Bản án số 253/2026/DS-PT ngày 24/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 253/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 253/2026/DS-PT ngày 24/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 253/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 253 /2026/DS-PT
Ngày 24/8/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; kiện
đòi quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Như Hiển
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư phiên toà: Lê Khánh Quỳnh Thư Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Thân Mạnh Thắng–
Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17/8/2026 và ngày 24/8/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 130/2026/TLPT-DS
ngày 15 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của
Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 220/2026/QĐ-PT ngày
15/7/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 265/2026/QĐ-PT ngày 30/7/2026 giữa:
Nguyên đơn:
1. Ông Đinh Văn P, sinh năm 1957 (có mặt)
2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Văn P Trần Thị T: Công ty
L1, địa chỉ: Số I, lô B, Ngõ F L, phường V, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền tham gia t tụng: Ông Đào T1, sinh năm
2000; địa chỉ: Số B N, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Văn P và bà Trần Thị T:
Ông Đặng Hồng D, ông Nguyễn Hùng C- Luật sự, Công ty L1, địa chỉ liên hệ: Số B
N, phường V, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
Bị đơn:
1. Bà Thân ThT2, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã C, Đắk Lắk.
2. Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1965 (có mặt)
3. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của Thân Thị T2: Ông Phạm Văn T3, sinh
năm 1965; Nguyễn Thị T4, sinh năm 1962, cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc
Ninh (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Nguyễn Thị T5, ông
Phùng Văn Q Trần Thị Thu H Luật sư, Công ty L2 ( H, ông Q mặt; bà
T5 vắng mặt)
Địa chỉ: Căn hộ A, tòa nhà N*A, KĐT ngoại giao đoàn, phường X, Thành phố
Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã T (vắng mặt)
2. Chủ tịch UBND xã T (vắng mặt)
3. Anh Phạm Văn T6, sinh năm 1991 (có mặt)
4. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1991 (có mặt)
5. Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1995 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự s52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Toà án
nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Theo đơn khởi kiện các tài liệu trong hồ sơ, bản tự khai, các lời khai tại
Toà án nguyên đơn ông Đinh Văn P, Trần Thị T trình bày:
Ngày 11/5/1995 Thân Thị T2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông, phần
diện tích đất 115,5m
2
phần đất ao 495m
2
(theo Quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự số 42 tháng 11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia
Lương, tỉnh Bắc Ninh (cũ) thì phần diện tích đất ao 499m
2
).Việc chuyển nhượng
được lập thành văn bản “Biên bản nhượng đất + ao” xác nhận của ông Ngô
Văn P1 Trưởng thôn Tuần La UBND T ngày 25/9/1995. Phần diện tích đất
tứ cận: Phía Tây giáp đường làng dài 11,5m; Phía Bắc giáp thửa đất chia cho
ông T4 dài 10,5m; phía Đông giáp ao của thôn (ông T4, T2 đấu thầu của thôn đ
3
canh tác, sử dụng khoảng năm 1989); Phía Nam giáp ao nhỏ. Phần diện tích đất ao
499m
2
gồm hai ao: Ao phía Nam giáp đất thổ diện tích 252m
2
(dài 21m, rộng
12m); Ao phía Đông diện tích 247m
2
(dài 19m, rộng 13m). Giá hai bên thỏa thuận là
3.500.000đồng. Ông, đã thanh toán số tiền 3.500.000đồng cho T2. Ngoài ra,
khi nhận chuyển nhượng hai bên thỏa thuận diện tích đất đóng thuế cho nhà nước;
diện tích đất ao đóng cho thôn. Sau khi nhận chuyển nhượng đối với thửa đất gia
đình ông bà chỉ trồng cây trên đất, chưa xây dựng công trình gì trên đất.
Theo hiện trạng phần diện tích đất gia đình ông mua năm 1995 của T2
thì thửa đất ở 115,5m
2
trên bản đồ là một phần thửa đất số 16, diện tích 231m
2
. Thửa
đất này gia đình ông T4, T4 đã tự khai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 2005. Khi UBND huyện cấp cho ông T4, bà T4 đã cấp cả phần diện
tích 115,5m
2
đất gia đình ông mua của T2 năm 1995. Việc địa phương cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T4, bà T4 vợ chồng ông, bà không được
biết, khi địa phương tiến hành đo đạc lại gia đình ông mới biết phần diện tích gia
đình ông mua của T2 thì ông T4 đã khai để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Hiện nay phần diện tích đất này gia đình ông T4 đã xây dựng nhà
trên đất.
Thửa đất ao diện tích 252m
2
hiện nay trên bản đồ thửa số 15, diện tích
154m
2
gia đình ông, đang quản lý, sử dụng trồng cây. Thửa đất ao diện tích
247m
2
hiện nay trên bản đồ là một phần thửa số 77, diện tích 679m
2
gia đình ông, bà
không sử dụng vẫn để không là đất ao.Về nguồn gốc 02 thửa đất ao theo ông bà
được biết trước đây vợ chồng ông T4, bà T2 đấu thầu của thôn để thả cá. Nguồn gốc
là đất ao của tập thể.
Nay ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa vợ chồng
ông, bà với bà Thân Thị T2 là có hiệu lực pháp luật.
-Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 trả lại phần diện tích
115,5m
2
đất ở.
-Hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AD: 384887 vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất H 00807 ngày 30/12/2005 của UBND huyện L đã
cấp cho ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số
55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Ông, bà đã được Thẩm phán giải
thích về quyền nghĩa vụ liên quan đến giải quyết hậu quả của Hợp đồng hiệu
ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu.
Bị đơn bà Thân Thị T2 tại các lời khai trong hồ sơ vụ án trình bày:
kết hôn với ông Phạm Văn T3, sinh năm 1965 thôn T, T, tỉnh Bắc
Ninh vào năm 1988. Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là cháu Phạm
Văn T6, sinh năm 1991 hiện đang với ông T3, T3. Quá trình chung sống vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn nên bà và ông T3 ly hôn năm 1994.
4
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 42 tháng
11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh (cũ) về việc giải
quyết ly hôn giữa bà và ông T3 đã quyết định phân chia tài sản chung giữa bà và ông
T3, chia cho ông T3 mỗi người được quản lý, sử dụng 115,5m
2
đất theo sơ đồ
phân chia kèm theo Quyết định số 42, thửa đất tứ cận như sau: Phía Tây giáp
đường làng dài 11,5m; phía Bắc giáp thửa đất chia cho ông T3 dài 10,5m; phía Đông
giáp ao của thôn (ông T3, T2 đấu thầu của thôn đcanh tác, sử dụng khoảng từ
năm 1989); phía Nam giáp phần diện tích đất ao nhỏ của thôn (ông T3, T2 đấu
thầu của thôn để canh tác, sử dụng khoảng từ năm 1989); ngoài ra được chia
499m
2
đất ao đấu thầu, cụ thể: Ao phía Nam đất thổ diện tích 252m
2
(dài 21m,
rộng 12m); Ao phía Đông, diện tích 247m
2
(dài 19m, rộng 13m).
Nguồn gốc thửa đất do vợ chồng tự khai phá, quản lý, sử dụng. Khi đó chính
quyền địa phương đều biết và không có ý kiến gì.
Do không nhu cầu sử dụng nên ngày 11/5/1995 đã chuyển nhượng cho
ông P, T phần diện tích đất được chia là đất 115,5m
2
và ao đấu thầu được
quyền sử dụng tổng cộng 499m
2
với giá 3.500.000đồng. Khi chuyển nhượng hai bên
đều tự nguyện, xác nhận của thôn chính quyền địa phương. đã nhận đủ số
tiền 3.500.000đồng; bà T, ông P đã nhận phần đất chuyển nhượng.
Khi bà chuyển nhượng đất này cho ông P, bà T thì ông T3 không biết, bà cũng
không nói cho ông T3 biết. Sau khi chuyển nhượng thửa đất này cho ông P, T thì
chuyển vquê tại V, Bắc Giang ở. Đến năm 1996, vào miền N sinh sống làm
ăn hiện đang trú tại Đắk Lắk tđó đến nay giữa hai bên không xảy ra tranh
chấp.
Từ khi ly hôn với ông T3 không liên lạc với ông T3. Quá trình ông T3
làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được chia theo Quyết định
của Tòa án như thế nào bà không biết.
Nay bà T, ông P khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông P, T với bà lập ngày 11/5/1995 hiệu lực pháp luật
đồng ý.
Bị đơn ông Phạm Văn T3, bà Nguyễn Thị T4 trình bày:
Ông T4 kết hôn với Thân Thị T2, sinh năm 1968 V, Bắc Giang vào năm
1988. Vợ chồng có một con chung là Phạm Văn T6, sinh năm 1991. Quá trình chung
sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên ông T4 và bà T2 ly hôn năm 1994.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 42 tháng
11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh (cũ) về việc giải
quyết ly hôn giữa ông T4 T2 đã quyết định phân chia tài sản chung giữa ông
T4 T2, chia cho ông T4 được quản , sử dụng 115,5m
2
đất theo đồ phân
chia kèm theo Quyết định số 94, thửa đất tứ cận như sau: Phía Tây giáp đường
làng dài 11,5m; phía Bắc giáp đất nhà ông Phạm Văn T7 dài 10,5m; phía Đông giáp
5
ao của thôn (ông T4, T2 đấu thầu của thôn để canh tác, sử dụng khoảng từ năm
1989); phía Nam giáp phần đất T2 được chia dài 10,5m. Ngoài ra, ông T4 được
chia 1.032m
2
đất ao đấu thầu (dài 43m, rộng 24m). Khi đó ông T4 và bà T2 có 01 tài
sản chung duy nhất thửa đất diện tích 231m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh.
Nguồn gốc thửa đất do ông T4, T2 tự khai phá, quản lý, sử dụng. Khi đó chính
quyền địa phương đều biết và không có ý kiến gì.
Từ khi ly hôn với T2, ông T4 không liên lạc với T2. Do vậy, ngày
11/5/1995 bà T2 chuyển nhượng phần diện tích đất được chia là 115,5m
2
đất và phần
ao đã đấu thầu được quyền sử dụng 499m
2
với giá 3.500.000đồng cho ông P,
bà T ông T4 không biết.
Sau khi được chia đất phần đất ao theo quyết định giải quyết ly hôn của
Tòa án thì ông T4 quản lý, sử dụng phần diện tích đất đó.
Đến năm 1995, ông T4 kết hôn với bà Nguyễn Thị T4. Sau khi kết hôn T4
về chung sống với ông T4 trên thửa đất này từ đó đến nay. Các bên không tranh
chấp gì. Vợ chồng ông bà sinh được một người con là Phạm Văn C1, sinh năm 1995.
Đến năm 1999 vợ chồng ông bà làm nhà cấp 4 trên phần diện tích đất 115,5m
2
được chia. Đến năm 2005, theo chủ trương của địa phương thì ông bà đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại thửa đất số 16, bản đồ số 55, diện tích
231m
2
tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh).
do được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lớn hơn so với diện tích
115,5m
2
được chia theo Quyết định ly hôn của Tòa án với T2 là do vợ chồng ông
trong quá trình sử dụng thửa đất đã tân lấp về phía sau của thửa đất (tức phía
Đông giáp ao ông T4 đấu thầu, sử dụng chăn nuôi). Diện ch 115,5m
2
đất
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải phần đất của ông P, T
nhận chuyển nhượng của bà T2. Đến năm 2021 thì ông bà làm thêm một nhà trần 01
tầng trên thửa đất này. Hiện trên thửa đất vợ chồng ông các con Phạm Văn
T6, sinh năm 1991, con dâu Phan Thị H2, sinh năm 1991 và con Phạm Văn C1, sinh
năm 1995 các cháu Phạm Văn Tuấn H3, sinh năm 2014; cháu Phạm Thị Thùy
D1, sinh năm 2016; cháu Phạm Thùy C2, sinh năm 2023.
Ông bà xác định toàn bộ thửa đất, nhà trên đất và các tài sản khác trên đất đều
vợ chồng ông bà. Các con các cháu không công sức đóng góp gì, không
liên quan gì trong vụ án này.
Gia đình ông bà vẫn sử dụng ổn định trên thửa đất này, không lấn sang đất n
ông P, T đã nhận chuyển nhượng tT2. Ông vẫn sử dụng đúng phần diện
tích của ông bà được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, T yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, T với T2 ngày 11/5/1995
hiệu lực pháp luật ông bà đồng ý.
6
Đối với yêu cầu buộc vợ chồng ông trả diện tích 115m
2
đất (diện tích thực
tế T2 được chia 115,5m
2
) thì ông không đồng ý. do hiện trạng các thửa đất
vẫn còn nguyên, không ai lấn sang đất của ai. Hiện trạng vẫn như thời điểm ông T4
được chia theo Quyết định ly hôn giữa ông T4 T2; thực tế ông P, T đã san
lấp, xây tường bao quanh thửa đất đã nhận chuyển nhượng của phía T2 từ năm
1995.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 384887 vào
sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 00807 ngày 30/12/2005 của Ủy ban nhân
dân huyện L đã cấp cho ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số
16, tờ bản đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh ông không
đồng ý vì ông bà đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất trên đúng theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T6, sinh m 1991 trình bày: Anh con ông Phạm Văn T3,
Thân Thị Tuyết . Hiện nay anh đang cùng ông T3, T3. Quá trình làm việc
anh đồng ý với ý kiến trình bày của ông T3, bà T3 và bà T2.
Hiện nay anh vợ chị Phan Thị H2 các con đang sinh sống cùng ông
T3, T3 trên thửa đất số 16, tờ bản bản đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, T,
tỉnh Bắc Ninh.
Anh xác định anh vanh không công sức đóng góp vào khối tài sản
nhà, đất các tài sản khác của bmẹ anh thửa đất trên nên không liên quan
trong vụ án này, anh từ chối tham gia tố tụng. Các con anh còn nhỏ cũng không
công sức đóng góp gì.
Chị Phan Thị H2 trình bày: Chị là vợ của anh Phạm Văn T6 và là con dâu của
ông T3, T3. Hiện nay vợ chồng chị các con đang sinh sống cùng với ông T3,
T3 trên thửa đất số 16, tờ bản bản đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh
Bắc Ninh. Quá trình làm việc chị đồng ý với ý kiến của anh T6, ông T3, bà T3
T2.
Chị kết hôn với anh T6 về làm dâu nhà ông T3, T3 từ năm 2012 nên chị
xác định không có công sức, đóng góp gì vào khối tài sản nhà đất của ông T3, T3
trên thửa đất số 16, tờ bản bản đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc
Ninh. Do vậy, chị xác định chị không liên quan trong vụ án này, chị tchối tham
gia tố tụng. Các con chị còn nhỏ cũng không có công sức đóng góp gì.
Anh Phạm Văn C1 trình bày: Anh con ông Phạm Văn T3, Thân Thị
Tuyết . Hiện nay anh đang cùng ông T3, T3 trên thửa đất số 16, tờ bản bản đồ
số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình làm việc anh đồng
ý với ý kiến trình bày của ông T3, bà T3 và bà T2.
7
Anh xác định anh không có công sức đóng góp vào khối tài sản nhà, đất
các tài sản khác của bố manh thửa đất trên. Do vậy, anh xác định anh không liên
quan gì trong vụ án này, anh xin từ chối tham gia tố tụng.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân T do ông Nguyễn Thế Đ người đại diện theo
ủy quyền trình bày:
Theo hồ lưu trữ, năm 2005 UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng thửa đất số 16, TBĐ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc
Ninh cho ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4. Hồ sơ lưu trữ thể hiện đơn xin đăng
có chữ ký của ông Phạm Văn T3, UBND xã. Hồ được cấp công khai theo diện
tập trung tại UBND xã T. Căn cứ Luật đất đai năm 1993 các văn bản hướng dẫn
thi hành UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông
Phạm Văn T3 là đúng quy định pháp luật thời điểm cấp giấy.
Ủy ban nhân dân T do ông Nguyễn Thế Đ người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Theo Bản đồ năm 2002 thể hiện: Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích
679m
2
một phần thửa đất số 32, tờ bản đồ số 55, diện tích 1.167m
2
là đất ao
một phần thửa số 17, diện tích 144m
2
chủ sử dụng mang tên ông Vũ Văn L.
Thửa 31, tờ bản đồ số 55, diện tích 293m
2
đất ao. Theo hồ k thuật thửa
đất năm 2002 thì người sử dụng mang tên ông Đinh Văn P.
Năm 2002 không có sổ mục kê.
Theo bản đồ năm 2017 thể hiện: Thửa đất số 77, tờ bản đồ số 55, diện tích
679m
2
là nuôi trồng thủy sản; theo sổ mục kê năm 2017 chủ sử dụng là Ủy ban nhân
dân xã.Thửa 31, tờ bản đồ số 55, diện tích 293m
2
đất nuôi trồng thủy sản;theo sổ
mục kê năm 2017: Chủ sử dụng là ông Đinh Văn P.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:
1. Thửa đất số 16, TBĐ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh
tứ cận:Phía Bắc giáp lối đi đất nhà ông T7 dài 20,20m; phía Nam giáp đất T,
ông Phan D2 13,99m; Phía Đông giáp ao dài gồm các đoạn 2:3 dài 1,45m, đoạn 3:4
dài 4,69m, đoạn 4:5 dài 9,72m; phía Tây giáp đường dài 14,85m.
Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 mái lợp tôn xây dựng năm 1999; 01 mái lợp tôn
xây dựng năm 2011; 01 nhà một tầng, lán lợp tôn xây dựng năm 2023.
2. Thửa đất số 15, TBĐ số 55, diện tích 154m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh
tứ cận:Phía Bắc giáp đất nông T3, T3 dài 13,99m; phía Nam giáp đất T,
ông Phan D2 14,35m; Phía Đông giáp ao dài 10,97m; phía Tây giáp đường dài
10,58m.
Tài sản trên đất: 02 bức tường bao xây dựng năm 1995 do bà T xây dựng (bức
tường phía Bắc là ranh giới tranh chấp).
Kết quả định giá:
8
1. Giá trị quyền sử dụng thửa đất số 16, TBĐ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn
T, T, tỉnh Bắc Ninh theo giá chuyển nhượng thực tế tại thời điểm định giá
14.000.000đ/m
2
x 231m
2
= 3.234.000.000đồng.
-01 nhà một tầng + lán tôn (sàn đổ bê tông kiên cố) xây dựng năm 2023 là nhà
cấp IV loại I có giá 4.627.000đ/m
2
x 97% x 67,2m
2
= 301.606.000đồng.
-01 nhà cấp bốn mái lợp tôn xây dựng năm 1999 (là nhà cấp IV loại 7) giá
2.978.000đ/m
2
x 15% x 51,9m
2
= 23.183.700đồng.
-01 nhà bếp lợp priboximang làm năm 1999; lán tôn làm năm 2011 đã hết
khấu hao nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá.
2. Giá trị quyền sử dụng thửa đất số 15, TBĐ số 55, diện tích 154m
2
tại thôn
T, T, tỉnh Bắc Ninh đất trông cây lâu năm nên giá 90.000đ/m
2
x 154m
2
=
13.860.000đồng.
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự s52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147,
Điều 157, Điều 165, Điều 264, Điều 266, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
2015.
Căn cứ Điều 131, Điều 691, 693, 707, 708 Bộ luật dân sự 1995.
Căn cứ Điều 166, Điều 175, điểm b khoản 1 Điều 688; khoản 2 Điều 129 Bộ
luật dân sự 2015.
Căn cứ Điều 30 Luật đất đai năm 1993; Điều 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Biểu b.1 tiểu mục b, mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn P,
Trần Thị T vyêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
11/5/1995.
1.1. Công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông
Đinh Văn P, Trần Thị T với Thân Thị T2 đối với phần diện tích đất 115,5m
2
(nay là thửa đất số 15, tờ bản đồ 55, diện tích 154m
2
tại thôn T, xã T Bắc Ninh.
Ông Đinh Văn P, Trần Thị T quyền liên hệ với quan Nhà nước
thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
1.2 Tuyên bố Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông
Đinh Văn P, Trần Thị T với Thân Thị T2 đối với phần diện tích đất 499m
2
(nay thửa đất số 31, tờ bản đồ 55, diện tích 293m
2
và một phần thửa đất số 77, tờ
bản đồ số 679m
2
) tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T yêu
cầu buộc vợ chồng ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 trả lại phần diện tích
9
115,5m
2
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD: 384887 vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất H 00807 ngày 30/12/2005 của UBND huyện L
cấp cho ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số
55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
3. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí thẩm định, định giá là 17.000.000đồng. Do
yêu cầu khởi kiện của ông P, T không được chấp nhận nên ông P, bà T phải chịu
toàn bộ chi phí thẩm định, định giá. Xác nhận ông P, T đã nộp số tiền
17.000.000đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo cho các
đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 07/5/2026, nguyên đơn ông Đinh Văn P, Trần Thị T nộp đơn kháng
cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị sửa bản án thẩm số 52/2026/DS-ST ngày
28/4/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9- Bắc Ninh theo hướng: Công nhận đúng
nguồn gốc, vị trí, diện tích loại đất gia đình đã nhận chuyển nhượng sử dụng
ổn định thực tế từ năm 1995 đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17/8/2026:
Nguyên đơn – ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T thống nhất trình bày: Thửa đất s
15 tờ bản đồ 55 diện tích 154m
2
vợ chồng ông bà đang sử dụng chính là diện tích đất
115,5m
2
ông nhận chuyển nhượng của T2 từ năm 1995. Diện tích
115,5m
2
ông nhận chuyển nhượng của T2 đất nhưng trên bản đồ năm
2002, năm 2017 lại ghi là đất vườn, đất trồng cây. Do gia đình ông T4 được cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện tích 231m
2
đất nên ông lầm tưởng
gia đình ông T4 đã được cấp hết hạn mức đất ở bao gồm cả phần đất của gia đình bà
mua của bà T2 nên bà khởi kiện yêu cầu ông T4 trả 115,5m
2
đất. Mục đích vợ chồng
khởi kiện đề nghị công nhận diện tích 115,5m
2
nhận chuyển nhượng của T2
theo biên bản chuyển nhượng đất ngày 11/5/1995 đất ở, không phải đòi vợ chồng
ông T4 trả 115,5m
2
đất. Do vậy, đến nay ông xác định chỉ yêu cầu khởi kiện đề
nghị công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông với
Thân Thị T2 đối với phần diện tích 115,5m
2
(nay thửa đất số 15, tờ bản đồ 55,
diện tích 154m
2
) tại thôn T, T, Bắc Ninh đất ở. Ông không ý kiến gì về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T4 đồng thời xin rút
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo về việc:
-Công nhận hiệu lực của Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995
giữa ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T với Thân Thị T2 đối với phần diện tích đất
ao 499m
2
(nay là thửa đất số 31, tờ bản đồ 55, diện tích 293m
2
một phần thửa đất
số 77, tờ bản đồ số 55 số 679m
2
) tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
-Buộc ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 trả lại phần diện tích 115,5m
2
đất
ở thuộc thửa 16 tờ bản đồ 55, địa chỉ thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
10
Bị đơn – ông Phạm Văn T3, bà Nguyễn Thị T4 thống nhất trình bày: Việc bà T2
chuyển nhượng 115,5m
2
đất cho ông P, bà T thật, vợ chồng ông Phan bà T8
hiện vẫn đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất này. Sau khi nhận chuyển nhượng
đất ông P, T8 đã xây tường gạch ngăn giữa phần đất nhà ông bà với phần đất
nhận chuyển nhượng của T2, hiện tường gạch vẫn còn. Ông không lấn chiếm
diện tích đất nào của ông P, T8. Ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất phân chia khi ông T4 ly hôn với bà T2, diện tích được
cấp đất ở, do diện tích đất tăng do ông được ông T7 (là em) cho một phần
đất giáp ranh với nhà ông T7. Việc ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
231m
2
đất ở không ảnh hưởng gì đến diện tích đất ông P, T8 mua của bà T2. Ông
bà đồng ý với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông P,bà T2.
Người quyền lợi nghĩa vliên qua anh Phạm Văn T6, chPhạm Thị H1,
anh Phạm Văn C1 nhất trí với ý kiến trình bày của ông T4, bà T4.
Hội đồng xét xtạm ngừng phiên tòa để xác minh thu thập bổ sung tài liệu
chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã T, kết quả Ủy ban nhân dân xã T cung cấp như sau:
Theo bản đồ năm 2002 thửa đất số 15 diện tích 154m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc
Ninh là đất vườn. Theo bản đồ năm 2017 thửa đất trên đất trồng cây. Việc xác
định đất vườn, đất trồng cây do quá trình đo đạc không công trình trên đất nên
đơn vị đo đạc xác định là đất vườn, đất trồng cây. Theo quy hoạch sử dụng đất thì
thửa đất số 15 diện tích 154m
2
không vi phạm quy hoạch sử dụng đất, không thuộc
trường hợp bị thu hồi đất để thực hiện dự án nào. Phần diện tích đất của ông Đinh
Văn P và Trần Thị T nhận chuyển nhượng của Thân Thị Tuyết N thửa 15
diện tích 154m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh đủ điều kiện được xem xét cấp giấy
chứng nhận đất ở theo quy hoạch chung xây dựng xã T.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/8/2026:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên qua vẫn giữ nguyên quan
điểm, ý kiến đã trình bày tại phiên tòa ngày 17/8/2026.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án thẩm: Công nhận
Biên bản chuyển nhượng đất+ ao ngày 11/5/1995 giữa ông P, bà T với bà T2 đối với
115,5m
2
đất hiệu lực; đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu về việc: Đề nghị
công nhận biên bản chuyển nhượng đất+ ao ngày 11/5/1995 giữa ông P, T với
T2 có hiệu lực đối với diện tích 499m
2
đất ao; buộc ông T4T4 trả 115,5m
2
đất.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Hàn tàn nhất trí với
căn cứ, nhận định,d dánh giá của bản án thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều
kiện thuận lợi nhất để nguyên đơn hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa 15 diện tích 154m
2
là đất ở.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
11
- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp
phúc thẩm: Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng các
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng
mặt tại phiên tòa chấp hành nội quy phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ
của mình khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết ván: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố
tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T, sửa một phần
bản án dân sự thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 9- Bắc Ninh:
+Chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn P, bà Trần
Thị T: Công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông Đinh
Văn P, Trần Thị T với Thân Thị T2 đối với diện tích đất 115,5m
2
(nay
thửa đất số 15, tờ bản đồ 55, diện tích 154m2) tại thôn T, xã T Bắc Ninh hiệu lực
pháp luật.
Ông Đinh Văn P, Trần Thị T quyền liên hệ với quan Nhà nước
thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất s15, tờ
bản đồ 55, diện tích 154m
2
theo quy định pháp luật.
+ Áp dụng Điều 299, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy
một phần bản án dân sự sơ thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 9- Bắc Ninh và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn
P, bà Trần Thị T về việc: Công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày
11/5/1995 giữa ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T với bà Thân Thị T2 đối với phần
diện tích đất ao 499m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh hiệu; buộc ông Phạm Văn
T3, Nguyễn Thị T4 trả lại phần diện tích 115,5m
2
hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AD: 384887 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H
00807 ngày 30/12/2005 của UBND huyện L cấp cho ông Phạm Văn T3
Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T,
xã T, tỉnh Bắc Ninh.
-Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đình Văn P2, bà Trần Thị T không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn (bà Thân Thị T2), một số người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt hoặc người
đại diện tham gia. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vụ án.
12
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc đề nghị công nhận “Biên bản chuyển
nhượng đất +ao ngày 11/5/1995” đối với 115,5m
2
đất ở có hiệu lực, Hội đồng xét xử
thấy:
[2.1] Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 42 - tháng
11 năm 1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh (cũ) đã quyết
định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Phạm Văn T3 với Thân Thị T2 về tài sản
như sau: Hai bên thỏa thuận chia đôi mỗi bên được sử dụng một nửa đất thỏa
thuận đấu thầu ao chia theo đồ”. Qúa trình giải quyết vụ án, T2, ông T3 đều
trình bày phần diện tích đất chia cho Thân Thị T2 là 115,5m
2
thể hiện trên đồ
kèm theo Quyết định ng nhận sự thỏa thuận số 42 tháng 11/1994 tứ cận: Phía
Tây giáp đường làng dài 11,5m; Phía Bắc giáp thửa đất chia cho ông T3 dài 10,5m;
phía Đông giáp ao của thôn; Phía Nam giáp ao nhỏ; phần diện tích chia cho ông T3
115,5m
2
tứ cận tiếp giáp: Phía Tây giáp đường làng dài 11,5m; phía Bắc giáp
đất nhà ông Phạm Văn T7 dài 10,5m; phía Đông giáp ao của thôn; phía Nam giáp
phần đất T2 được chia dài 10,5m. Theo kết quả xem xét thẩm định thì phần đất
chia cho bà T2 nay là thửa đất số 15, diện tích 154m
2
; phần đất chia cho ông T3 nay
là thửa đất số 16 tờ bản đồ 55 diện tích 231m
2
.
[2.2] Ngày 11/5/1995 Thân Thị T2 chuyển nhượng cho ông Đinh Văn P
Trần Thị T diện tích đất 115,5m
2
phần đất ao 499m
2
với giá 3.500.000
đồng. Tại thời điểm chuyển nhượng 115,5m
2
đất T2 chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T2 được chia đất theo Quyết định số 42 tháng
11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh (cũ) nên T2
quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất này theo quy định pháp luật. Theo hướng
dẫn tại điểm b.1 tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định “b.1)
Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được
hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã một trong các loại giấy
tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất
đai năm 2003, phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới yêu cầu
Toà án giải quyết, thì không coi hợp đồng hiệu do vi phạm điều kiện này”.
Quyết định số 42 tháng 11/1994 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lương nội dung
chia đất cho T2, ông T3 được coi một trong các giấy tờ vquyền sử dụng đất
quy định tại Điều 50 Luật đất đai 2003.
[2.3] Việc chuyển nhượng đất giữa T2 với ông P, T được lập thành văn
bản (Biên bản nhượng đất + ao bút lục 19, bút lục 21), xác nhận của Trưởng
thôn Tuần La ngày 11/5/1995 UBND xã T ngày 25/9/1995 đảm bảo quy định
về hình thức của hợp đồng theo quy định tại Điều 691, Điều 707 Bộ luật dân sự
1995. Theo nội dung tại Biên bản nhượng đất + ao” ngày 11/5/1995, sự thừa nhận
13
của các đương sự thì ông P, bà T đã trả đủ tiền cho bà T2, bà T2 đã bàn giao đất cho
ông P, bà T sử dụng từ năm 1995 đến nay; giữa bà T2, ông P, bà T, ông T3 không có
việc tranh chấp về diện tích đất này.
[2.4] Qúa trình giải quyết tại phiên tòa,ông T3, bà T2 đều trình bày diện tích
231m
2
đất tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh ông T3, T2 phân chia theo Quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 42 tháng 11/1994 của Tòa án nhân dân
huyện Gia Lương đất ở; phần diện tích đất chia cho ông T3 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2005. Việc ông T3 được cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất đối với 231m
2
đất không ảnh hưởng đến quyền sử dụng
diện tích 115,5m
2
đất ông P, T nhận chuyển nhượng của T2. Theo tài liệu thu
thập được trong hồ sơ giải quyết việc ly hôn giữa ông Phạm Văn T3 với bà Thân Thị
T2 Biên bản ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sthuận tình ly hôn ngày
07/11/1994 (do Tòa án nhân dân huyện Gia Lương lập- bút lục 81); Biên bản giải
quyết đất thổ ngày 07/11/1994 giữa Tòa án, Viện kiểm sát, UBND xã, Trưởng
thôn và Bí thư chi bộ thôn (bút lục 83) đều ghi nhận diện tích 115,5m
2
tại thôn T, xã
T, tỉnh Bắc Ninh ông T3, T2 thỏa thuận phân chia đất (đất thổ cư); trên diện
tích 115,5m
2
đất T2 được chia nhà . Tại Biên bản nhượng đất + ao” ngày
11/5/1995 ghi nhận nội dung T2 chuyển nhượng cho ông P, T điện tích
115,5m
2
đất ở. Ủy ban nhân dân T chứng nhận T2 chuyển nhượng quyền sử
dụng diện tích đất đất ao theo Biên bản nhượng đất + ao” ngày 11/5/1995 là
đúng (bút lục 20,21). Do vậy, căn cứ xác định 115,5m
2
đất T2 chuyển nhượng
cho ông P, bà T theo “Biên bản nhượng đất +ao” ngày 11/5/1995 là đất ở.
[2.6] Theo cung cấp của Ủy ban nhân dân T thì phần diện tích đấtcủa ông
Đinh Văn P Trần Thị T nhận chuyển nhượng của bà Thân Thị Tuyết N thửa
15 diện tích 154m
2
tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh không vi phạm quy hoạch sử
dụng đất, không thuộc trường hợp bị thu hồi đất để thực hiện dự án nào,đủ điều kiện
được xem xét cấp giấy chứng nhận đất theo quy hoạch chung xây dựng T. Do
vậy, ông P, T quyền đề nghị quan nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng 154m
2
đất thuộc thửa 15 tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh đất
ở.
[2.7] Từ những căn cứ phân tích nêu trên thấy yêu cầu khởi kiện của ông P,
T đề nghị công nhận “Biên bản chuyển nhượng đất +ao” ngày 11/5/1995 đối với
115,5m
2
đất (nay thửa 15 diện tích 154m
2
) tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh giữa
Thân Thị T2 với ông Đinh Văn P, Trần Thị T hiệu lực sở, được
chấp nhận. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự cần chấp nhận
kháng cáo của ông P, T, sửa bản án dân sthẩm. Việc sửa bản án thẩm
do tại cấp phúc thẩm có tình tiết mới.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm,nguyên đơn xin rút các yêu cầu khởi kiện, xin rút
kháng cáo về việc: Công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995
14
giữa ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T và Thân Thị T2 đối với diện tích đất ao
499m
2
(nay là thửa đất số 31, tờ bản đồ 55, diện tích 293m
2
một phần thửa đất số
77, tờ bản đồ 55, diện tích 679m
2
) tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh hiệu lực; buộc
ông Phạm Văn T3, bà Nguyễn Thị T4 trả lại diện tích 115,5m
2
đất ở thuộc thửa 16 tờ
bản đồ 55, địa chỉ thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh. Xét thấy, việc nguyên đơn rút một
phần yêu cẩu khởi kiện, rút một phần kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện; bị đơn đồng
ý với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử
căn cứ Điều 299, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy một phần
bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này.
[4] Việc Tòa án thẩm xác định yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp cho ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số 16, tờ bản
đồ số 55, diện tích 231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh (yêu cầu hủy quyết định
biệt) một loại yêu cầu khởi kiện vụ án dân s tuyên không chấp nhận yêu cầu
này của đương sự không đúng theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần rút kinh
nghiệm.
[5] Về án pdân sự thẩm: Thân Thị T2 phải chịu 300.000đồng án phí
dân sự sơ thẩm. Ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T không phải chịu án pdân sự
thẩm.
[6] Về án pdân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Đinh
Văn P, Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều
148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết các quyết định khác không
có kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng
cáo của ông Đinh Văn P, Trần Thị T, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số
52/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 9- Bắc Ninh.
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147,
Điều 148, Điều 157, Điều 165, Điều 264, Điều 266, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015.
Căn cứ Điều 131, Điều 691, Điều 693, Điều 707, Điều 708 Bộ luật dân sự
1995; Điều 166, Điều 175, điểm b khoản 1 Điều 688, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân
sự 2015.
Căn cứ Điều 30 Luật đất đai năm 1993; Điều 202, 203 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản ly sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
15
1.1.Chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn P,
Trần Thị T: Công nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông
Đinh Văn P, Trần Thị T với bà Thân Thị T2 đối với diện tích đất 115,5m
2
(nay
thửa đất số 15, tờ bản đồ 55, diện tích 154m
2
) tại thôn T, T, tỉnh Bắc Ninh
hiệu lực pháp luật.
Ông Đinh Văn P, Trần Thị T quyền liên hệ với quan Nhà nước
thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 15, tờ
bản đồ 55, diện tích 154m
2
theo quy định pháp luật.
2. Căn cứ Điều 299, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân s: Hủy
một phần bản án dân sự sơ thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 9- Bắc Ninh và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn
P, bà Trần Thị T về việc:
- ng nhận Biên bản chuyển nhượng đất + ao ngày 11/5/1995 giữa ông Đinh
Văn P, bà Trần Thị T với bà Thân Thị T2 đối với phần diện tích đất ao 499m
2
(nay là
thửa đất số 31, tờ bản đồ 55, diện tích 293m
2
và một phần thửa đất số 77, tờ bản đồ
55, diện tích 679m
2
) tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh vô hiệu.
- Buộc ông Phạm Văn T3, Nguyễn Thị T4 trả lại phần diện tích 115,5m
2
và
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD: 384887 vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất H 00807 ngày 30/12/2005 của UBND huyện L cấp cho ông
Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 55, diện tích
231m
2
tại thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Đinh Văn P, Trần Thị T phải chịu toàn bộ chi phí
thẩm định, định giá là 17.000.000đồng. Xác nhận ông P, bà T đã nộp số tiền
17.000.000đồng tại Tòa án cấp sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thân Thị T2 phải chịu 300.000đồng án phí dân
sự sơ thẩm. Ông Đinh Văn P, bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đình Văn P2, Trần Thị T không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự. /.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc ninh;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh;
16
-Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng Thi hành án Khu vực 9 – Bắc Ninh;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP
Triệu Thị Luyện
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Đặng Văn Quyết Nguyễn Thị Hương Giang
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Triệu Thị Luyện
17
18
19
20
21
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất