơn trong vụ án, theo các
văn bản ủy quyền ngày 21/11/2024 và 01/4/2025 (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông M, S: Ông Văn S1
là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố C (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Ông K trình bày: Vào năm 2021 vợ chồng ông L, S chuyển nhượng
cho ông phần đất diện tích 1.620,5m
2
, chiều ngang mặt tiền 29,11m, mặt hậu
29,73m, chiều dài một cạnh 42,82m, một cạnh 67,6m, phần đất thuộc thửa số 378.
tờ bản đồ số 14, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DD 706233 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp
ngày 20/01/2022 do ông đứng tên.
Sau khi chuyển nhượng cho ông một thời gian, ông M người sử dụng đất
giáp ranh với ông lấn qua phần đất của ông ngang mặt tiền 4,12m, dài giáp ông M
67,88m, dài cạnh giáp đất ông 65,66m, tổng diện tích ông M lấn chiếm là 115,8m
2
.
Nay ông yêu cầu ông M, ông L, S trả lại cho ông phần đất có diện tích 115,8m
2
tọa lạc ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Ông L trình bày: Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông K, ông thống
nhất năm 2021 ông chuyển nhượng cho ông K một phần đất theo thỏa thuận
diện tích ngang 36m, dài 72m, sau khi chuyển nhượng ông K được cấp giấy theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/01/2022 do Sở T cấp do ông K đứng
tên. Sau khi bán ông còn lại một phần để cho ông M quản lý sử dụng và hiện nay
ông M đang đứng tên, vợ chồng ông không sử dụng phần đất này. Đối với diện tích
ông K được cấp giấy chứng nhận ông thống nhất, ông yêu cầu a án thẩm định,
đo đạc đủ diện tích đất ông đã chuyển nhượng của ông K, trường hợp phần đất
tranh chấp nằm trong giấy ông K được cấp thì ông sẽ trả lại. Ông M tự trực tiếp
quản đất, không còn ai khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông M đang
giữ bản chính.
Trước đây chuyển nhượng cho ông K phần mặt tiền lộ đất đen, sau khi nhà
nước làm lộ 03m thì diện tích đất của ông M ông K đều bị mất, ông xác định
phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 354/2026/DS-ST ngày 25
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau Quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt K. Buộc ông Nguyễn
Văn M có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt K phần đất diện tích 115,8m
2
(thửa số
2), tọa lạc ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 11/3/2026 của Công ty Cổ phần K1).
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí ttụng, quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 07/7/2026 ông L kháng cáo yêu cầu sửa án thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: ông L, người bảo vệ quyền lợi cho ông L yêu cầu
đo đạc bổ sung cạnh chiều ngang mặt tiền nếu số đo 29,11m ông đồng ý, nếu
phần tranh chấp nằm ngoài phần tranh chấp ông không đồng ý trả.
Ông K đồng ý với yêu cầu của ông L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phát biểu: Về tố tụng Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, các đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng
3
dân sự. Về nội dung, sau khi đo đạc số đo chiều ngang mặt tiền 29,11m nằm trong
diện tích đất tranh chấp. Nên kiến nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của
ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 354/2026/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông L nộp trong hạn luật định, v hình thc ni
dung đơn được thực hiện đúng quy định ti các Điều 272, 273 B luật TTDS, đã
nộp án phí kháng o theo quy định nên đủ điu kiện để Hội đồng xét xử xem xét
kháng cáo của ông theo trình tự phúc thẩm. V thm quyền cấp sơ thẩm thụ lý, giải
quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật TTDS.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn L: Tại phiên tòa
phúc thẩm ngày 11/9 ông L người bảo vệ quyền lợi của ông cho rằng bản vẽ
ngày 15/01/2025 09/3/2026 đều chưa xác định độ dài cạnh chiều ngang tiếp
giáp lộ bê tông theo phương vuông góc mà đã xác định ông M lấn đất của ông K là
không phù hợp, nên yêu cầu được đo bổ sung chiều ngang cạnh này theo đúng s
đo hai bên đã chuyển nhượng nguyên đơn đã được cấp QSDĐ chiều dài
29,11m. Ông K đồng ý với u cầu đo đạc bổ sung của ông L. HĐXX phúc thẩm
đã ngừng phiên tòa yêu cầu quan đo vẽ bổ sung thêm cạnh chiều ngang tiếp
giáp lộ chiều dài 29,11m vị trí nằm song song với cạnh chiều ngang mặt hậu
đất, theo kết quả của quan đo vẽ Công ty Cổ phần K1 ngày 11/9/2026 đã xác
định cạnh chiều ngang mặt tiền đều nằm trong phạm vi phần đất tranh chấp (thửa
số 2), kết quả này phù hợp với chiều ngang đất khi hai bên lập hợp đồng chuyển
nhượng giấy chứng nhận QSDĐ ông K đã được UBND cấp, do đó kháng cáo
của ông L không được chấp nhận. Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án thẩm số
345 của Tòa án khu vực 3 - Cà Mau là phù hợp.
Đối với phần diện tích 4,8m
2
vượt hơn diện tích đất ông K được cấp QSDĐ,
thực tế theo hợp đồng chuyển nhượng hai bên xác lập diện tích 1.620,5m
2
, khi đo
đạc thực tế diện tích chuyển nhượng 1.773,8m
2
được thể hiện trong hợp đồng
(BL 201), do đó án thẩm tuy tuyên vượt diện tích theo giấy chứng nhận QSDĐ
của ông K nhưng vẫn nằm trong diện tích đất hai bên thiết lập trong hợp đồng
chuyển nhượng.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tại phiên tòa
phù hợp với nhận định của HĐXX.
[3] Về án phí dân sphúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Ông L phải chịu án phí phúc, tuy nhiên ông người cao tuổi nên được miễn nộp
theo quy định tại điều 148 BLTTDS.
[4] Các phần khác của án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị HĐXX
không xem xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T1 quy định về án phí và lệ
phí Toà án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn L. Giữ nguyên bản
án dân sthẩm số 354/2026/DS-ST ngày 25/6/2026 của Toà án nhân dân Khu
vực 3 - Cà Mau. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt K. Buộc ông Nguyễn
Văn M nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt K phần đất diện tích 115,8m
2
, tọa lạc
ấp C, P, tỉnh Mau (thuộc thửa số 2 2-1 bản vẽ hiện trạng ngày 11/3/2026
và 11/9/2026 của Công ty Cổ phần K1).
2. Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn M nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Việt K số tiền 23.202.000 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm lẻ hai nghìn
đồng). Kể từ ngày ông K đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong
khoản tiền nêu trên, nếu ông M chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu
khoản lãi phát sinh tương ứng với số tiền thời gian chậm thi hành án theo mức
lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự:
- Án phí thẩm: Ông Nguyễn Việt K không phải chịu, hoàn trả lại cho ông
K 300.000 đồng ông đã dự nộp theo biên lai số 0003870 ngày 03/10/2024 của Chi
cục Thi nh án dân sự huyện Phú Tân (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực
3 Mau) 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001946 ngày 14/10/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Ông Nguyễn Văn M phải chịu 862.710 đồng (T trăm sáu mươi hai nghìn bảy
trăm mười đồng).
- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Tấn L được miễn nộp và miễn dự nộp.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân KV 3 Cà Mau;
- Phòng THADS KV 3 Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ninh Quang Thế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất