Bản án số 800/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 800/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 800/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 800/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 800/2026/DS-PT Bản án số 800/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 800/2026/DS-PT Bản án số 800/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 800/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 9 - 2026
“V/v tranh chấp QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hưng Thẩm tra viên, Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:Trần Thị Pho
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 25 tháng 3 và ngày 10 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
878/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2025 về "Tranh chấp quyền sử
dụng đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 13 - tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 185/2026/QĐ-PT
ngày 09 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Kim Thị Sô K, sinh ngày 01/01/1979 (có mặt).
Căn cước công dân: số ************ cấp ngày 13/4/2021.
Địa chỉ: ấp T, K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, H, tỉnh
Vĩnh Long).
Người đại diện của Kim Thị K, theo văn bản ủy quyền ngày
09/7/2024: Ông Thạch Văn T, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Bà Thạch Thị K1, sinh ngày 01/01/1957 (có mặt).
Căn cước công dân: số ************ cấp ngày 13/4/2021.
2
Địa chỉ: ấp T, K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, H, tỉnh
Vĩnh Long).
Người đại diện của bà Thạch Thị K1, theo văn bản ủy quyền ngày
27/10/2025: Ông Trần Văn D, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: số A, P, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Kim Thị The R, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp V, xã H, tỉnh
Vĩnh Long).
3.2. Bà Kim Thị So P, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp X, xã H, tỉnh
Vĩnh Long).
3.3. Bà Kim Thị L, sinh năm 1948 (vắng mặt).
3.4. Bà Kim Thị Sô P1, sinh năm 1976 (vắng mặt).
3.5. Ông Kim Sâm B, sinh năm 1981 (vắng mặt).
3.6. Ông Kim Sâm B1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, xã H,
tỉnh Vĩnh Long).
3.7. Ông Sơn H, sinh năm 1970 (vắng mặt).
3.8. Ông Trần Sa R1, sinh năm 1985 (vắng mặt).
3.9. Ông Thạch T1, sinh năm 1952 (vắng mặt).
3.10. Bà Sơn Thị Tha Va R2, sinh ngày 20/02/1979 (có mặt).
Căn cước công dân: số ************ cấp ngày 09/8/2021.
Địa chỉ: ấp B, T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp B, L, tỉnh
Vĩnh Long).
Người đại diện của ông Thạch T1, theo văn bản ủy quyền ngày
27/10/2025: Ông Trần Văn D, sinh năm 1961 (có mặt).
3.11. Bà Ngô Thị V, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp C, Đ, tỉnh
Vĩnh Long).
4. Người kháng cáo: Thạch Thị K1 bị đơn ông Thạch T1,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2024; đơn sửa đổi, bổ sung ngày
31/7/2025 của nguyên đơn là bà Kim Thị Sô K và trong quá trình giải quyết v
án, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Cha ruột của bà Kim Thị Sô K là ông Kim S (đã chết năm 1995) có một
phần đất diện tích khoảng 550m
2
hiện nay thuộc một phần của thửa đất số 337,
tờ bản đồ số 5, diện tích chung 1.101m
2
, đất toạ lạc tại ấp T, K, huyện T,
tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, H, tỉnh Vĩnh Long). Phần đất trên vào năm
1983 ông Kim S có đứng tên chủ sử dụng tại thửa 332, diện tích 870m
2
, tờ bản
đồ số 10 và trực tiếp sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Liền kề phần đất của gia đình Kim Thị K phần đất của gia
đình bà Thạch Thị K1 sử dụng một phần diện tích tích khoảng 550m
2
hiện nay
cũng thuộc một phần của thửa 337, tbản đồ số 5. Nguồn gốc của thửa đất
trên của ông sử dụng chung; cụ thể nội của Kim Thị K là
Kim Thị N (đã chết) sử dụng một phần ông Thạch P2 (đã chết) cha của
Thạch Thị K1 sử dụng một phần. Sau khi N ông P2 chết thì phần
thửa đất trên ông Kim S Thạch Thị K1 vẫn tiếp tục sử dụng mỗi người
một phần trong thửa đất đến nay. Tuy nhiên, đến năm 2023 thì gia đình K
mới phát hiện phần đất cha để lại đã được gia đình Thạch Thị K1
khai đăng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khi biết được
sự việc thì K nhiều lần yêu cầu K1 làm thủ tục sang tên lại phần đất
nhưng K1 không đồng ý, do K1 không đồng ý làm thtục sang tên nên
K đã làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã G nhưng hai bên không thống
nhất được với nhau hiện nay toàn bộ phần thửa đất trên (thửa 337) K1
đã chuyển nhượng cho Sơn Thị Tha Va R2 và Sơn Thị Tha Va R2 tiếp
tục chuyển nhượng lại cho Ngô Thị V, bà V đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Nhận thấy, phần đất diện tích khoảng 550m
2
thuộc một
phần của thửa 337 là của ông Kim S sử dụng từ trước năm 1975, sau khi ông S
chết thì gia đình bà K tiếp tục quản lý sử dụng đến nay, nhưng phần đất này lại
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình K1, mặc gia đình
K1 không sử dụng toàn bộ thửa đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho K1 đối với toàn bộ thửa đất (thửa 337) không đúng đối
tượng s dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp cho gia đình K nên
bà K yêu cầu Toà án giải quyết.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Thạch Thị K2 đối
với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.101m² tọa lạc tại ấp T, K,
huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long).
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Thạch
Thị K1Sơn Thị Tha Va R2 đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, diện
tích 1.101m² vô hiệu.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Sơn
Thị Tha Va R2 Ngô Thị V đối với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, diện
tích 1.101m² vô hiệu.
4
- Công nhận phần đất có diện tích 557,4m² thuộc một phần của thửa đất
số 337, tờ bản đồ số 5 cho bà Kim Thị Sô K.
Theo bản tkhai đề ngày 04/6/2024 của bị đơn Thạch Thị K1 trình
bày: Trước năm 1975 cha mẹ của ông Thạch P2 và bà Thạch Thị K2 (đã
chết) trực canh trên thửa đất s337, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.330m
2
, loại
đất LNK toạ lạc tại ấp T, K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, H,
tỉnh nh Long). Sau khi cha của chết thì mẹ của tiếp tục quản sử
dụng trên thửa đất, quá trình canh tác thì mẹ của Thạch Thị K2 được Ủy
ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995,
quá trình canh tác trên dưới 50 năm không ai ngăn cản hay tranh chấp. Sau
khi mẹ của qua đời thì hai người anh của bà đã thống nhất làm thủ tục biến
động thừa kế đcho tiếp tục quản sử dụng đối với phần thửa đất trên
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/8/2012. Sau
khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp tục trực canh đến
năm 2023 (11 năm) cũng không có ai ngăn cản hay tranh chấp. Đến năm 2023
do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, con đông, một mặt muốn tiền để
xây tháp cho mẹ của bà là bà K2 nên đã chuyển nhượng phần thửa đất trên cho
Sơn Thị Tha V1 Ry với giá 580.000.000 đồng, Va R2 đưa trước
374.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào bà Va R2 làm xong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tsẽ giao số tiền còn lại cho bà. Sau khi làm xong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, phía bà Va R2 kêu gia đình bà giải toả hết cây
dầu trên đất để giao đất cho bà V1 Ry sử dụng thì bà Va R2 sẽ giao số tiền còn
lại. Tuy nhiên, ngày 07/01/2024 khi anh của bà là Thạch T1 kêu ông Thạch T2
người mua cây xẻ gỗ để bán, khi ông T2 đến coi cây để mua thì bị ông Sơn
H1 cản trở không cho ông T2 mua nên ông T2 trở về, từ đó hai bên xảy ra
tranh chấp. Nay không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của Kim Thị
K, yêu cầu Toà án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Theo bản tkhai ngày 04/6/2024 của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Thạch T1 trình bày: Cha mẹ ruột của ông ông Thạch P2 Thạch
Thị K2 (đã chết) đlại thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.330m
2
,
loại đất LNK, toạ lạc tại ấp T, K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T,
H, tỉnh nh Long); trên đất cây tre, cây dầu và một số cây tạp khác.
Thửa đất này khi ông chưa lập gia đình thì ông cùng với cha mẹ canh tác từ
trước 30/4/1975. Sau khi cha chết, ông và các em của ông cùng với mtiếp
tục canh tác tiếp tục đến khi ông gia đình ra riêng thì mẹ cùng với em
Thạch Thị K1 tiếp tục canh tác. Đến năm 1995, bà Thạch Thị K2 được UBND
huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, diện tích 1.330m
2
, thuộc
thửa 337, tờ bản đồ số 5, loại đất LNK đất tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh
Trà Vinh. Sau khi mẹ chết, ông cùng em ruột Thạch D1 đồng ý cho
Thạch Thị K1 lập thủ tục hưởng thửa kế đối với phần đất nêu trên, sau đó bà
Thạch Thị K1 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất.
Quá trình gia đình ông canh tác từ trước năm 1975 đến năm 2023 đã trên 50
5
năm không ai ngăn cản hay tranh chấp. Năm 2023, do nhu cầu nhà nước
làm đường lộ nhựa mở rộng ra thì vướng 6, 7 cây dầu của gia đình, Thạch
Thị K1 mới kêu ông Thạch T2 người mua cây, bán được 10.000.000 đồng
cũng không ai tranh chấp. Ông thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của
Thạch Thị K1.
Theo bản tkhai ngày 26/7/2025 của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Sơn Thị Tha Va R2 trình bày: Vào ngày 22/5/2023, nhận chuyển
nhượng 01 thửa đất của Thạch Thị K1, phần đất thuộc thửa số 337, tờ bản
đồ số 5, diện tích 1.330m² (hiện nay còn diện tích 1101,2m
2
do mrộng l
nhựa) tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, H,
tỉnh Vĩnh Long) với giá chuyển nhượng 580.000.000 đồng. Sau khi thỏa
thuận bên K1 đã làm thtục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp lệ. Sau khi được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã thỏa thuận chuyển nhượng
lại phần thửa đất trên cho Ngô Thị V với giá 700.000.000 đồng, V
cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp lệ. Đến nay không biết
do vì sao Kim Thị K lại đứng ra tranh chấp, không đồng ý theo
yêu cầu khởi kiện của Kim Thị K, phần thửa đất này nhận chuyển
nhượng hợp pháp từ bà Thạch Thị K1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NThị V trình bày: Vào năm
2023, thỏa thuận chuyển nhượng 01 thửa đất từ Sơn Thị Tha Va R2,
phần đất phần đất thuộc thửa số 337, tờ bản đồ số 5, diện tích 1101,2m
2
tọa lạc
tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long)
với giá chuyển nhượng 700.000.000 đồng, khi nhận chuyển nhượng thì
giao tiền trước cho bà Va R2 là 200.000.000 đồng và Va R2 đã sang tên
phần thửa đất cho bà đứng tên, nhưng chưa giao đất cho bà sử dụng thì xảy ra
tranh chấp. Liên quan đến phần thửa đất trên thì yêu cầu Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật, liên quan đến số tiền 200.000.000 đồng mà đã
giao cho Va R2 thì để bà Va R2 tgiải quyết với nhau, không yêu
cầu giải quyết trong vụ án này.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn
gồm Kim Thị Phe R3, Kim Thị So P, Kim Thị L, bà Kim ThSô P1,
ông Kim Sâm B, ông Kim Sâm B1, ông Sơn H, ông Trần Sa R1 trình bày: c
ông đều thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Kim Thị
K.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - tỉnh Vĩnh Long đã xử:
Căn cứ khoản 3, 9 Điều 26, Điều 35, 39, khoản 2 Điều 92, 147, 157,
165, 227, 228 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2025); các Điều 117, 123; 130, 131 Bộ luật n sự năm 2015; các
điều 26, 138, 152 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12
6
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị Sô K:
- Tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Thạch Thị K1 với Sơn Thị Tha Va R2 giữa bà Sơn Thị Tha Va R2 với
Ngô Thị V vô hiệu một phần đối với phần đất diện tích 557,4m² thuộc một
phần thửa đất số 337, tờ bản đsố 5, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp
T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long).
- Công nhận phần đất diện tích 557,4m² thuộc một phần thửa đất số 337,
tờ bản đồ số 5, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh
Trà Vinh (nay thuộc ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long) và các loại cây cối trên đất
cho bà Kim Thị Sô K.
- Phần đất có các tứ cận như sau: (có sơ đồ khu đất (phần A) kèm theo)
+ Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 337, kích thước 14 mét;
+ Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 337, kích thước 16,09 mét;
+ Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 337, kích thước 37,97 mét;
+ Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa 337, kích thước 36,29 mét.
Kim Thị Sô K được quyền đến Văn phòng Đ có thẩm quyền đăng ký
điều chỉnh biến động đối với phần diện tích đất nêu trên theo Bản án tuyên.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 13/10/2025, bị đơn Thạch ThK1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Thạch T1 kháng cáo Bản án dân sự thẩm số
47/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13,
tỉnh Vĩnh Long: Yêu cầu hủy án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện
không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của Thạch Thị K1 và ông Thạch T1,
nguyên đơn cung cấp thông tin Thạch Thị C, sinh năm 1961, hiện nay
trú tại KósLa, T, tỉnh Vĩnh Long; bị đơn Thạch ThK1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch T1 người đại diện ông Trần
Văn D vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; Sơn Thi Tha V2 Ry không ý kiến.
Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
7
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 29 Nghị quyết 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng
áp phí và lệ phí Tòa án.
Hủy án sơ thẩm chuyển hồ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí: Do hủy án nên nghĩa vụ chịu án phí sẽ được giải quyết lại tại
cấp sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ được thẩm tra tại
phiên tòa; Trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của
các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo 13/10/2025 của bị đơn là Thạch Thị K1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch T1 còn trong thời hạn theo quy
định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải
quyết vắng mặt theo quy định khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Nguồn gốc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.330m² Thạch
Thị K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/8/2012, bà Kim
Thị So K3 khai trong thửa đất số 337 550m
2
là của cha ông Kim S
đăng ký kê khai sử dụng năm 1983, một phần là của ông Thạch P2 cha của bà
Thạch Thị K1 sử dụng. Cha ông Kim S chết năm 1995 thì tiếp tục sử
dụng, đến năm 2013 thì bà mới phát hiện bà Thạch Thị K1 được cấp quyền sử
dụng nên khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho
K1 và công nhận quyền sử dụng 550m
2
cho bà.
Thửa đất số 337 Thạch Thị K2 khai được cấp quyền sử dụng đất,
K2 chết năm 2000, đến năm 2012 Thạch Thị K1 làm thủ tục nhận thừa
kế thừa đất số 337 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kim
Thị So K3 gần thửa đất tranh. Đến năm 2023, Thạch ThK1 đã chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 337 cho Sơn ThTha Va R2
Sơn Thị Tha Va R2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
23/6/2023. Đến ngày 03/11/2023, Sơn Thị Tha Va R2 chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho Ngô Thị V V đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 24/11/2023, sau đó Kim Thị So K3 mới tranh
chấp.
8
đồ thửa đất tranh chấp của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai
huyện Đ ghi nhận thửa đất số 337, diện tích 1012,7m
2
, trong đó: Giảm
178,4m
2
do chủ sử dụng xác định lại ranh với thửa đất số 336; giảm 35,1m
2
do
chủ sử dụng xác định lại ranh với thửa 2094; giảm 44,6m
2
do chủ sử dụng xác
định lại ranh với thửa 335; giảm 160,2m
2
và 182,9m
2
do cập nhật lại đường
nhựa; tăng 146,9m
2
do tài liệu đo đạc năm 1995 tính sai diện tích. Phần đất
tranh chấp (A) diện ch 557,4m
2
thuộc một phần thửa 337, tờ bản đồ số 5,
theo đo đạc năm 1995; diện tích 272,4m
2
(B), diện tích 35,1m
2
(C), diện tích
178,4m
2
(D), diện tích 44,6m
2
(E), diện tích 182,9m
2
(G) thuộc một phần thửa
337, theo tài liệu đo đạc năm 1995 (không tranh chấp); diện tích 160,2m
2
(F) thuộc một phần thửa 337 (đất giao thông). Do không đồ khu đất
chồng ghép nên không xác định được vị trí tranh chấp nằm vtrí nào trên
thửa đất 332 và 333 tư liệu năm 1983 so với thửa đất số 337, tờ bản đồ số 5, tư
liệu năm 1995. Do cấp thẩm chưa làm để căn cứ giải quyết vụ án
thiếu sót, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
Theo Công văn số 235/CV-CNHTrC ngày 14/02/2024 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cung cấp thông tin: Theo chương trình đất
năm 1995 ông Kim S không đăng khai thửa đất đang tranh chấp,
do Thạch Thị K2 đăng khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Phần diện tích tranh chấp 557,4m² theo tài liệu năm 1995 chỉ
322m² tương ứng với thửa 332 (tài liệu năm 1983, do ông Kim S sử dụng).
Theo Phiếu cung cấp thông tin số 228/PCCTT-CNHTrC ngày
04/5/2024, năm 1983 thửa 332, tờ bản đồ số 10 ghi nhận ông Kim S khai
870m² (loại đất LK) và Thạch Thị C khai 1.480m² (loại đất VT). Đồng
thời, theo Công văn số 235/CV-CNHTrC ngày 14/02/2024 (bút lục 147a),
phần diện tích tranh chấp 557,4m² theo tài liệu năm 1995 chỉ 322m² tương
ứng với thửa 332 (tài liệu năm 1983, do ông Kim S khai), phần còn lại
164m² nằm trong diện tích 272,4m² (phần B theo sơ đồ - các đương sự không
tranh chấp). Cấp thẩm chưa đối chiếu, xác minh đầy đđể xác định chính
xác vị trí, ranh giới phần diện tích thực tế thuộc khu vực ông Kim S đã
khai năm 1983 nhưng cấp sơ thẩm lại công nhận toàn bộ phần diện tích
557,4m² cho nguyên đơn chưa đủ căn cứ. Mặt khác, năm 1983 thửa 332, tờ
bản đồ số 10 ghi nhận ông Kim S khai 870m² (loại đất LK) và Thạch
Thị C khai 1.480m² (loại đất VT). Tại cấp phúc thẩm, người đại diện của
nguyên đơn cung cấp thông tin Thạch Thị C, sinh năm 1961, địa chỉ ấp K,
T, tỉnh Vĩnh Long nhưng cấp thẩm không đưa Thạch Thị C tham gia
tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.
Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/5/2023 thể
hiện Thạch Thị K1 và chồng ông Sơn B2 chuyển nhượng thửa 337 cho
Sơn Thị Tha Va R2; tiếp đó theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày
03/11/2023 thể hiện n Thị Tha Va R2 chồng ông Thạch Pho L1
chuyển nhượng thửa 337 cho bà NThị V. Trong quá trình giải quyết ván,
9
nguyên đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hai hợp đồng chuyển nhượng
nêu trên. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không đưa ông Sơn B2 và ông Thạch Pho L1
vào tham gia tố tụng để lấy ý kiến của các ông đối với 02 hợp đồng trên về
việc hiệu cũng như về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu theo
Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 là vi phạm thủ tục tố tụng. Quá trình giải quyết
vụ án, Sơn Thị Tha Va R2 Ngô Thị V ý kiến không tranh chấp
trong vụ án này nhưng cấp thẩm chỉ lập biên bản đối với Sơn Thị Tha
Va R2 về hậu quả pháp của hợp đồng bị hiệu; chưa lập biên bản giải
thích cho bà Ngô Thị V là hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu là thiếu sót.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy những vi
phạm, thiếu sót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không
thể bổ sung, sửa chữa được để đảm bảo quyền lợi của các đương sự được
hai cấp xét xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự
thẩm, giao hồ về cho Tòa án cấp thẩm xét xử lại theo thủ tục thẩm
đúng quy định của pháp luật.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo, Thạch Thị K1
ông Thạch T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
[5] Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh
Long là có căn cứ được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Hủy án bản dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 13, tỉnh Vĩnh Long xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”, giữa nguyên đơn Kim Thị Sô K với bị đơn Thạch Thị K1.
Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Vĩnh Long
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng tại cấp thẩm tại cấp phúc thẩm
sẽ được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ
chịu án pdân sự thẩm sđược xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ
tục sơ thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
10
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Trang Lê Thành Trung Nguyễn Văn D2
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tại thành phố Hồ Chí Minh: 01;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
- Chánh án: 01;
11
- TAND khu vực 13: 01;
- Phòng THADS khu vực 13: 01;
- Các đương sự;
- Lưu: 06; Nguyễn Văn Dũng
12
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 800/2026/DS-PT Bản án số 800/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 800/2026/DS-PT Bản án số 800/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất