Bản án số 623/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 623/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 623/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 623/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà H yêu cầu ông K1 giao trả toàn bộ diện tích đất tranh chấp theo đo đạc 1.692,2m2 cho bà H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 623/2026/DS-PT Bản án số 623/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 623/2026/DS-PT Bản án số 623/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 623/2026/DS-PT
Ngày 09 9 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Yên
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Từ Thanh Thuỳ Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 09 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 392/2026/TLPT-DS ngày
20 tháng 7 năm 2026 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 162/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 565/2026/QĐ-PT ngày
31 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Lê Thị H, sinh năm 1953 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 20/8/2021
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Ông Văn K, sinh
năm 1942; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Lâm Văn K1, sinh năm 1962 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 30/8/2021
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm Văn K1: Ông Nguyễn
Long H1, Luật của Công ty L1 Cộng s- thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (Có
mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lý Văn K, sinh năm 1942 (Có mặt) ;
2. Bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
2
3. Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1963 (Vắng mặt);
4. Ông Lâm Trọng H2, sinh năm 1995 (Vắng mặt);
5. Bà Ngô Phượng K2, sinh năm 1995 (Vắng mặt);
6. Ông Hồ Văn T1, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
7. Bà Ngô Thị H3, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
8. Ông Hồ Chí B, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.
9. Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã L, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn K1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị H trong quá trình giải quyết vụ án ông
Lý Văn K, trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do H nhận chuyển nhượng của ông
Văn T2 vào năm 1997. Khi nhận chuyển nhượng, giữa H và ông T2 chỉ làm giấy
tay, sau đó H được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BT 527308 ngày 05/6/2014, thửa 286, tờ bản đồ số 11, tổng diện tích
21.019,5m
2
. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà H sử dụng ổn định, liên tục đến khi
phát sinh tranh chấp với ông K1 vào năm 2024. Qua đo đạc thực tế, phần đất tranh
chấp diện tích 1.692,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp C, L, tỉnh Mau. Phần đất này
hiện ông K1 đang sử dụng nên H yêu cầu ông K1 giao trả toàn bộ diện tích đất
tranh chấp theo đo đạc 1.692,2m
2
cho bà H.
- Theo ông Lâm Văn K1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông K1 nhận chuyển nhượng của ông
Bùi Văn A vào năm 1991, ông nhận chuyển nhượng nguyên mẫu đất của ông A với
tổng diện tích 31.790m
2
bao gồm cả phần đất tranh chấp đã được Ủy ban nhân
dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 946745, ngày 06/10/1995,
thửa 0135, tờ bản đồ số 14. Từ khi nhận chuyển nhượng ông K1 trực tiếp quản lý,
sử dụng đất đến khi phát sinh tranh chấp với H. Việc H cho rằng ông lấn chiếm
đất yêu cầu ông giao trả toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.692,2m
2
ông không đồng ý. Do trong tổng thể phần đất tranh chấp có các phần diện tích 49,4
m
2
; 50,4m
2
; 47,7m
2
; 185,1m
2
thuộc một phần thửa đất số 286, tờ bản đồ số 11 (theo
bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất 286, tờ bản đồ số 11 được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Thị H) nên ông yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H liên quan đến các diện tích đất nêu
trên. Qua kết quả xem xét, thẩm định xác định trên phần đất tranh chấp thứ nhất có
một phần căn nhà của ông một cây nước ống phi 49 thì ông thống nhất. Đối với
kết quả đo đạc, xem xét thẩm định định giá tài sản tranh chấp ngày 06/12/2024,
ông thống nhất không yêu cầu đo đạc hay định giá lại. Tại phiên tòa thẩm, ông
K1 xác định nếu căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H thì ông đồng ý
3
tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất không đặt ra yêu cầu đối với bà H; đối với
phần diện tích đất đã san lắp mặt bằng thành nền nhà ông cũng không đặt ra yêu cầu
gì đối với bà H.
- Theo bà Đoàn Thị Đ, trình bày:
Đ là vợ ca ông Lâm Văn K1. Phần đất tranh chấp và tài sản gắn liền với
phần đất tranh chấp tài sản chung của vợ chồng bà. Trong vụ án này, bà thống
nhất với toàn bộ ý kiến và yêu cầu của ông Lâm Văn K1. Ngoài ra, bà không cóu
cầu gì khác.
- Theo bà Đoàn Thị T trình bày:
T chị ruột của Đoàn Thị Đ, hiện tại chỉ đang nhờ trên căn nhà
của vợ chồng ông K1. Đối với vụ việc tranh chấp giữa H và ông K1không có
liên quan gì nên không có yêu cầu hay ý kiến gì.
- Theo ông Lâm Trọng H2 trình bày:
Ông H2 con ruột của ông Lâm Văn K1 Đoàn Thị Đ. Phần đất tranh
chấp giữa cha ông và H tài sản của cha mẹ ông, không phải là tài sản của ông
H2. Hiện tại ông chỉ đang sống chung nhà với cha mẹ. Đối với vụ án này, ông H2
thống nhất theo ý kiến trình bày và yêu cầu của cha ông là ông K1.
- Theo bà Ngô Phượng K2 trình bày:
K2 vcủa ông Lâm Trọng H2là con dâu ông Lâm Văn K1, Đoàn
Thị Đ. Phần đất tranh chấp với Lâm Thị H4 tài sản chung của cha mẹ chồng
bà. Hiện tại vợ chồng bà chỉ đang sống chung nhà với cha mẹ. Đối với vụ án này,
K2 thống nhất theo ý kiến trình bày và yêu cầu của cha mẹ chồng bà.
- Đại diện Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Cà Mau trình y:
Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạch Liêu (cũ) cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BT 527308, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00961, thửa
đất số 286, tờ bản đồ số 11 cho hộ bà Lê Thị H ngày 05/6/2014 là căn cứ theo đúng
quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm cấp giấy. Toàn bộ diện tích đất tranh
chấp qua kiểm tra hiện nay chưa thuộc dự án quy hoạch nào. Việc ông Lâm Văn K1
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H liên quan đến diện tích
đất tranh chấp thì Ủy ban nhân dân xã L không có ý kiến. Ủy ban nhân dân xã L đề
nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và ý kiến của Ủy ban để
xem xét, giải quyết. Trường hợp phải đính chính, thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bà H, Ủy ban nhân dân xã L sẽ căn cứ theo quy định tại Điều
152 của Luật đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan để thực hiện.
Tại bản án dân sự thẩm số: 162/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 Cà Mau quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Thị H đối với ông Lâm Văn
K1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc ông Lâm Văn K1, bà Đoàn Thị Đ, anh Lâm Trọng H2, chị Ngô Phượng
K2, Đoàn Thị T phải tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất tranh chấp gồm một phần
4
căn nhà của ông Lâm Văn K1, Đoàn Thị Đ xây dựng năm 2019 có chiều ngang
1,3m x chiều dài 13,5m. Kết cấu cây gỗ địa phương; nền xi măng; mái tol lạnh; vách
+ tường xây. Một cây nước ống phi 49. Buộc ông Lâm Văn K1, bà Đoàn Thị Đ
phải giao trả cho bà Lê Thị H các diện tích đất sau:
* Phần đất thứ nhất (từ kênh xáng đến lộ Giá Rai Gành Hào);
- Hướng Đông: Giáp lộ Giá Rai – Gành Hào có số đo 2,18m + 5,6m;
- Hướng T3: Giáp đất ông Hồ Văn T1 đang sử dụng có số đo 1,2m + 11,5m;
- H: Giáp đất bà Lê Thị H đang sử dụng có sđo 8,44m + 42,91m + 38,81m
+ 15,7m;
- Hướng B1: Giáp đất ông Lâm Văn K1 sử dụng có số đo 81,85m + 15,45m;
Diện tích: 703,4m
2
(bao gồm 34,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 6, tờ 70; 619,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ 70; 49,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, t70
(theo bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H)).
Hiện trạng: Đường xổ nước và một phần căn nhà của ông Lâm Văn K1 xây dựng
năm 2019 có chiều ngang 1,3m x chiều dài 13,5m. Kết cấu cây gỗ địa phương; nền
xi măng; mái tol lạnh; vách lá + tường xây. Một cây nước ống phi 49.
* Phần đất thứ hai:
- H: Giáp kênh thủy lợi có số đo 1,14m + 2,01m + 3,91m;
- Hướng T3: G đường G Gành Hào có số đo 0,76 m + 6,62m;
- H: Giáp đất bà Lê Thị H đang sử dụng có số đo 15,41m + 42,43m;
- Hướng B1: Giáp đất ông Lâm Văn K1 sử dụng có số đo 15,39m + 42,15m.
Diện tích: 362,1m
2
(bao gồm 264,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 3, t70; 50,4m
2
47,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 3, tờ 70 (theo bản đồ chính quy năm 2006:
thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất
đứng tên bà Lê Thị H));
Hiện trạng: Đường xổ nước.
* Phần đất thứ ba (từ kênh thủy lợi về phía hậu đất):
- H: Giáp đất ông Lâm Văn K1 có số đo 4,82m + 0.78m;
- Hướng T3: Giáp kênh thủy lợi có số đo 3,14m + 4,31m;
- H: Giáp đất bà Lê Thị H đang sử dụng có số đo 109,43m;
- Hướng B1: Giáp đất ông Lâm Văn K1 sử dụng có số đo 104,17m.
Diện tích: 626,7m
2
(bao gồm 441,6m
2
thuộc một phần thửa đất số 216, tờ 7; 185,1m
2
(thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất đứng tên bà Lê Thị H));
Hiện trạng: Đường xổ nước.
5
Thị H có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục
khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
Không chấp nhận u cầu của ông Lâm Văn K1 về việc yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Thị Hồng S BT 527308, vào sổ cấp giấy
chứng nhận: CH 00961 được UBND huyện Đ cấp ngày 05/6/2014 đối với phần đất
diện tích 332,6m
2
(bao gồm 49,4 m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số
70; 50,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 3, tờ 70; 47,7m
2
thuộc một phần thửa đất số
2, tờ 70 và 185,1m
2
thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án
phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/6/2026, ông Lâm Văn K1 đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lâm Văn K1 giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Luật H1 trình bày: Trong phần đất tranh chấp đo đạc diện tích 1.692,2m
2
thì diện tích nằm trong quyền sử dụng đất của H đứng tên chỉ 332,6m
2
; phần
diện tích còn lại do ông K1 đứng tên smục năm 2024. Phần đất tranh chấp do
ông K1 quản lý sử dụng từ trước đến nay, những người sinh sống ở địa phương đều
biết xác nhận; ông K1 cất nhà, khoan cây nước trên phần đất từ năm 2019
nhưng phía H không ý kiến gì, đến năm 2024 H mới phát sinh tranh chấp
cho rằng ông T2 lấn chiếm đất. Đối với những người làm chứng như ông Bùi Văn
A, ông Văn T2, ông Văn H5 mối quan hệ là người thân của bà H (ông Bùi
Văn A con cậu ruột với H; ông T2 ông H5 em ruột của H) nên
trình bày của những người này cho rằng phần đất tranh chấp của H không khách
quan, không phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, kiến nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông K1, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca bà H.
Ông K1 phát biểu: Thống nhất với ý kiến tranh luận của Luật H1, không
có ý kiến tranh luận thêm.
Ông K phát biểu: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, không có ý kiến tranh
luận thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của B
luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lâm Văn K1, sửa bản
án sơ thẩm: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc ông K1 trả cho
bà H một phần diện tích đất tranh chấp theo đo đạc là 332,6m
2
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo ca ông Lâm Văn K1, Hội đồng xét xử xét thấy:
6
[1] Theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp Thị H khởi kiện yêu cầu
ông Lâm Văn K1 giao trả lại có diện tích 1.692,2m
2
, đất tọa lạc tại ấp C, xã L, tỉnh
Mau, gồm các phần diện tích cụ thể: 34,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 6, tờ 70;
619,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ 70; 49,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 1,
tờ 70 (theo bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được
cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H); 264,0m
2
thuộc một
phần thửa đất số 3, tờ 70; 50,4m
2
thuộc một phần thửa đất s3, tờ 70 (theo bản đồ
chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được cấp giấy chứng
nhận Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H); 47,7m
2
thuộc một phần thửa đất s
2, tờ 70 (theo bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11
được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H); 441,6m
2
thuộc
một phần thửa đất số 216, tờ 7; 185,1m
2
thuộc một phần thửa đất số 286, tờ 11 được
cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên Lê Thị H.
[2] Xét nguồn gốc đất của bà H, ông K1 sử dụng:
Đối với phần đất của H sử dụng nguồn gốc là ca ông Lê Văn T2 nhận chuyển
nhượng của ông Bùi Văn A vào năm 1992; ông Thanh quản L sử dụng đất đến năm
1997 chuyển nhượng toàn bphần đất lại cho H, bà H được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 10/02/2004, thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14; cấp đổi lại
ngày 05/6/2014, thửa đất số 286, tờ bản đồ 11, diện tích 21.019,5m
2
.
Đối với phần đất của ông K1 sử dụng nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông
Bùi Văn A vào năm 1991, ông K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
ngày 06/10/1995, thửa đất số 135, tờ bản đồ số 14, diện tích 31.790m
2
.
Đối với phần đất tranh chấp, cả H ông K1 đều cho rằng toàn bộ phần
đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của mình đã được Cơ quan thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo ng văn số 66/CV-
CNVPĐK ngày 04/2/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác định phần diện tích đất
tranh chấp có tổng diện tích 1.692,2m
2
, trong đó:
Phần 619, 5m
2
thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ 70; 264,0m
2
thuộc
một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 70 và 441,6m
2
thuộc một phần thửa đất số 216
tờ bản đồ số 07 được ông Lâm Văn K1 kê khai trên sổ mục kê năm 2024;
Phần 34,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 06, tờ bản đồ số 70 được ông HVăn
T1 khai trên sổ mục kê năm 2024;
Phần 49,4 m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 70; 50,4m
2
thuộc
một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 70; 47,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 2, tờ bản
đồ số 70 185,1m
2
thuộc một phần thửa đất số 286, tờ bản đồ số 11 (theo bản đồ
chính quy năm 2006 là thuộc một phần thửa đất 286, tờ bản đồ số 11 được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H).
Đối với diện tích 34,5m
2
theo Sổ mục kê năm 2024 đứng tên ông Hồ Văn T1,
ông T1 xác định không phải đất của ông, nhưng ông không của ai, việc
quan chức năng xác định ông kê khai trên sổ mục kê năm 2024 là có sai sót.
7
Đối với hiện trạng của phần đất tranh chấp, các đương sự đều thừa nhận trước
đây đường xổ nước. H xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp 1.692,2m
2
nằm trong diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông T2, ông K1 xác định nằm
trong diện tích đất ông K1 nhận chuyển nhượng của ông A. Tuy nhiên, tại hồ sơ cả
H và ông K1 đều không cung cấp được giấy tờ sang nhượng liên quan đến phần
đất tranh chấp để chứng minh. Tuy nhiên, từ khi chuyển nhượng cho đến nay các
chủ đất cũ là ông A, ông T2 cũng không có tranh chấp với ông K1 hay bà H đối với
phần đất này.
[3] Về qtrình quản sử dụng đối với phần đất tranh chấp: H ông K1
đều cho rằng mình là người quản sdụng phần đất tranh chấp tkhi nhận chuyển
nhượng đất cho đến nay. Qua đối chiếu lời trình bày của các bên đương sự với các
tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thấy rằng: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
đối với phần đất tranh chấp thể hiện trên phần đất tranh chấp một phần căn nhà
của ông K1 ngang 1,3m; dài 13,5m và 01 cây nước ống phi 49 của ông K1 (nhà cất
và cây nước khoan vào năm 2019). Tại đơn khởi kiện của bà H trình bày của ông
K đều xác định: “Đến năm 2024 phát hiện ông K1 lấn chiếm đất”. Nvậy, lời trình
bày của bà H ông K là mâu thuẫn với việc quản lý sử dụng đất; bởi lẽ, nếu bà như
H quản lý sử dụng đất nH trình bày trong khi đó ông K1 cất nhà, khoan cây
nước trên đất từ năm 2019 lại không phát hiện ông K1 lấn chiếm đất đến năm
2024 mới phát hiện ông K1 lấn chiếm đất không tính thuyết phục. Tại phiên
toà, ông K cho rằng khi ông K1 cất nhà, khoan cây nước ông trình báo chính
quyền địa phương, khi đó ông K1 hỏi mượn phần đất để cất nhà, khoan cây nước,
khi nào gia đình ông cần sử dụng phần đất thì ông K1 tháo dỡ, di dời tài sản để trả
lại đất; nhưng phía ông K1 không thừa nhận có sự việc như ông K trình bày, ông K
cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do đó, trình bày của
H, ông K cho rằng quản phần đất tranh chấp từ khi nhận chuyển nhượng
chưa có căn cứ.
[4] Đồng thời, tại phiên toà ông K cũng cho rằng trước đây giữa phần con
mương xổ do ông K1 sử dụng (ngang 02m) với phần đất tranh chấp branh chiều
ngang khoảng 02m đến 03m; nhưng do mương xổ của ông K1 xổ nhiều năm nên bờ
ranh bị sạt lở hết, hiện nay bờ ranh không còn. Phía ông K1 xác định không b
ranh như ông K trình bày; ông K cũng không tài liệu chứng cứ chứng minh cho
trình bày của ông là có căn cứ.
[5] Đối với những người làm chứng như ông Bùi Văn A, ông Lê Văn T2, ông
Văn H5 đều cho rằng phần đất tranh chấp của H, nhưng những người này
không đưa ra được tài liệu chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, ông Bùi Văn A
mối quan hệ bà con cô cậu ruột với H; còn đối với ông T2ông H5 tại biên bản
ghi lời khai của Toà án cấp thẩm thì ông T2 ông H5 trình bày không mối
quan hệ con với H. Tuy nhiên, tại phiên toà ông K xác định ông T2, ông H5
với H mối quan hệ chị em ruột với nhau. Như vậy, trình bày của ông T2,
ông H5 là không trung thực, không đảm bảo tính khách quan. Do đó, không thể sử
dụng lời trình bày của ông A, ông T2 và ông H5 để làm chứng cứ xác định phần đất
tranh chấp là của bà H.
8
[6] Đối với lời trình bày của ông Văn H6 Trưởng ấp C, L, tỉnh
Mau cho rằng đường nước x thông thường đối với diện tích đất nuôi trồng thủy sản
lớn ở địa phương có chiều ngang trung bình khoảng 02m. Xét lời trình bày của ông
H6 chỉ mang tính chất tham khảo, không thể căn cứ vào trình bày của ông H6 để xác
định phần đường nước xổ của ông K1 chiều ngang là 02m.
[7] Với các tài liệu chứng cứ thu thập tại hồ sơ thể hiện trong phần diện
tích đất tranh chấp 1.692,2m
2
chỉ diện tích 332,6m
2
(gồm 49,4m
2
; 50,4m
2
;
47,7m
2
; 185,1m
2
) thuộc quyền sử dụng đất cấp cho H đứng tên; phần diện tích
còn lại 1.359,6m
2
(gồm 619,5m
2
; 34,5m
2
; 264,0m
2
; 441,6m
2
) không thuộc quyền sử
dụng đất của H được cấp, theo sổ mục năm 2024 đứng tên ông K1, ông
T1. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của H, buộc ông K1
trả cho H toàn bộ diện tích đất tranh chấp theo đo đạc 1.692,2m
2
chưa phù hợp;
do đó, cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của bà H, buộc ông K1 trả cho H diện tích đất 332,6m
2
; không chấp nhận một
phần yêu cầu của bà H đối với diện tích còn lại 1.359,6m
2
là có căn cứ.
[8] Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 13.200.000 đồng. Do chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông K1 diện tích 332,6m
2
nên ông K1 phải
chịu chi phí tố tụng tương ứng với số tiền là 2.595.000 đồng; H phải chịu
10.605.000 đồng. Do H đã nộp xong toàn bộ số tiền chi phí tố tụng nên buộc ông
K1 trả lại cho bà H số tiền 2.595.000 đồng.
[9] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông
Lâm Văn K1, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H
là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí
Án phí dân sthẩm: H, ông K1 người cao tuổi nên được miễn chịu
án phí.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông K1 không chịu án phí (đã được miễn dự nộp).
[11] Các quyết định khác của bản án thẩm không b kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo ông Lâm Văn K1.
Sửa bản án dân sthẩm số: 162/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
9
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ca bà Lê Thị H.
Buộc ông Lâm Văn K1 những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
Đoàn Thị Đ, anh Lâm Trọng H2, chNgô Phượng K2 trả lại cho bà Lê Thị Hồng
P đất tranh chấp theo đo đạc diện tích: 49,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ bản
đồ số 70 (theo bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ bản
đồ số 11 được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên Thị H);
50,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 70 (theo bản đchính quy năm
2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ bản đồ số 11 được cấp giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H); 47,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 2, tờ
bản đồ số 70 (theo bản đồ chính quy năm 2006: thuộc một phần thửa đất số 286, tờ
bản đồ số 11 được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên Thị H);
185,1m
2
thuộc mt phần thửa đất số 286, tờ bản đồ số 11 được cấp giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị H); Tổng diện tích là 332,6m
2
, đất toạ lạc tại
ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc: Buộc ông
Lâm Văn K1 trả cho Lê Thị Hồng P đất tranh chấp theo đo đạc diện tích: 619,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 70; 34,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 6,
tờ bản đồ số 70; 264,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 70; 441,6m
2
thuộc một phần thửa đất số 216, tờ bản đồ số 7; Tổng diện tích là 1.359,6m
2
, đất toạ
lạc tại ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau và buộc ông Lâm Văn K1 phải tháo dỡ, di dời các tài
sản trên đất tranh chấp gồm một phần căn nhà của ông Lâm Văn K1 xây dựng năm
2019 chiều ngang 1,3m x chiều dài 13,5m (Kết cấu cây gỗ địa phương, nền xi
măng, mái tol lạnh, vách lá + tường xây), 01 cây nước ống phi 49 để trả đất cho bà
Lê Thị H.
Vị trí, ranh giới, kích thước của các phần diện tích đất được thể hiện tại Bản
vẽ hiện trạng khu đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng Đ1.
(Có Bản vẽ hiện trạng kèm theo)
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn K1 về việc yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Thị Hồng S BT 527308 do Ủy ban nhân
dân huyện Đ cấp ngày 05/6/2014 đối với phần đất diện tích 332,6m
2
(bao gồm
49,4 m
2
thuộc một phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 70; 50,4m
2
thuộc một phần thửa
đất số 3, tờ bản đồ số 70; 47,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 2, tờ bản đồ số 70
185,1m
2
thuộc mt phần thửa đất số 286, tờ bản đồ số 11).
- Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 13.200.000 đồng: Ông Lâm Văn K1 phải
chịu 2.595.000 đồng; H phải chịu 10.605.000 đồng. Do H đã nộp xong
toàn bộ số tiền chi phí tố tụng nên buộc ông K1 trả lại cho H số tiền 2.595.000
đồng.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản
tiền nêu trên thì hàng tháng ông K1 còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s
10
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H, ông K1 được miễn chịu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông K1 không chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 8- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 8- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 623/2026/DS-PT Bản án số 623/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 623/2026/DS-PT Bản án số 623/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất