Bản án số 1084/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1084/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1084/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1084/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị B - Lê Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1084/2026/DS-PT Bản án số 1084/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1084/2026/DS-PT Bản án số 1084/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 1084/2026/DS-PT
Ngày: 25-8-2026
V/v Tranh quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng;
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Ngọc Ánh Thẩm tra viên Tòa án
nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 452/2026/TLPT-DS
ngày 08 tháng 8 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 486/2026/QĐ-PT ngày
29 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị B, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ 01, ấp P1, D,
tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo u quyền: Ông Ngô Minh T, sinh năm 1982; địa chỉ:
Số 60/24, đường Trần Mai Ninh, Khu phố 30, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh,
theo Giấy uỷ quyền ngày 20/3/2026, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Nguyễn Quốc nh
Luật sư Lê Đình An, cùng Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ 01, ấp P, , tỉnh Tây
Ninh) (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1985; địa
chỉ: Số 06, đường Suối Đá Khe Dol, ấp P1, D, tỉnh Tây Ninh, theo Hợp đồng
ủy quyền ngày 23-11-2024, có mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ 01, ấp ấp P, , tỉnh Tây
Ninh, có mặt.
Người đại diện theo u quyền: Ông Ngô Minh T, sinh năm 1982; địa chỉ:
Số 60/24, đường Trần Mai Ninh, Khu phố 30, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh,
theo Giấy uỷ quyền ngày 20/3/2026, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Nguyễn Quốc B Luật
sư Lê Đình A, cùng Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ trụ
sở: Số 02 Láng Hạ, phường G, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Văn Đ Chức vụ: Phó Giám đốc
chi nhánh D Tây Ninh, theo Văn bản ủy quyền ngày 16-3-2026, có mặt.
3. Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo uỷ quyền:
Nguyễn Thị L Chức vụ: Trưởng phòng Thi hành án dân skhu vực 11, đơn
xin vắng mặt.
- Người kháng o: Nguyên đơn bà Lê Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn
Thị B trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ ruột cho bà, sau đó bà bán cho
nhiều người gồm: T, ông H, ông N. bán đất cho ông Nhỏ phần đất bà cất
nhà ở có nguồn gốc mua lại của anh ruột thứ 2 tên Lê Văn Đ, sau đó bà bán lại cho
ông N thì vợ chồng bà không ở tại đây nữa. giao giấy đất cho ông N làm thủ tục
sang tên, sau khi tách thửa sang tên còn lại một phần đất hiện đang tranh chấp thì
ông N mới gửi giấy đất này cho H giữ, do H em ruột của bà. Cách nay
khoảng 3 4 năm thì H yêu cầu vào Văn phòng đăng đất đai tên để
cho H tách đất chia cho các con, khi đến nơi thì cán bộ hỏi cho đất H
không, bán đất cho H không tnói không có, vậy không tên
Văn phòng đăng trả lại giấy đất này cho bà. Hế thưa đến Ủy ban nhân
dân xã, sau đó hòa giải không thành thì H cũng không khởi kiện. Sau khi hòa
giải không thành thì bà H rào đất, bà được báo lại thì chồng bà có báo địa chính xã
mới ngăn cản lại việc rào đất của H. Diện tích 596m
2
thửa 228 tờ bản đồ 13 tọa
lạc tại P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay D, tỉnh Tây Ninh), Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do chồng ông Huỳnh Văn T đứng tên do Ủy
ban nhân dân Huyện D cấp ngày 13-5-2009, kêu bán đất thì H ngăn cản, nói
đất tranh chấp. Nay yêu cầu Hết trả lại cho bà quyền sử dụng đất diện tích
596m
2
thửa 228 tờ bản đồ 13, đo đạc thực tế là 568,4m
2
thuộc thửa 50 tờ bản đồ 84
tọa lạc tại ấp P1, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay là xã D, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị H, anh Nguyễn Hoàng
L trình bày:
3
Bà B và bà H chị em ruột. Về nguồn gốc đất tranh chấp anh thừa nhận là
do cha mẹ tặng cho bà B và bà H mỗi người một phần. Khi bà B bán đất cho ông N
thì do hiện trạng đất không vuông vứt, do đó B H mới thỏa thuận với
nhau, H đổi cho B mt phần đất để bà B bán cho ông N cho vuông vứt,
Bảnh đổi lại cho H phần đất hiện nay đang tranh chấp cho H quản sử
dụng, việc thỏa thuận giữa 02 bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau, còn việc bán đất
cho ông N thì B người bán và nhận tiền. Ông N biết việc B H thỏa
thuận trao đổi đất với nhau vì vậy ông N mới giao giấy đất còn lại của bà Bảnh cho
bà H giữ, không phải gửi cho bà H để bà H giữ giùm cho bà B. Phần đất tranh chấp
H quản sử dụng từ năm 2004 cho đến nay, H cất nhà cho con trai của
H sử dụng tnăm 2009, đến năm 2012 2013 khi lấy vợ thì con H mới dở
nhà đi nơi khác sống, H cũng trồng các bụi thanh long trên đất này đến nay
khoảng 14 15 năm. Trước thời điểm H khởi kiện ra UBND thì Hết cắm
trụ xi măng kéo hàng rào B40 nhưng B ngăn cản nên mới xảy ra tranh chấp,
H mới khởi kiện ra xã yêu cầu xã giải quyết. Năm 2021, B H đã thỏa
thuận thống nhất với nhau về việc B tên sang tên đất cho H, khi đến Văn
phòng đăng ký đất đai thì B thay đổi ý, không chịu sang tên cho H vậy
mới xảy ra tranh chấp cho đến nay. Phần đất B bán cho ông N thì ông N vẫn
đang quản sử dụng cho đến nay. Nay Hết không đồng ý theo yêu cầu khởi
kiện của B. H yêu cầu công nhận cho H diện tích 596m
2
thửa 228 tờ bản
đồ 13, đo đạc thực tế 568,4m
2
thuộc thửa 50 tờ bản đồ 84 tọa lạc tại ấp Phước
Tân 1, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay là xã D, tỉnh Tây Ninh.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Huỳnh Văn T1 trình bày: Ông
thống nhất lời trình bày của B. Ông trình bày bsung thêm, khi H đã khởi
kiện đến hòa giải không thành thì H mới làm hàng rào, sau đó ông báo địa
chính xã ngăn cản thì bà H mới không kéo hàng rào B40 được nhưng hiện trạng trụ
xi măng H cắm vẫn còn. Nay ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của B,
yêu cầu bà H trả lại cho ông bà quyền sử dụng đất diện tích 596m
2
thửa 228 tờ bản
đồ 13, đo đạc thực tế là 568,4m
2
thuộc thửa 50 tờ bản đồ 84 tọa lạc tại ấp P1, xã P,
Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh Tây Ninh).
Đại diện theo uquyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh trình bày: Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11
tỉnh Tây Ninh đang thụ vụ việc thi hành án của ông Huỳnh Văn T1, sinh năm
1953 và bà Lê Thị B, sinh năm 1957 theo Quyết định số 110/2025/QĐST-DS ngày
03-6-2025 của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh, nay Tòa án nhân dân
khu vực 11 Tây Ninh, Quyết định thi hành án số 3010/QĐ-THADS ngày 22-8-
2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Hiện nay vụ việc trên đang được t
chức thi hành án, ông T1 B chưa thi hành xong nghĩa vthi hành án. Trong
quá trình tổ chức thi hành án, Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết
định số 131/QĐ-THADS ngày 30-12-2025 vviệc tạm dừng việc đăng ký, chuyển
quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản; Quyết định số 75/QĐ-THADS
ngày 11-02-2026 về việc cưỡng chế biên, xử tài sản đối với quyền sử dụng
đất thửa số 228 tbản đồ 13 diện tích 596m
2
, đất tọa lạc tại P, Huyện D, tỉnh
4
Tây Ninh (nay D, tỉnh Tây Ninh). Thi hành án dân stỉnh Tây Ninh đề nghị
Toà án căn cứ vào tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam trình bày: Theo Hợp
đồng tín dụng số 5702-LAV-202302343 ngày 24-4-2023 giữa Agribank Chi
nhánh D Tây Ninh với ông Huỳnh Văn T1 và bà Lê Thị B. Hạn mức tín dụng được
phê duyệt 150.000.000 đồng. Ngày 24-4-2023 ông T1 B giấy nhận nợ
số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng. Khi vay ông T1, B giao
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số H03304 đứng tên ông T1 B diện tích
596m
2
thửa 228 tờ bản đồ 13 tọa lạc tại tại P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay
D, tỉnh Tây Ninh) cho Ngân hàng giữ, hai bên thỏa thuận trường hợp ông T1
B không trả được nợ vay, vi phạm nghĩa vụ thì Ngân hàng được quyền xử
quyền sử dụng đất này để thu hồi nợ vay. Do ông T1, B không trả nợ đúng thời
hạn cam kết, vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng đã khởi kiện và Tòa án giải quyết
bằng Quyết định số 110/2025/QĐST-DS ngày 03-6-2025. Cho đến nay ông T1
B vẫn chưa trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng đã yêu cầu thi hành án. Nay B
H tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên, Ngân hàng đnghị Tòa án xem xét,
đảm bảo quyền lợi hợp pháp, ngay tình của Ngân hàng để đảm bảo thu hồi nợ.
Tại Bản án dân sự thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với bà Lê Thị H
về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Thị H về “yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất”.
Thị H được quyền quản sử dụng diện tích 596m
2
thửa 228 tờ bản
đồ 13, đo đạc thực tế là 568,4m
2
thuộc thửa 50 tờ bản đồ 84 tọa lạc tại ấp P1, xã P,
Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay D, tỉnh Tây Ninh) (Kèm theo đồ hiện trạng
quyền sử dụng đất)
3. Người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký,
khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu Cơ quan Nhà
nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
quan đăng đất đai; quan Tài nguyên Môi trường thẩm
quyền căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án.
5
4. Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị B phải chịu 28.000.000 đồng (đã nộp đủ)
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: B, ông T1, H thuộc trường hợp được
miễn án phí.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên vquyền kháng cáo, hướng dẫn thi nh
án.
Ngày 23/3/2026, nguyên đơn Th B kháng cáo bản án thẩm yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn.
Ti phn tòa phúc thẩm, nguyên đơn Th B vn gi nguyên yêu cu
khi kin yêu cu kháng cáo, các đương s không tha thuận được vi nhau v
vic gii quyết v án, ti phn tranh lun:
Người bo v quyn li ích hợp pháp nguyên đơn Luật Đình A
trình bày: Th nht: Theo tài liu chng c trong h vụ án chng minh ngun
gc s dụng đất năm 2003 từ cha m cho. Đến năm 2005 B đưc cp chng
nhn quyn s dụng đất đối vi tha 59, din tích 3.537m
2
, năm 2007 B xin
tách thửa đất s 59 thành 3 thửa 59, 199 và 200, cùng năm 2007 B chuyn
nhưng thửa đất s 199 cho ông Trần Văn H1 thửa đất s 200 cho Dương
Th Kim P tiếp tục đề ngh tách thửa đất s 59 thành 02 tha 228 229. Ngày
31/3/2009 bà Bchuyển nhượng thửa đất 229 cho ông H n Nbà B liên tc s
dng quyn s dng đất để vay thế chp ngân hàng. Trong tt c quá trình s dng
đất và h sơ địa chính đều không th hin việc hoán đổi quyn s dụng đất gia bà
H vi B. Việc nhà nước công nhn quyn s dụng đất cho B điều hin
nhiên. Phía b đơn cho rằng s hoán đổi đất tuy nhiên không tài liu chng
c nào chng minh. Mc khác B Lut dân s năm 2005 quy định điều kin v
hình thc chuyển nhượng hoán đổi quyn s dụng đất phi lập thành văn bản do đó
không có cơ sở nào cho rng việc hoán đổi trên bng ming trong khi bà B đã được
quan nhà nước cp giy chng nhn quyn s dụng đt. Th hai: Ti phiên tòa
ngưi làm chng ông Tn G đã khẳng định đất cha m cho đất vuông vt,
nhưng nhà nước li cp cho H theo hình th khác. Cn m thêm v ngun
gc phần đất B đã quản s dng chuyển nhượng cho nhiều người qua
nhiều năm. Về chng c chng minh cho s hoán đổi đt hoàn toàn không hp
không tài liu chng minh. Cấp nhìn nhận đánh gtài liu chng c
trong h sơ chưa khách quan. Do đó, đ ngh Hội đồng xét x xem xét công nhn
quyn s dụng đất ca bà B và bác yêu cu phn t ca bà H.
Nời đại din theo y quyn ca b đơn ông Nguyễn Hoàng L trình bày:
V phn tranh lun của nguyên đơn chúng tôi không đng ý. V ngun gốc đất
do cha m cho, khi B bán đt cho ông N thì do hin trạng đất không vuông vt,
do đó bà B và bà H mi tha thun vi nhau, bà H đổi cho bà B mt phần đất để
Bnh bán cho ông N cho vuông vt, B đổi li cho H phần đất din hin nay
đang tranh chấp. Khi B thc hin vic chuyển nhượng tha 229 ông N, Hết
tha thun bán luôn phần đất trên. Đến năm 2021, B H đã thỏa thun
thng nht vi nhau v vic bà B tên sang tên đất cho H, nhưng sau đó B
đổi ý xy ra tranh chấp cho đến nay. Ti phiên tòa hôm nay b đơn vẫn gi
6
nguyên yêu cu phn t đề ngh công nhn phn diện tích 596m2 đới vi tha 228
và không đồng ý vi yêu cu khi kin của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn Th B thực hiện đúng quy
định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Hết đối với
thửa đất số 50, tờ bản đồ số 13, diện tích 3.338m² do UBND huyện D cấp ngày
05/12/2005 cùng đồ thửa đất thể hiện phần đất của H bao quanh thửa đất số
59 của B. Trong đó, một phần đất của H nằm tiếp giáp phía Bắc thửa đất
của B với chiều dài 60,4m và chiều ngang giáp đường đất 4,5m. Đối chiếu với
hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn N đối với thửa đất
số 460, tờ bản đồ số 16, diện tích 998,7m² được cấp ngày 25/9/2019, cho thấy phần
đất ông N đang sử dụng thực tế có bao gồm phần đất nêu trên của bà H.
Hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa B ông N chỉ thể hiện
B chuyển nhượng thửa đất số 229, tờ bản đồ số 13, diện tích 240m² với chiều
ngang giáp đường đất 6,9m. Tuy nhiên, trên thực tế ông N đang quản lý, sử dụng
diện tích 998,7m² với chiều ngang giáp đường đất khoảng 20m. Sự chênh lệch rất
lớn giữa diện tích, kích thước đất trên giấy tờ hiện trạng sử dụng cho thấy phần
đất ông N đang sử dụng không hoàn toàn thuộc quyền sử dụng đất của B
bao gồm phần đất do bà H đứng tên.
Ông N xác định phần đất đang sử dụng được nhận chuyển nhượng từ
Bảnh, đồng thời thừa nhận đã thực hiện thủ tục hợp thức hóa hiện trạng sdụng
đất khi diện tích thực tế lớn hơn diện tích nhận chuyển nhượng trên giấy tờ. Việc
ông N hợp đồng chuyển nhượng đối với phần đất diện tích 418,7m² đứng tên bà
H vào ngày 20/7/2019 chỉ nhằm hoàn thiện hồ để được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo hiện trạng thực tế, chứ không phát sinh giao dịch chuyển
nhượng mới trên thực tế. Nội dung này phù hợp với lời khai của bà H.
Cả bà Bvà bà H đều thống nhất rằng phần đất đang tranh chấp do bà H trực
tiếp quản lý, sử dụng trong thời gian dài. B xác nhận H đã sử dụng đất
khoảng 10 năm, H khai nhận việc sử dụng bắt đầu tnăm 2009, thời điểm các
bên thỏa thuận đổi đất. Lời khai này hoàn toàn phù hợp với hiện trạng trên đất
các cây thanh long khoảng 17 năm tuổi do H trồng. Ngoài ra, từ sau khi B
chuyển nhượng đất cho ông N đến năm 2021, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của B vẫn do H quản lý. Chỉ khi quan chuyên môn liên hệ để thực hiện
thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà H thì bà B mới nhận lại giấy chứng nhận
phát sinh tranh chấp. Đây những tình tiết khách quan phản ánh việc các bên
đã thực hiện thỏa thuận đổi đất trên thực tế trong thời gian dài mà không sự
phản đối từ phía bà B.
B và bà H đều được cha mẹ cho đất để sử dụng riêng. Sau khi được cấp
7
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Bảnh đã nhiều lần thực hiện việc chuyển
nhượng đất cho người khác đến giai đoạn 2007–2009 tiếp tục chuyển nhượng
nhà ng phần đất còn lại cho ông Hồ Văn N. Trong suốt thời gian sau đó, B
không trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất hiện đang tranh chấp, cũng không thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với phần đất này. Ngược lại,
H người trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, liên tục, con của H đã xây
dựng nhà trồng cây trên đất. Năm 2019 H còn tự nguyện giao Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình để ông N thực hiện thủ tục tách thửa, sang
tên đối với phần đất mà trước đó bà B đã chuyển nhượng cho ông N.
Từ những chứng cứ nêu trên sxác định rằng giữa B H đã
thỏa thuận thực tế về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất. Theo đó, phần đất do
bà H đứng tên được sử dụng để hoàn tất việc chuyển nhượng của bà B cho ông Hồ
Văn N, đổi lại, phần đất hiện đang tranh chấp được giao cho bà H quản lý, sử
dụng. Mặc dù bà B không thừa nhận việc đổi đất, nhưng toàn bộ chứng cứ trong hồ
sơ, qtrình sử dụng đất thực tế kéo dài nhiều năm sự phù hợp trong lời khai
của các bên liên quan đều chứng minh giao dịch này đã được xác lập thực hiện
trên thực tế.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của B về việc buộc Hết chấm dứt hành vi
cản trở trả lại quyền sử dụng đất không căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của B, căn cứ Khoản 1 Điều 308
BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Th B thực hiện đúng quy
định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh
đơn xin vắng tại phiên tòa, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Th B.
[2.1] Xét phần đất tranh chấp diện tích 568,4m
2
, loại đất HNK, tờ bản đồ
84, đất tọa lạc tại P1, P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay D, tỉnh Tây Ninh,
nguyên đơn bà B bị đơn bà H đều thống nhất có nguồn gốc do cha mẹ để lại.
Xét thấy, ngày 12/8/2005 bà Thị H được Uỷ ban nhân dân huyện D tỉnh
Tây Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 50 diện tích
3.338m
2
, tờ bản đồ số 13, ấp P1, P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay D, tỉnh
Tây Ninh, nguồn gốc do cha mẹ tặng cho.
Ngày 12/8/2005, Thị B được Uỷ ban nhân dân huyện D tỉnh Tây
Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất đối với thửa đất s 59 diện tích
3.537 m
2
ngày 13/5/2009, Thị B được Uỷ ban nhân dân huyện D, tỉnh
Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 288 diện tích
596 m
2
, cùng tờ bản đồ số 13, ấp P1, P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay D,
8
tỉnh Tây Ninh, nguồn gốc do cha mtặng cho. Căn cứ đồ hiện trạng sử dụng
đất được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện D duyệt ngày 15/12/2025
phần đất tranh chấp diện tích 568,4m
2
, thuộc thửa đất số 288 bà Bảnh được Uỷ ban
nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
13/5/2009.
Ngày 27/7/2007, bà Lê Thị B cùng chồng ông Huỳnh Văn T1 tách phần đất
diện tích 2.140m
2
thuộc thửa 59 thành thửa 199 chuyển nhượng cho ông Trần
Minh H2 và bà Lê Kim T2, ông H2 bà T2 được Uỷ ban nhân dân huyện D tỉnh Tây
Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất ngày 07/06/2007.
Ngày 02/5/2007, Thị B cùng chồng ông Huỳnh Văn T tách phần đất
diện tích 561m
2
thuộc thửa 59 thành thửa 200 chuyn nhượng cho Dương Thị
Kim P và ông Huỳnh Văn H1, P ông H1 được Uỷ ban nhân dân huyện D, tỉnh
Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất ngày 07/06/2007.
Năm 2009, Thị B cùng chồng ông Huỳnh Văn T1 chuyển nhượng
phần đất còn lại của thửa 59 cho ông Trần Văn N Phan Thị Hồng N ông
N, N2 được Uỷ ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 29/9/2019 đối với thửa đất số 460, diện tích 998,7m
2
.
Thấy rằng, theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 03/7/2019 thì phần đất ông N,
N1 nhận chuyển nhượng từ B gồm: 240,1m
2
thuộc thửa 456 (phần còn lại của
thửa 59), 418,7m
2
thuộc thửa 50 (một phần thửa 50 của bà H) 339,9m
2
thuộc
thửa 455 (một phần thửa 321 của ông Phạm Văn C nhận chuyển nhượng từ B,
thửa 321 bà B nhận chuyện nhượng từ anh ruột Lê Văn Đ).
[2.2] Xét thấy, tại phiên t phúc thẩm, phía bị đơn H trình bày năm
2009 khi B chuyển nhượng cho ông N, do hiện trạng đất theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không vuông vứt nên H mới lấy phần đất 418,7m
2
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoán đổi phần đất đang tranh chấp
với B. Mặt khác, do cha mẹ cho đất các bên quản sử dụng trước sau đó mới
làm thủ tục chuyển quyền nên khi tại thời điểm làm thủ tục đứng tên giấy chứng
nhận quyền sdụng đất thì H đã quản sử dụng phần đất tranh chấp từ trước.
Ngược lại, phía nguyên đơn Bảnh trình bày xác định không việc thoả thuận
chuyển đổi đất như phía H trình bày. Phần đất trên B được cha mẹ tặng cho
từ năm 2003 đến năm 2009 được quan chức năng cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, mặt được cho từ năm 2003 nhưng từ đó đến nay B không trực
tiếp quản lý sử dụng thửa đất.
Thấy rằng, theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 03/7/2019 thì phần đất ông
N, bà N1 nhận chuyn nhượng từ bà B gồm: 240,1m
2
thuộc thửa 456 (phần còn lại
của thửa 59), 418,7m
2
thuộc thửa 50 (một phần thửa 50 của H) 339,9m
2
thuộc thửa 455 (một phần thửa 321 của ông Phạm Văn C nhận chuyển nhượng từ
B, thửa 321 B nhận chuyện nhượng từ anh ruột Văn Đ). Phần đất diện
tích 418,7m
2
thuộc thửa 50 Lê Thị H được U ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây
Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/8/2005. Bị đơn H trình
bày thực hiện thoả thuận năm 2019 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông N thực hiện thủ tục tách thửa chuyển quyền phần đất diện tích 418,7m
2
9
(phần đất B đã chuyển nhượng cho ông N trước đây) thực tế ông N thanh
toán toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất nhận chuyển nhượng cho B. Mặt khác,
theo Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 14/5/2026 của Toà án nhân dân
huyện D nay Toà án khu vực 11 Tây Ninh thì hiện trạng phần đất tranh chấp
thể hiện: trên đất có 60 gốc thanh long đã già cõi không còn giá trị do bà H trồng,
01 cây xoài trên 10 năm tuổi cùng một số cây tạp. Ngoài ra, trên phần đất có một
nền nhà hiện trạng nền đất, cỏ mọc không còn giá trị sử dụng. Tại biên bản
lấy lời khai ngày 05/2/2026, bà Nguyễn Thị U vợ ông Phạm Văn C người đứng tên
thửa đất số 321 trình bày xác định phần đất đang tranh chấp gia B bà H thì
thấy bà B không sdụng, trước đây con H cất nhà khoảng vài năm.
Mặt khác, tại đơn xin bổ sung ngày 27/01/2026 ông Lê Tấn G em ruột của bà B
H trình bày: Nguyên vào năm 2002 chị tôi là Thị B mua một thửa đất
của ông Văn Đ (đã chết) anh ruột của chúng tôi, chị B xây dựng nhà kiên cố
trên thửa đất này năm 2002. Đến năm 2003 mẹ ruột tôi cho chị B một thửa đất từ
đường xe giáp thửa đất mua của anh hai tôi, cho chị H cũng một thửa từ
đường xe tới phía sau, không liên quan đến nhà chị B, nhà chị B xây dựng
trên mảnh đất anh Hai tôi trước một năm. Lời trình bày của ông G phù hợp với
hiện trạng sử dụng đất thực tế giữa hai bên. Như vậy, n cứ xác định B
H cùng được cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất, sau khi được tặng cho B
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhiều người, đến năm 2009 thì chuyển
nhượng cả nhà phần đất còn lại cho ông Hồ Văn N, sau đó bỏ địa phương đi
sinh sống nơi khác, phần đất đang tranh chấp B không quản sử dụng từ khi
được cha mtặng cho do H trực tiếp quản sử dụng từ khi được tặng cho
đến khi xảy ra tranh chấp, H thời gian cất nhà cho con trồng cây trên
đất. Do đó, thấy rằng mặt ngày 13/5/2009 Thị B được Uỷ ban nhân dân
huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên thực
tế H đã được cha mẹ tặng cho trực tiếp quản sử dụng từ trước năm 2003
nên việc Toà án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
B về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị H là có căn cứ.
[2.3] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp
Phát triển Nông thôn Việt Nam không yêu cầu trong vụ kiện nên Hội đồng
xét xử xét không đề cập xem xét.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét không căn cứ căn
cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị B. Quan điểm phát biểu của Vị
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn Thị B phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm nhưng do người cao tuổi yêu cần miễn nộp án phí nên
Hội đồng xét xử miễn nộp án phí cho bà B.
Vì c ltrên;
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ khoản 1 Điều 308 của Bluật Ttụng dân sự;
10
Kng chấp nhận kháng o của nguyên đơn bà Lê ThB.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 129, 163, 165, 166, 500 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Điu 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội, xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với bà Lê Thị H
về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Thị H về “yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất”.
Thị H được quyền quản sử dụng diện tích 596m
2
thửa 228 tờ bản
đồ 13, đo đạc thực tế là 568,4m
2
thuộc thửa 50 tờ bản đồ 84 tọa lạc tại ấp P1, xã P,
Huyện D, tỉnh Tây Ninh nay D, tỉnh Tây Ninh (Kèm theo đồ hiện trạng
quyền sử dụng đất được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Dương
Minh Châu duyệt ngày 15/12/2025)
3. Người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký,
khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu Cơ quan N
nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
quan đăng đất đai; quan Tài nguyên Môi trường thẩm
quyền căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để giải quyết
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án.
4. Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị B phải chịu 28.000.000 đồng, đã nộp đủ.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: B, ông T1, H thuộc trường hợp được
miễn án phí.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho
bà Lê Thị B.
7. Về hiệu lực của bản án: Bản án pc thẩm hiu lc pp luật kể từ ngày
tun án.
8. Vớng dẫn thi nh án: Trường hợp bản án, quyết định đưc thi nh
theo qui đnh tại Điều 2 Luật Thinh ánn s năm 2025 thì ngưi được thinh án,
người phi thi hành án dân s có quyn thoả thuận thi hành án, quyền yêu cu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoc bị cưng chế thinh án theo qui định ti các Điều 6, 7
11
và 36 Luật Thi nh án dân s; thi hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 34 Luật Thi nh án n sự m 2025.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 Tây Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Trọng Nhân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1084/2026/DS-PT Bản án số 1084/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1084/2026/DS-PT Bản án số 1084/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất