Bản án số 543/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 543/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 543/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 543/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị Huyền T1; sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 543/2026/DS-PT Bản án số 543/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 543/2026/DS-PT Bản án số 543/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 543/2026/DS-PT
Ngày: 10-9-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng Dân sự
vay tài sản, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thanh
Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 495/2026/TLPT-DS ngày 31/7/2026 về tranh
chấp: “Hợp đồng Dân sự vay tài sản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 599/2026/QĐ-PT ngày 06 tháng 8
năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 498/2026/QĐ-PT ngày 28/8/2026 giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Thị T, sinh năm: 1972; địa chỉ: thôn K, Q, tỉnh Lâm
Đồng, có mặt.
Bị đơn: Vợ chồng ông Phan Xuân H, sinh năm: 1982, bà Thị Huyền T1,
sinh năm: 1986; địa chỉ: số E, đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông H: Thị Huyền T1, sinh năm: 1986;
địa chỉ: sE, đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy
quyền (Văn bản y quyền số 438, quyển số 06/2024/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn
phòng C tỉnh Lâm Đồng chứng nhận ngày 03/6/2024), vắng mặt.
2
Người đại diện hợp pháp của ông H, T1: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh
năm: 2002; địa chỉ: số G, đường T, Phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Anh Phạm
Thanh V1, sinh năm: 1981; địa chỉ: số G B, đường N, Phường L - Đ, tỉnh Lâm
Đồng. Chị Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm: 2003; địa chỉ: D, khu Q - N, Phường
C - Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số
3310/2026/CCGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 06/5/2026), chị V, anh V1
có mặt, chị T2 vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Kim T3, sinh năm: 1974;
địa chỉ: thôn T, xã K, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Lê Thị Huyền T1 Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 14/11/2023, lời trình bày tại các bản
tự khai trong quá trình giải quyết tham gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm của
Lê Thị T thì:
Vợ chồng ông Phan Xuân H, Thị Huyền T1 có nhận chuyển nhượng
căn nhà của gia đình tại địa chỉ: số E, đường Đ, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng,
giá trị chuyển nhượng là 4.020.000.000đ. Căn nhà này do Lê Thị Kim T3 đứng
tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền số CM 306422 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh L (nay Sở Nông
nghiệp môi trường tỉnh L) cấp ngày 20/3/2018 đối với diện tích đất 163,95m
2
thuộc thửa 131, tờ bản đồ số 56 (D93-II-A-d) tại 05/62, đường Đ, Phường X - Đ,
tỉnh Lâm Đồng; các bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Sau khi
được bàn giao nhà, không giao đủ tiền nên vchồng ông H, T1 đã viết giấy
mượn số tiền 500.000.000đ vào ngày 03/7/2019, hẹn thời hạn 03 tháng strả dứt
điểm. Hiện nay căn nhà nói trên đã được sang tên cho vợ chồng ông H, bà T1.
Sau đó dịch Covid nên hai bên thỏa thuận vợ chồng ông H, T1 sẽ trả lãi
cho bà để trả lãi cho ngân hàng đúng với lãi suất ngân hàng tương ứng với số tiền
còn nợ 500.000.000đ. Sau đó vợ chồng ông H, T1 chỉ trả cho đúng 02 lần
tiền lãi, một lần chuyển khoản vào tài khoản của ông Trần Văn D (là chồng của
bà) ngày 18/02/2020 3.200.000đ sau 02 tháng thì lên nhà bà T1 lấy tiền
mặt, tổng cộng hai lần là 7.000.000đ, sau đó bị đơn không trả nữa. Bà đã nhiều lần
đến yêu cầu vợ chồng ông H, T1 trả nợ nhưng không trả cứ hẹn nhiều lần.
Đến ngày 20/4/2023 vợ chồng ông H, T1 đăng thông tin lên mạng để bán căn
nhà nói trên với giá 13.000.000.000đ chưa trả dứt điểm tiền nợ cho bà. Như
vậy, tính tới nay vợ chồng ông H, T1 vẫn còn nợ 500.000.000đ. Việc vợ
chồng ông H, T1 không trả nợ đã gây cho bà nhiều khó khăn, thiệt hại không
có tiền trả lãi ngân hàng.
Do vậy, nay đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc vợ chồng
ông Phan Xuân H, bà Thị Huyền T1 trả số tiền còn thiếu (nợ gốc)
3
500.000.000đ lãi phát sinh theo lãi suất vay tín chấp ngân hàng kể từ tháng
01/2020 đến khi xét xử sơ thẩm, tạm tính 347.496.000đ. Tại phiên tòa thẩm,
bà chỉ yêu cầu tính lãi với mức lãi suất là 10%/năm, trường hợp bị đơn có thiện chí
trả tiền liền thì bà đồng ý giảm cho bị đơn 100.000.000đ tiền lãi.
- Theo lời trình bày của Thị Huyền T1 thì: Ngày 01/7/2019 viết
giấy vay số tiền 500.000.000đ của T; bà và chồng là ông Phan Xuân H ký và
ghi họ n. Tuy nhiên, Giấy mượn tiền” y do T yêu cầu viết nhưng
thực tế thì các bên không việc giao nhận tiền. Đây hợp đồng giả cách liên
quan đến việc mua bán nhà tại 0, đường Đ, Phường X - Đ của bà T; căn nhà này do
Thị Kim T3, em gái của T, đứng tên còn mọi giao dịch đều do T thực
hiện. Bà thừa nhận số tiền 500.000.000đ vợ chồng giữ lại liên quan đến
việc mua nhà chứ thực tế nguyên đơn không giao tiền cho bà.
Hiện nay vợ chồng bà xác nhận còn nợ lại tiền mua nhà của T
500.000.000đ. Tuy nhiên, bà không đồng ý trả lại cho bà T số tiền này vì theo biên
bản giao kết bà T3, bà T phải thực hiện việc hoàn công căn nhà có diện tích 480m
2
vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà. Hiện nay thủ tục chuyển
nhượng đã hoàn thành đã sang tên vợ chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nhưng chưa hoàn công về việc ghi nhận tài sản trên đất nên không
đồng ý trả lại cho bà T số tiền 500.000.000đ theo giấy mượn tiền nêu trên.
Ngoài ra, yêu cầu phản tđề nghị Tòa án giải quyết: hủy “Giấy mượn
tiền” ngày 01/7/2019 thực tế đây không phải tiền vay tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng với
Thị Kim T3.
Nay, T đồng ý trừ tiền lãi 7.000.000đ giảm thêm 100.000.000đ tiền
lãi thì không đồng ý vợ chồng không vay tiền của T. Đối với stiền
500.000.000đ tiền nợ chuyển nhượng thì đề nghị chia đôi; mỗi bên chịu ½ để hoàn
công nhà trên đất; do vậy vợ chồng đồng ý trả cho nguyên đơn 250.000.000đ
còn lại.
Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 57/2026/DS - ST ngày ngày 05/6/2026; Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị T về việc “Tranh
chấp hợp đồng Dân sự vay tài sản” với đối với bị đơn vợ chồng ông Phan Xuân H,
Lê Thị Huyền T1.
Buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 938.236.999đ (trong
đó nợ gốc là 500.000.000đ và nợ lãi phát sinh 438.236.999đ).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn vợ chồng ông Phan Xuân H,
Lê Thị Huyền T1 về việc yêu cầu hủy giấy mượn tiền ngày 01/7/2019.
4
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi pttụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 17/6/2026 Thị Huyền T1 kháng cáo đối với Bản án thẩm, đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn v
việc tuyên hủy giấy mượn tiền ngày 01/7/2026 giữa vợ chồng bà và bà T.
Tại phiên tòa,
Chị Nguyễn Thị Cẩm V, anh Nguyễn Thành V2, người đại diện theo uỷ quyền
của bà Lê Thị Huyền T1, vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Lê Thị T không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Lê Thị Huyền T1; thủ tục
kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật
Tố tụng n sự nên đđiều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Qua xem xét thì thấy rằng:
[2.1] Ngày 20/9/2018 giữa Thị Kim T3 bà Lê Thị Huyền T1
hợp đồng đặt cọc về việc thỏa thuận mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tại thửa 131, tờ bản đồ số 56 (D1), Phường D, thành phố Đ (nay Phường X -
Đ), tỉnh Lâm Đồng, hợp đồng đặt cọc được Văn phòng C2 chứng nhận số 3472,
quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/9/2018. Quá trình giải quyết vụ án, các
đương sự đều thừa nhận căn nhà nói trên của gia đình T. Tuy nhiên, T3
người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 22/5/2019 T3 ông H hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất, được Văn phòng C2 chứng nhận số 5261, quyển số
04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/2019. Cùng ngày 22/5/2019 T3 ông H lập
hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất (có tài sản gắn liền
với đất) được Văn phòng C2 chứng nhận số 5270, quyển số 04/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 22/5/2019, sau đó T3 và ông H lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất được Văn phòng C2 chứng nhận
5
số công chứng 5271, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/5/2019, g trị
chuyển nhượng tại hợp đồng chuyển nhượng 1.000.000.000đ, tuy nhiên hai n
thừa nhận giá trị thực tế chuyển nhượng là 4.020.000.000đ. Đồng thời, hiện nay vợ
chồng ông H, bà T1 chỉ còn nợ lại số tiền 500.000.000đ.
Ngày 19/6/2019 vợ chồng ông H, bà T1 đã được đăng ký biến động trên trang
4 của Giấy chng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đồng thời,
nguyên đơn đã bàn giao nhà quyền sử dụng đất cho bđơn quản lý, sử dụng từ
khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Như vậy việc thoả thuận chuyển nhượng đã
được các bên thừa nhận thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, các
bên không tranh chấp về các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên;
chỉ tranh chấp số tiền 500.000.000đ còn thiếu sau đó chuyển thành khoản tiền
vay nên cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2.2] Theo nội dung của “Giấy mượn tiền” ngày 03/7/2019 (BL 131) thì:
“Hôm nay ngày 03 tháng 7 năm 2019...Bên n nhà Thị T...và Thị
Huyền T1....chúng tôi thoả thuận khoản vay như sau: số tiền 500.000đ (năm trăm
triệu đồng), lãi suất 0%, thời gian thanh toán 03 tháng kể từ ngày giấy nợ,
chúng tôi cam kết sẽ thanh toán đúng thời hạn, phía dưới chữ ghi htên
của bà Lê Thị Huyền T1, bà Lê Thị T”.
Quá trình giải quyết vụ án, T cho rằng sau khi hoàn tất thủ tục chuyển
nhượng do vợ chồng ông H, bà T1 gặp khó khăn nên hai bên thống nhất chuyển số
tiền 500.000.000đ còn thiếu thành tiền vay; do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán
nên nguyên đơn đã yêu cầu vợ chồng ông H, bà T1 trả lại số tiền nói trên và tiền lãi
theo quy định. Vợ chồng ông H, T1 cho rằng do không việc giao nhận tiền
trong thực tế, đây hợp đồng giả cách liên quan đến việc mua bán nhà nói trên
nên không đồng ý trả vì để trừ vào tiền hoàn công.
Xét thấy, việc các bên thoả thuận mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đã được hoàn tất, bên nhận chuyển nhượng cho rằng không nvay
số tiền này dùng để hoàn công căn nhà trên đất, tuy nhiên sau khi các bên lập
giấy thỏa thuận vấn đề này vào ngày 20/9/2018 thì đến ngày 03/7/2019 vchồng
ông H, T1 lại viết lại giấy vay số tiền mua bán nhà còn thiếu với T thỏa
thuận thời gian đối với số tiền này là 03 tháng kể từ ngày ký giấy nợ; sau đó bị đơn
trcho nguyên đơn hai lần tiền lãi, điều này thể hiện việc thỏa thuận bên mua
giữ lại số tiền 500.000.000đ để làm thủ tục hoàn công đã chấm dứt từ ngày hai bên
viết “Giấy mượn tiền”; bị đơn cho rằng việc vào “Giấy mượn tiền” này là do
nguyên đơn năn nỉ viết để chứng minh cho chủ nợ của T nhưng không xuất
trình được chứng cứ chứng minh, trong khi đó T cũng không thừa nhận. Do đó
Toà án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông H, bà T1 phải có trách nhiệm trả lại cho
T số tiền 500.000.000đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
6
[2.3] Về yêu cầu tính tiền lãi:
Tại “Giấy mượn tiền” ngày 03/7/2019 (BL 131) các bên không thoả thuận lãi
suất, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất với mức 10%/năm; cấp thẩm căn cứ vào
khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 khoản 1
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao để buộc bị đơn trả tiền lãi cho nguyên đơn là có căn cứ.
Tuy nhiên, việc tính toán của cấp sơ thẩm có sự nhầm lẫn nên cần tính lại tiền
lãi như sau: từ ngày 04/10/2019 -> ngày 05/6/2026 (ngày xét xử thẩm):
500.000.000đ x 10%/năm x 06 năm 08 tháng 01 ngày = 333.472.200đ (làm tròn).
[3] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị
Huyền T1; sửa Bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[4] Về chi phí tố tụng: chi phí sao lục hsơ, xem xét, thẩm định tại chỗ
896.600đ; nguyên đơn đã tạm nộp được Tòa án cấp thẩm quyết toán xong.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải tr
lại số tiền này cho bà T là phù hợp.
[5] Về án phí:
Do sửa án nên bà Lê Thị Huyền T1 không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm;
tuy nhiên vợ chồng H, T1 phải chịu án phí Dân sự thẩm tương ứng với số
tiền phải trả cho bà T theo quy định của pháp luật.
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên T không phải chịu án phí Dân sự
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 280, 357, 463, 468 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng o của Thị Huyền T1; sửa một phần Bản
án Dân sự thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân n khu
vực 1 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Thị T về việc: “Tranh chấp hợp
đồng Dân sự vay tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
7
tài sản gắn liền với đất đối với vợ chồng ông Phan Xuân H, Thị Huyền
T1.
2. Buộc vợ chồng ông Phan Xuân H, bà Thị Huyền T1 trách nhiệm trả
cho Thị T số tiền 833.472.200đ (tám trăm ba mươi ba triệu bốn trăm bảy
mươi hai nghìn hai trăm đồng), trong đó tiền gốc là 500.000.000đ (năm trăm triệu
đồng), tiền lãi 333.472.200đ (ba trăm ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi hai
nghìn hai trăm đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Huyền T1 về việc yêu cầu
hủy “Giấy mượn tiền” ngày 03/7/2019.
4. Về chi phí tố tụng: vợ chồng ông Phan Xuân H, Thị Huyền T1 phải
chịu 896.600đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; vợ chồng ông H, bà T1 trách
nhiệm trả lại cho Thị T số tiền 896.600đ (tám trăm chín mươi sáu nghìn sáu
trăm đồng).
5. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Vợ chồng ông Phan Xuân H, ThHuyền T1 phải chịu 37.338.900đ án
phí Dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001005 ngày 23/7/2024
của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng
Thi hành án Dân sự khu vực 1 Lâm Đồng) 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự
phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011682 ngày
22/6/2026 của Thi nh án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng ông Phan Xuân H,
Lê Thị Huyền T1 còn phải nộp 36.738.900đ án phí còn thiếu.
Thị T không phải chịu án phí Dân sự thẩm; T được nhận lại số
tiền 18.712.440đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0000084 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 1
Lâm Đồng).
- Án phí phúc thẩm:
Lê Thị Huyền T1 không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm.
6. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và Điều 72
Luật Thi hành án Dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ – Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 1 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS KV1 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (03);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 543/2026/DS-PT Bản án số 543/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 543/2026/DS-PT Bản án số 543/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất