Bản án số 640/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 640/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 640/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 640/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa 1 phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 640/2026/DS-PT Bản án số 640/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 640/2026/DS-PT Bản án số 640/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 640/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 8 - 2026
V/v: Tranh chấp HĐ CNQSD đất và yêu
cầu hủy HĐ hợp tác đầu tư
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh
Ông Nguyễn Văn Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Chang - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18, 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 784/2025/TLPT-
DS ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng hợp tác đầu . Do Bản án dân sự
thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân n khu vực 10
Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2026/QĐ-
PT ngày 11 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Minh T, sinh năm 1959; địa chỉ: 5 N, P.7, Q.11,
TP . (nay là phường M1) (đã chết)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công Ty L; địa chỉ: Tầng B Tòa
nhà T, B H, P.7 quận B, TP . (nay là phường G, TP .) “vắng mặt
- Ông Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1988 “có mặt” ông Nguyễn Đức M,
sinh năm 1999 “vắng mặt”; cùng địa chỉ: Tầng B Tòa nhà T, B H, P.7, quận B, TP .
(nay là phường G, TP .)
Người bảo vệ cho quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Tấn Đ, sinh năm 1988 “có mặt khi tuyên án” ông Huỳnh Tiến Đ1, sinh năm
1988 “có mặt” – Luật Công ty L thuộc Đoàn luật sư T6
2
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
1. Bà Thị T2, sinh năm 1959; “có đơn xin vắng mặt”
2. Ông Trương Minh T3, sinh năm 1980; “có đơn xin vắng mặt
3. Ông Trương Minh N, sinh năm 1983; “có đơn xin vắng mặt
4. Bà Trương Thụy Bạch K, sinh năm 1985 “vắng mặt”
Cùng địa chỉ: 5 N, P.7, Q.11, TP . (nay là phường M, TP .)
Đại diện theo uỷ quyền của Trương Thụy Bạch K: Ông Nguyễn Nhật T1,
sinh năm 1988; địa chỉ: Tầng B Tòa nhà T, B H, P.7 quận B, TP . (nay phường
G, TP .) “có mặt”
- Bị đơn: ng ty TNHH B; địa chỉ: Tổ D, ấp D, N, thị C, tỉnh nh
Phước (nay là xã N, thành phố Đ)
Đại diện theo pháp luật: Ông Trương Minh T - Chủ tịch hội đồng thành viên
“đã chết” và ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1980 “có mặt”; địa chỉ: tổ D, ấp D, xã N, thị
xã C, tỉnh Bình Phước (nay là xã N, thành phố Đ); Địa chỉ liên lạc: A đường T, khu
phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền của ông Đ2: Ông Ngọc T4, sinh năm 1961. địa
chỉ: 2 đường N, P. P, TP . “có mặt”
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Văn Đ2, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ D, ấp D, N, thị C, tỉnh
Bình Phước (nay là xã N, thành phố Đ) “có mặt
2. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1959; địa chỉ: 5 N, P.7, Q.11, TP . (nay là phường
M, TP .) “có đơn xin vắng mặt
3. Ông Trương Minh T3, sinh năm 1980; địa chỉ: 5 N, P.7, Q.11, TP . (nay là
phường M, TP .) “có đơn xin vắng mặt”
4. Văn phòng C; địa chỉ tại số C, Quốc lộ A, khu phố N, thị trấn L, huyện L,
tỉnh Bình Phước (nay là xã L, thành phố Đ) “có đơn xin vắng mặt”
Người kháng cáo: Ông Văn Đ2, sinh năm 1980.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn ông Trương Minh T trình bày:
Ông Trương Minh T là chủ sử dụng 03 thửa đất tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện
C, tỉnh Bình Phước (nay là xã N, tỉnh Đồng Nai), theo các Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất lần lượt là: số AĐ210835, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H02445,
3
thửa đất số 75, tờ bản đồ số 5, diện tích 31.020,3m
2
, do UBND huyện C cấp ngày
30/12/2005; số 089049, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
H02443, thửa đất 101, tờ bản đồ số 5, diện tích 139.215,2 m
2
, do Ủy ban nhân dân
huyện C cấp ngày 30/12/2005. số AD996737, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số H02447, thửa đất 425, tờ bản đồ số 5, diện tích 123.616,4 m
2
, do Ủy
ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/12/2005. Vào năm 2020, qua quan hệ giới
thiệu, ông T ông Văn Đ2 quen biết nhau, có thỏa thuận sẽ cùng nhau hợp
tác để đầu vào các thửa đất nêu trên để xây dựng dự án Khu dân H (sau đây
gọi tắt công ty B). Theo đó, sau khi cùng nhau thành lập Công ty B do mỗi bên
góp một nửa cùng đứng đại diện theo pháp luật trên giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp, ông T đã hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho
Công ty B Chơn Thành cả 03 (ba) thửa đất nêu trên, với tổng giá trị chuyển nhượng
80.000.000.000 đồng theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lần
lượt số công chứng 09222, 09223 09224, Quyển 01/2022TP/CC-
SCC/HĐGD, do Văn phòng C, địa chỉ tại số C, Quốc lộ A, Khu phố N, thị trấn L,
huyện L, tỉnh Bình Phước công chứng ngày 23/5/2022. Tạo điều kiện hỗ trợ để
Công ty B Chơn T5 thực hiện các thủ tục đầu kinh doanh của mình, ông T đã
bàn giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Công ty đã thực hiện xong thủ
tục đăng bộ sang tên các thửa đất nêu trên, với các thông tin sở hữu của Công ty
được cập nhật mới là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DH975652, số vào sổ cấp GCN: CT42992, thửa đất
số 75, tờ bản đồ 05, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/10/2022;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất sDH946701, số vào sổ cấp GCN: CT41447, thửa đất số 101 (nay thửa
1876), tờ bản đồ số 5, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/8/2022 ;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số DH975653, số vào sổ cấp GCN: CT 42993, thửa đất số 425, tờ bản đồ số
5, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/10/2022. Tuy vậy, cho đến
nay, ông T vẫn chưa được Công ty B thanh toán giá trị chuyển nhượng
80.000.000.000 đồng, ông T đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc. Về phía nội bộ
công ty, ông Đ2 với cách Giám đốc, nhiều lần hứa hẹn góp vốn để thanh
toán cho việc chuyển nhượng y, nhưng đến nay thì ông Đ2 đã bất ngờ cho biết
không có đủ khả năng để thanh toán số tiền nêu trên. Công ty B hiện nay lại không
khả năng thanh toán nên đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho quyền
lợi ích hợp pháp của ông T.
Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông T như sau:
- Tuyên hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công
chứng sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 09222,
quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị D
chứng nhận giao dịch vào ngày 23/5/2022; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số công chứng 09223, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, do Văn phòng
công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào ngày 23/5/2022;Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 09224, quyển 01/2022TP/CC-
SCC/HĐGD, do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào
ngày 23/5/2022.
4
- Buộc Công ty TNHH B bàn giao lại cho ông T các thửa đất các tài sản
gắn liền với đất theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
Đồng thời, Công ty TNHH B không được bất kỳ hành động nào cản trở, xâm
phạm quyền quản lý, sử dụng của ông T đối với các thửa đất này.
Ngày 12/11/2024, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung yêu cầu tòa án tuyên
hủy hợp đồng nguyên tắc đầu tư Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày
22/7/2020, hủy hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình
Phước ngày 14/10/2020, hủy hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa nh
C - Bình Phước ngày 19/10/2020. Ngày 31/7/2025, ông Trương Minh T đơn rút
toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 12/11/2024.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Văn Đ2 là người đại diện theo pháp luật
của bị đơn Công ty TNHH B người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty TNHH B - ông Ngọc T4 trình bày:
Về yêu cầu của ông Trương Minh T yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thì ông không đồng ý hợp đồng này không phải
hợp đồng mua bán giữa ông T và bà T2 với công ty mà là việc góp vốn, trường hợp
ông T muốn hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng thì phải bồi thường cho ông Đ2 số
tiền 55 tđồng theo hợp đồng hợp tác đầu ngày 19/10/2020, cùng nhiều khoản
tiền khác liên quan đến công ty (số tiền cụ thể ông Đ2 sẽ cung cấp sau cùng với
việc nộp yêu cầu phản tố hay không sẽ về suy nghĩ nếu sẽ làm đơn nộp tòa án,
đối với số tiền 8,5 tchuyển khoản cho T2, đây là tiền vay ông Đ2 sẽ khởi kiện
T2 sau”.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/11/2024 (BL 198-199) ông Đ2
trình bày: Việc làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T
Công Ty B chỉ hình thức hợp lệ để góp vốn ông Đ2 sẽ yêu cầu tòa án giải quyết
vấn đề góp vốn giữa ông Đ2 và ông T theo hợp đồng hợp tác đầu tư ngày
19/10/2020, đơn yêu cầu ông Đ2 sẽ cung cấp sau. Trên thực tế ông Đ2 đã đóng các
khoản tiền thuế chuyển nhượng vào công ty tiền chuyển mục đích sử dụng sang
đất thổ sau đó tách thành nhiều cuốn snhỏ, ông Đ2 đã bỏ tiền ra cải tạo, sửa
chữa lại công ty các khoản tiền khác chi phí hoạt động Công ty, chi phí thiết kế
sở hạ tầng, chi phí tư vấn dịch vụ pháp lý tiền cá nhân bỏ ra, do thời gian lâu,
giấy tờ thất lạc ông Đ2 sẽ bổ sung sau.
Ông Ngọc T4 trình bày: Bị đơn không đồng ý toàn bộ u cầu khởi kiện của
nguyên đơn bởi các do: Các quyền sử dụng đất ông T góp vốn vào công ty theo
hình thức đầu thì nhân quyền gốp vốn bằng quyền sử dụng đất, ông T
muốn rút vốn ra phải sự đồng ý của công ty, cụ thể ông Đ2 tuy nhiên ông T
chưa văn bản o yêu cầu công ty C1, yêu cầu trả lại. Nếu ông T yêu cầu tuyên
huỷ toàn bộ hợp đồng này thì ông T đã đơn phương chấm dứt hợp đồng hợp tác đầu
thì ông T phải chịu toàn bộ trách nhiệm gây thiệt hại. Ngoài ra, số tiền ông Đ2
yêu cầu bồi thường công ty bao nhiêu thì ông Đ2 đang tìm lại. Trường hợp Toà án
tuyên do trường hợp bất khả kháng dẫn đến việc không thực hiện được hợp đồng
thì các bên phải văn bản trao đổi với nhau tuy nhiên các n chưa trao đổi, hợp
đồng này vẫn còn giá trị pháp lý.
5
Quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Trương Minh T3 trình bày:
Ông T3 con đẻ của ông Trương Minh T Thị T2, mọi việc liên
quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp tác đầu vào khu dân Hòa
Bình đều do ông T thực hiện (có bàn bạc thống nhất trong gia đình) ông đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông T, xin vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ
án.
Quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi nghĩa vliên quan Thị
T2 trình bày:
T2 vợ ông T, mọi việc liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và hợp tác đầu tư vào khu dân cư Hòa Bình đều do ông T thực hiện (có bàn bạc
thống nhất trong gia đình) ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, xin
vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng
công chứng Nguyễn Thị D trình bày:
Văn phòng C thực hiện công chứng các Hợp đồng, giao dịch sau đây:
Hợp đồng hợp tác đầu tư (dự án khu dân cư H - C tỉnh Bình Phước) số công chứng
3848, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/10/2020. Người yêu cầu công
chứng ông Trương Minh T ông Văn Đ2; Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số công chứng 09223, quyền số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
23/5/2022. Bên chuyển nhượng là ông Trương Minh T, bên nhận chuyển nhượng là
Công ty TNHH B do ông Trương Minh T3 người đại diện theo ủy quyền. Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 09222, quyển số 01/2022
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/5/2022. Bên chuyển nhượng ông Trương Minh T,
bên nhận chuyển nhượng là Công ty TNHH B do ông Trương Minh T3 là người đại
diện theo ủy quyền; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng
09224, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/5/2022. Bên chuyển nhượng
ông Trương Minh T, bên nhận chuyển nhượng Công ty TNHH B do ông
Trương Minh T3 là người đại diện theo ủy quyền.
Căn cứ các giấy tờ, tài liệu do người yêu cầu công chứng cung cấp, Công
chứng viên nhận thấy đủ căn cứ theo quy định của Luật công chứng các quy
định của pháp luật hiện hành nên đã thụ hồ yêu cầu công chứng tiến hành
công chứng các giao dịch nêu trên.
Người bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn lập luận:
Hành vi vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thanh toán của Công Ty B, sau
khi ông Trương Minh T thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì công
ty chưa thanh toán số tiền 80 tỷ đồng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; Hành vi vi phạm nghĩa vụ không thanh toán của ng Ty B căn cứ huỷ bỏ
hợp đồng được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 423 BLDS “Một bên vi
có quyền huỷ bỏ hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại nếu bên kia vi phạm
6
nghĩa vụ hợp đồng. Theo đó, bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng được
hiểu “là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên
kia không thực hiện được mục đích thực hiện hợp đồng” Trong việc giao kết hợp
đồng này ông Trương Minh T không nhận được bất cứ nguồn lợi tài chính vào
không ghi nhận được về việc tăng vốn điều lệ trong bất cứ giấy tờ nào của Công Ty
B. Mặt khác, đứng dưới góc độ quan điểm đây hợp đồng hợp tác đầu thì cũng
không thể công nhận quyền sử dụng đất cho Công Ty B. Vì khi đó nghĩa vụ tương
ứng của công ty không phải là thanh toán tiền thực hiện các thủ tục pháp ghi
nhận vốn góp cách thành viên của ông T. Song nghĩa vụ này không thực
hiện được cho đến hiện tại vì ông Văn Đ2 đã không thực hiện việc góp vốn của
ông Đ2 vào công ty như đã cam kết khiến cho việc thực hiện dự án được triển khai
không đúng tiến độ và được cấp phép phê duyệt 1/500.
Đồng thời, về mặt hình thức: Giao dịch góp vốn bằng quyền sử dụng đất của
ông Trương Minh T đã không đảm bảo về mặt hình thức theo quy định pháp luật,
không được xem là căn cứ để xem xét công nhận trong trường hợp hợp đồng bị che
giấu hợp đồng góp vốn vì hợp đồng chuyển nhượng này không đúng về hình
thức nên cần tuyên huỷ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo quan điểm của bị đơn, bản chất đây hợp đồng góp vốn bằng quyền
sử dụng đất, không phải hợp đồng chuyển nhượng, giả sử đây hợp đồng góp
vốn thì ông T cũng chưa được ghi nhận về việc góp vốn tại giấy chứng nhận kinh
doanh của Công ty tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào trang thứ 4 hoặc cấp
sổ mới về việc ông T đã góp đất theo luật Đất đai. Theo luật đầu luật doanh
nghiệp thì ông T phải được ghi trong chứng nhận kinh doanh giấy chứng nhận
đầu tư và ông T cũng chưa được ghi tên về việc góp vốn. Xét về trường hợp nào thì
cũng không thể chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên,
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh T, tuyên bố
03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Minh T với Công
ty TNHH B là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, gồm các hợp đồng:
Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 5, diện tích
31.020,3m
2
, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/12/2005 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AĐ210835, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H02445 cấp cho hông Trương Minh T Thị T2. Được Văn
phòng công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào ngày 23/5/2022, số
công chứng 09222, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 19/10/2022 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 975652,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 42992.
Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 1876, (được tách ra từ thửa đất số 101) tờ
bản đồ số 5, diện tích 133.720,3 m
2
, do y ban nhân dân huyện C cấp ngày
7
30/12/2005 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 089049, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02443 cấp cho hộ ông Trương Minh T
Thị T2. Được Văn phòng ng chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào
ngày 23/5/2022 số công chứng 09223, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Được
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 26/8/2022 theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát
hành DH 946701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 41447.
Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 425, tờ bản đồ số 5, diện tích 123.616,4
m
2
, do ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/12/2005 theo giấy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AD996737, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số H02447, được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào
ngày 23/5/2022 số công chứng 09224, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 19/10/2022 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
phát hành DH 975653, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 42993.
Ông T (gia đình ông T) được quyền đăng quyền sử dụng đất đối với 03
thửa đất trên theo qui định; Kiến nghị Sở nông nghiệp và môi trường tỉnh Đ thu hồi
03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã điều chỉnh biến động ngày 26/8/2022
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn
liền với đất số phát hành DH 946701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 41447;
ngày 19/10/2022 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số phát nh DH 975652, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận số CT 42992; ngày 19/10/2022 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 975653, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 42993 để cấp đổi lại cho hộ ông Trương Minh T
Lê Thị T2. Ông Lê Văn Đ2 có trách nhiệm giao lại 03 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất này khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định thu hồi.
2. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh T
về: Hủy Hợp đồng nguyên tắc đầu tư Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước
ngày 22/7/2020, hủy Hợp đồng hợp tác đầu Dán khu dân Hòa Bình C -
Bình Phước ngày 14/10/2020, hủy Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa
Bình C - nh Phước ngày 19/10/2020.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo,
kháng nghị theo quy định.
Sau khi tuyên án:
Đại diện hợp pháp của bị đơn ông Văn Đ2 kháng cáo, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
8
Đại diện theo ủy quyền của ông Đ2 đề nghị hủy bản án thẩm. Đại diện
theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị hội
đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các bên đương sự không thống nhất với
nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai phát biểu quan
điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Qtrình giải quyết vụ án của Tòa án
từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng
xét xử các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án thẩm theo hướng bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, không cần thiết phải hủy án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy rằng:
Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bđơn ông Văn Đ2 làm
trong thời hạn luật định, hình thức nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu hủy 03 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất: Thửa đất số 75, tờ bản đồ
số 5, diện tích 31.020,3m
2
; Thửa đất 101 (sau này thửa 1876, được tách ra từ
thửa 101) tờ bản đồ số 5, diện tích 139.215,2 m
2
; Thửa đất 425, tờ bản đồ số 5, diện
tích 123.616,4 m
2
. Xét ý chí của các bên khi kết 03 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 23/5/2022, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1.1] Mặc dù về hình thức, các bên lập 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, ng chứng thực hiện thủ tục đăng biến động, nhưng nội dung
lời khai của các bên trong quá trình giải quyết ván cho thấy mục đích thực tế của
việc lập các hợp đồng này là để thực hiện việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất của
ông T theo các thỏa thuận hợp tác đầu đã được xác lập trước đó. Theo đó, ông
Trương Minh T ông Văn Đ2 đã kết với nhau Hợp đồng hợp tác đầu
dự án khu dân Hòa Bình Chơn T ngày 19/10/2020 và Hợp đồng nguyên tắc đầu
dự án khu dân H ngày 22/7/2020. Theo đó ông T góp vốn vào Công ty bằng
toàn bộ 03 quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông T vào dự án
9
khu dân Hòa Bình C tương đương số tiền 130.500.000.000 đồng (bằng 50%),
ông Đ2 góp 50% tương tương đương 130.500.000.000 đồng để thực hiện tất cả các
thủ tục pháp lý có liên quan, ký Hợp đồng với các đối tác và triển khai thực hiện dự
án theo quy định của pháp luật.
[1.2] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/11/2024, ông Văn Đ2 trình bày
việc lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T ông Đ2 chỉ
hình thức hợp lệ đgóp vốn bằng quyền sử dụng đất; đồng thời ông Đ2 thực hiện
nghĩa vụ góp vốn của mình thông qua việc chi trả các khoản thuế, chi phí chuyển
mục đích sử dụng đất, chi phí cải tạo, sửa chữa Công ty, chi phí hoạt động, chi phí
thiết kế sở hạ tầng, vấn dịch vụ pháp cùng các khoản chi phí khác phục
vụ dự án. Nội dung trình bày của ông Đ2 phù hợp với các thỏa thuận hợp tác đầu tư
được xác lập từ năm 2020 và phù hợp với diễn biến thực tế của việc triển khai dự
án. Đây chứng cứ quan trọng để xác định bản chất của việc chuyển quyền sử
dụng đất giữa ông TCông ty.
[1.3] Tính đến thời điểm ông T khởi yêu cầu Tòa án tuyên hủy 03 Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất (phần vốn góp của ông T vào dự án) thì Công ty
TNHH B đã thực hiện xong các thtục quan trọng nhất của dự án đó là: Hợp
đồng với Công ty TNHH T7 để thực hiện các công việc: Lập hồ đề xuất chủ
trương đầu và được UBND tỉnh ra Quyết định đồng ý chủ trương đầu dự án
khu dân H cho Công ty TNHH B làm chủ đầu tư. UBND huyện C phê duyệt
nhiệm vụ quy hoạch 1/500 và hoàn thiện hồ thiết kế sở cho đến nay Công
ty TNHH B đã thực hiện xong việc thuê đơn vị vấn, thiết kế tổng thể dán dự
án. Lập đồ án quy hoạch chi tiết theo tiêu chuẩn và quy chuẩn hiện hành.
[1.4] Việc ông T đưa ra lý do do Công ty TNHH B không thanh toán cho ông
T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất theo giá các bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng để yêu cầu hủy 03 Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không căn cứ do: Ông T người tự nguyện, chủ
động góp vốn vào Công ty TNHH B Chơn T5 bằng QSDĐ được bổ nhiệm
Chủ tịch hội đồng quản trị của Công ty, trong khi đó phía bên Công ty TNHH B
nhân ông Đ2, Giám đốc Công ty người đóng góp 50% giá trị dự án bằng
tiền đầu tư của mình để hoàn tất các thủ tục pháp lý và xây dựng dự án theo phương
án hai bên thống nhất khi Hợp đồng hợp tác đầu tư, Công ty TNHH B
nhân ông Đ2 đã đang dùng chính số tiền và nguồn lực tài chính của mình cũng
nghĩa vụ góp vốn vào Công ty để thực hiện được nhiều thủ tục pháp quan
trọng nhất của dự án theo thỏa thuận của các bên khi các hợp đồng hợp tác đầu
tư là dự án khu dânHòa Bình Chơn T ngày 19/10/2020 và Hợp đồng nguyên tắc
đầu tư dự án khu dân cư H ngày 22/7/2020.
[2] Mặc dù việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có thật mà bản chất
quan hệ hợp tác đầu dự án giữa các bên như đã nêu trên. Tuy nhiên, các bên
đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận, trong đó ông T sử dụng giá trị
quyền sử dụng 03 thửa đất làm phần vốn góp, còn ông Đ2 góp vốn bằng tiền
thực hiện các công việc, chi phí cần thiết để triển khai dự án. Lẽ ra các bên chỉ làm
thủ tục góp vốn nhưng các bên lại làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
10
không phù hợp với hợp đồng nguyên tắc đầu và hợp đồng hợp tác đầu tư. Do
đó đây hợp đồng giả tạo không thật, việc này được các bên đương sự thừa
nhận. Hiện tại, 03 thửa đất tranh chấp đã được sang tên từ ông T cho Công ty
TNHH B thông qua các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập
ngày 23/5/2022 nêu trên đã được quan nhà nước thẩm quyền về quản đất
đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn đại diện bị đơn đều thừa
nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 hợp đồng trên không có
thật mục đích các bên làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bản
chất để ông T góp vốn vào Công ty theo thỏa thuận của Hợp đồng nguyên tắc
đầu tư Dự án khu dân cư Hòa Bình C - Bình Phước ngày 22/7/2020, Hợp đồng hợp
tác đầu tư Dự án khu dân cư Hòa Bình C - Bình Phước ngày 14/10/2020, Hợp đồng
hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày 19/10/2020. Các
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 23/5/2022 nhằm che
đậy các Hợp đồng nguyên tắc đầu tư, Hợp đồng hợp tác đầu nêu trên nên cần
tuyển 3 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này là vô hiệu. Xét thấy, trong
quá trình hợp tác giữa các bên theo các Hợp đồng nguyên tắc đầu tư, Hợp đồng hợp
tác đầu tư nêu trên, phía ông Đ2 cũng đã bỏ ra 1 số tiền để thực hiện công việc của
Công ty. Vì vậy, phía ông Đ2 quyền khởi kiện để yêu cầu phía ông T phải
trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi ích hợp
pháp của ông Đ2, cần sửa 1 phần bản án thẩm theo hướng người thừa kế quyền
nghĩa vụ của ông Trương Minh T ông Văn Đ2 quyền liên hệ với
quan Nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất sau khi các bên đương sự (người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn với ông Lê Văn Đ2) giải quyết xong hậu quả của các Hợp đồng nguyên tắc đầu
tư, Hợp đồng hợp tác đầu tư.
[3] Từ những n cứ trên, xét thấy việc Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng
Nai tuyên xử 03 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết
hậu quả của việc tuyên hợp đồng hiệu phù hợp. Tuy nhiên, cần sửa 1 phần
bản án sơ thẩm theo hướng người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Trương Minh
T và ông Lê Văn Đ2 có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều
chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi các bên đương sự (người kế
thừa quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn với ông Văn Đ2) giải quyết xong
hậu quả của các Hợp đồng nguyên tắc đầu tư, Hợp đồng hợp tác đầu tư.
[4] Công ty TNHH B do ông Văn Đ2 đại diện theo pháp luật trả lại cho
những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Trương Minh T 03 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 975652, số vào sổ cấp GCN:
CT42992, thửa đất số 75, tờ bản đồ 05, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 19/10/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DH 946701, số vào sổ cấp GCN: CT41447, thửa đất số
101 (nay là thửa 1876), tờ bản đồ số 5, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 26/8/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DH 975653, số vào sổ cấp GCN: CT 42993, thửa đất
11
số 425, tờ bản đồ số 5, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày
19/10/2022, cả 03 thửa đất cùng địa chỉ tại ấp D, N, huyện C, tỉnh Bình
Phước (nay N, thành phố Đ) khi giải quyết xong hậu quả của các Hợp đồng
nguyên tắc đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày 22/7/2020,
Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày
14/10/2020, Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân a Bình C - nh Phước
ngày 19/10/2020.
[5] Đối với yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng nguyên tắc đầu Dự án khu
dân cư Hòa Bình C - Bình Phước ngày 22/7/2020, hủy hợp đồng hợp tác đầu tư Dự
án khu dân Hòa nh C - Bình Phước ngày 14/10/2020, hủy hợp đồng hợp tác
đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày 19/10/2020. Ngày
31/7/2025, ông Trương Minh T đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung này
nên Tòa án cấp thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này phù hợp
với quy định của pháp luật. Đối với việc phía nguyên đơn cho rằng ông Đ2 đã
không thực hiện các cam kết theo hợp đồng hợp tác đầu tư, phía bị đơn cho rằng
việc không tiếp tục thực hiện được dự án là do tình hình dịch covid, thay đổi đơn vị
hành chính (từ huyện lên thị xã; thay đổi Luật đất đai…). Trong trường hợp phía
nguyên đơn căn cứ về việc cho rằng phía bị đơn đã không thực hiện các thỏa
thuận giữa các bên trong hợp đồng nguyên tắc đầu Dự án khu dân Hòa Bình
C - Bình Phước ngày 22/7/2020, hủy hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu n
Hòa Bình C - Bình Phước ngày 14/10/2020, hủy hợp đồng hợp tác đầu Dự án
khu dân cư Hòa Bình C - Bình Phước ngày 19/10/2020 thì có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết bằng một vụ án khác, hoặc khi các đương sự có yêu cầu.
[6] Về chi định giá tài sản: Số tiền 3.000.000 đồng ông T tự nguyện chịu và đã
nộp đủ nên Tòa án cấp sơ thẩm không tiếp tục xem xét là phù hợp.
[7] Về án phí n sự thẩm: Ông Trương Minh T phải chịu 900.000 đồng.
Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi (hiện ông T cũng đã chết) nên được miễn.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Lê Văn Đ2 được chấp
nhận nên ông Đ2 không phải chịu.
[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai
phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một
phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị đơn
Công ty TNHH B là ông Văn Đ2;
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai:
12
Căn cứ các điều 116, 117, 118, 119, 122, khoản 1 Điều 124, Điều 131 Bộ luật
Dân sự; Các Điều 26, 133, 134 Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh
T, về việc:
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 75, tờ bản đồ số 5, diện tích
31.020,3m
2
, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/12/2005 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AĐ210835, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H02445 cấp cho hông Trương Minh T Thị T2. Được Văn
phòng công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào ngày 23/5/2022, số
công chứng 09222, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 19/10/2022 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DH 975652,
số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 42992.
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 1876, (được tách ra từ thửa đất s
101) tờ bản đồ số 5, diện tích 133.720,3 m
2
, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày
30/12/2005 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 089049, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02443 cấp cho hộ ông Trương Minh T
Thị T2. Được Văn phòng ng chứng Nguyễn Thị D chứng nhận giao dịch vào
ngày 23/5/2022 số công chứng 09223, quyển 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Được
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 26/8/2022 theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát
hành DH 946701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 41447.
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 425, tờ bản đồ số 5, diện tích
123.616,4 m
2
, do ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/12/2005 theo giấy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AD996737, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất sH02447, được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị D chứng nhận
giao dịch vào ngày 23/5/2022 số công chứng 09224, quyển 01/2022TP/CC-
SCC/HĐGD. Được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp đổi ngày 19/10/2022
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn
liền với đất số phát hành DH 975653, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CT 42993.
2. Công ty TNHH B do ông Văn Đ2 đại diện theo pháp luật trả lại cho
những người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Trương Minh T 03 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 975652, số vào sổ cấp GCN:
CT42992, thửa đất số 75, tờ bản đồ 05, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 19/10/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DH 946701, số vào sổ cấp GCN: CT41447, thửa đất số
13
101 (nay là thửa 1876), tờ bản đồ số 5, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 26/8/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DH 975653, số vào sổ cấp GCN: CT 42993, thửa đất
số 425, tờ bản đồ số 5, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày
19/10/2022, cả 03 thửa đất cùng địa chỉ tại ấp D, N, huyện C, tỉnh Bình
Phước (nay N, thành phố Đ) khi giải quyết xong hậu quả của các Hợp đồng
nguyên tắc đầu Dán khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày 22/7/2020,
Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày
14/10/2020, Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân a Bình C - nh Phước
ngày 19/10/2020.
- Những người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Trương Minh T ông
Văn Đ2 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh
lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất thửa đất số 75, tờ
bản đồ số 5, diện tích 31.020,3m
2
, thửa đất 1876, (được tách ra từ thửa đất số 101)
tờ bản đồ số 5, diện tích 133.720,3 m
2
thửa đất 425, tờ bản đồ số 5, diện tích
123.616,4 m
2
, cùng địa chỉ tại ấp D, N, thị C, tỉnh Bình Phước (nay xã
N, thành phố Đ) sau khi các đương sự giải quyết xong hậu quả của các Hợp đồng
nguyên tắc đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày 22/7/2020,
Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân Hòa Bình C - Bình Phước ngày
14/10/2020, Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân a Bình C - nh Phước
ngày 19/10/2020.
3. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương
Minh T về: Hủy Hợp đồng nguyên tắc đầu tư Dự án khu dân cư Hòa Bình C - Bình
Phước ngày 22/7/2020, hủy Hợp đồng hợp tác đầu Dán khu dân Hòa Bình
C - Bình Phước ngày 14/10/2020, hủy Hợp đồng hợp tác đầu Dự án khu dân
Hòa Bình C - Bình Phước ngày 19/10/2020.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trương Minh T không phải chịu.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn Đ2 không phải chịu, trả lại cho ông
Đ2 số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0003279 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ (nay là thành phố Đ).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- VKSND khu vực 10 - Đồng Nai;
- TAND khu vực 10 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 10 - Đồng Nai;
- THADS thành phố Đồng Nai;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, TDS.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Bình
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 640/2026/DS-PT Bản án số 640/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 640/2026/DS-PT Bản án số 640/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất