Bản án số 592/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 592/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 592/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 592/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thnh T yêu cầu ông Phạm Văn Th thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 592/2026/DS-PT
Ngày 28 8 - 2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng
Quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Nguyệt
Ông Phùng Văn Định
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2026/TLPT-
DS ngày 08 tháng 5 năm 2026 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng
Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2026/DS-ST ngày 25 háng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: 1/ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1954 - Căn cước công dân
số ************;
2/ Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1960 - Căn cước công dân số
************.
Cùng địa chỉ: Số D, đường T, khóm F, phường P, tỉnh Cà Mau.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Xuân K, sinh năm 1977- Căn
cước công dân số ************ (theo văn bản ủy quyền ngày 02/6/2025); Địa chỉ:
Số G, đường C, phường T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1970 - Căn cước công dân số
************.
Địa chỉ: Số D, đường T, khóm F, phường L, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Thanh N, sinh năm 1959 (vắng mặt);
2/ Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1964 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau.
3/ Bà Phạm Kim N1, sinh năm 1948 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Mau (nay phường T, tỉnh
2
Cà Mau).
4/ Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1950 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm F, phường L, tỉnh Cà Mau.
5/ Bà Phạm Thị M, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là xã Q, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thu H nguyên
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Phạm Xuân K trình bày: Vợ
chồng ông Phạm Ngọc A1 Đặng Thị K1 người khai hóa, quản lý, sử dụng
phần đất diện tích 37.361m
2
tại khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay
là phường L, tỉnh Cà Mau). Ông A1, bà K1 cho con ruột là anh Phạm Thanh N một
phần thửa đất trên với diện tích 6.490m
2
để canh tác. Ngày 20/6/2001, ông A1,
K1, anh N chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, H một phần của phần đất trên,
diện tích 17.708,4m
2
(trong đó có phần đất của anh N là 6.490m
2
), gồm đất vườn
đất nuôi trồng thủy sản. Các bên lập hợp đồng chuyển nhượng, được Ban nhân
dân khóm 6 và cán bộ địa chính phường H xác nhận trong bản xác minh. Vợ chồng
ông T, H đã thanh toán số tiền chuyển nhượng đất và ông A1, K1, anh N, đã
cặm mốc giao đất cho vợ chồng ông T, H quản canh tác ổn định liên tục cho
đến nay.
Do thời điểm chuyển nhượng phía gia đình ông A1 chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nên được hướng dẫn là vợ chồng ông A1 đứng ra làm giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó tách thửa sang tên cho vợ chồng ông T, bà H.
Ngày 13/03/2003, vợ chồng ông A1 được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa số 13, tờ bản đồ số 33 diện tích 37.361m
2
tại khóm F, phường
H, thành phố C. Sau khi ông A1, K1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, do hoàn cảnh gia đình ông T, H khó khăn nên ông A1, K1 đồng ý bảo lãnh
thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, H vay vốn
ngân hàng để trị bệnh cho người thân. Đến khi tất toán hợp đồng vay thì phần đất
nhận chuyển nhượng nêu trên một phần nằm trong quy hoạch đường vành đai
Tây Nam (thửa số 381, 382 tờ bản đồ số 4), không làm giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được, phần còn lại không dính quy hoạch là một phần thửa số 348, 349 tờ
bản đồ số 4.
K1 chết năm 2008, ông A1 chết tháng 9/2019. Sau khi ông A1 chết thì ông
Phạm Văn T1 (con trai ông A1, K1) đã làm thủ tục chuyển tên chủ sử dụng đất
từ ông A1, bà K1 sang tên Phạm Văn T1. Trước khi sang tên chủ sử dụng đất, ông
T1 cam kết sau khi đứng tên chủ sdụng đất sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng
làm thủ tục tách thửa, sang tên phần đất đã chuyển nhượng cho ông T, H. Tại biên
bản thỏa thuận lúc 15 giờ 00 ngày 23/9/2019 của UBND phường H2, thành phố C,
ông T1 cũng đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và làm thủ tục tách
thửa, sang tên phần đất đã được ông A1, bà K1 giao cho vợ chồng ông T, bà H.
3
Do thửa số 381, 382 tờ bản đồ số 4 nằm trong quy hoạch đường vành đai Tây
Nam không tách thửa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nên ông T1 đã
hỗ trợ tách thửa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một phần thửa 349 (đất
nuôi trồng thủy sản) thành thửa số 400, diện tích 4.168,4m
2
cho vợ chồng ông T, bà
H (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 868884 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh C cấp ngày 01/11/2019).
Đầu năm 2020, nhà nước bỏ quy hoạch đường vành đai Tây Nam nên ông T1
hỗ trợ vợ chồng ông T, bà H tách thửa sang tên làm giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa s381 (đất lập vườn) diện tích 2.766,7m
2
, thửa số 382 ất nuôi
trồng thủy sản) diện tích 9.128,8m
2
(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU
379374, CU 379375 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 13/01/2020).
Còn phần đất ông T, bà H đang quản lý, sử dụng nằm trong thửa đất số 348, tờ bản
đồ số 4 (đất lập vườn) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 281906 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh C cấp ngày 22/01/2019 do ông T1 đứng tên. Ông T1
nói Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp vay vốn ngân hàng, chưa tất
toán nên chưa lấy sổ đỏ về tách thửa sang tên cho vợ chồng ông T, bà H được. Tuy
nhiên, đến nay ông T1 không đồng ý tách một phần thửa đất số 348 sang tên cho ông
T, bà H. Phần đất này ông T, H vẫn đang quản lý sử dụng từ khi ông A1, bà K1
giao đến nay.
Nay ông T, H yêu cầu: Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 20/6/2001 giữa vợ chồng ông Phạm Ngọc A1, bà Đặng Th
K1 với vợ chồng ông T, bà H; Yêu cầu anh Phạm Văn T1 người kế thừa quyền và
nghĩa vụ của ông A1, bà K1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất ký ngày
20/6/2001 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 281906 (thửa số 348 tờ
bản đồ số 4) để ông T, bà H đi đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất đã nhận
chuyển nhượng, đang quản lý, sử dụng nêu trên với diện tích theo đo đạc thực tế
768,5m
2
, tọa lạc tại khóm F, phường L, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn ông Phạm Văn T1 trình bày: Vào cuối năm 2001 cha mẹ ông cụ
Phạm Ngọc A1 (chết khoảng năm 2020) cụ Đặng Thị K1 (chết khoảng năm 2007)
chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh T 13 công đất hơn (công tầm
lớn) với giá 02 cây vàng 24k/01 công. Khi mua bán có thoả thuận có đất đến đâu là
đo đến đó, hiện trạng đất khi bán là đất trũng, năng, vị trí hai đầu đất 02 kênh
nhỏ (chiều ngang kênh khoảng 2,3m). Hai bên đã giao đất và giao nhận vàng xong.
Thời điểm bán đất này thì đất của cha mẹ ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thoả thuận khi nào ông T kêu xáng múc kênh dài xong, bờ sẽ
nhờ địa chính tiến hành đo đạc để tính diện ch ràng, để cắm mốc cho ông T. Đến
năm 2003 thì cha của ông được cấp quyền sử dụng với tổng diện tích khoảng hơn
38.000m² (trong đó 13 công đất hơn bán cho vợ chồng ông T), vợ chồng ông T
mượn sổ đỏ của cha mẹ ông đem thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền, do mối
quan hệ thân thiết nên cha ông đồng ý ký tên cho ông T vay tiền. Đến năm 2018 thì
chuộc giấy đất từ ngân hàng, hai bên làm thủ tục tách quyền sử dụng đất đã bán cho
ông T; Cha ông làm thủ tục tặng cho toàn bộ phần đất còn lại cho ông. Phần diện
tích tách quyền cho ông T bao nhiêu tông không nhớ rõ, phần còn lại chưa tách
4
quyền thì ông T vẫn đang quản lý từ khi mua đất cho đến nay, diện tích phần chưa
được cấp quyền là bao nhiêu thì ông cũng không rõ, nhưng cả 02 diện tích này đu
dư diện tích theo thoả thuận mua bán. Phần đất tranh chấp nằm trong chủ quyền của
ông được tặng cho thuộc thửa 348, tờ bản đồ số 4, toạ lạc tại khóm F, phường L, tỉnh
Mau. Do đất đã giao đủ nên ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2026/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau quyết định:
1/ Chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh TNguyễn
Thu H.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2001
giữa ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H cụ Phạm Ngọc A1, cụ Đặng Thị
K1 (người thừa kế tài sản là ông Phạm Văn T1) là hợp pháp.
- Buộc ông Phạm Văn T1 (người thừa kế tài sản của cụ Phạm Ngọc A1, cụ
Đặng Thị K1) tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất ký ngày 20/6/2001 là
làm thủ tục tách quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H đối
với phần đất theo đo đạc diện tích 768,5m
2
toạ lạc khóm F, phường L, tỉnh
Mau. Vị trí:
+ Hướng đông giáp đất bà Nguyễn Thu H (thửa 381);
+ Hướng tây giáp đất còn lại của ông Phạm Văn T1 (thửa 348);
+ Hướng nam giáp đất ông Phạm Văn T1 (thửa 401) giáp đất Nguyễn
Thu H (thửa 400);
+ Hướng bắc giáp lộ bê tông.
- Trường hợp ông Phạm Văn T1 (người thừa kế tài sản của cụ Phạm Ngọc A1,
cụ Đặng Thị K1) không phối hợp, thì ông Nguyễn Thanh TNguyễn Thu H
quyền liên hệ các quan chức năng để thực hiện việc làm thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên.
2/ Buộc ông Nguyễn Thanh T Nguyễn Thu H trả cho ông Phạm Văn
T1, ông Phạm Thanh N, Phạm Kim N1, ông Phạm Văn H1 Phạm Thị M
(thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Phạm Ngọc A1, cụ Đặng Thị K1) 02 lượng vàng
24K.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án,
án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07/4/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T Nguyễn Thu H
kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng
ông, đã trả đủ toàn bộ số vàng 27 lượng vàng cho ông Phạm Ngọc A1, nên không
đồng ý tiếp tục trả 02 lượng vàng cho hàng thừa kế của cụ A1 như bản án thẩm
đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
5
- Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T Nguyễn Thu H giữ nguyên nội dung
yêu cầu kháng cáo, yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý tiếp tục trả
cho ông Phạm Văn T1 02 lượng vàng 24k do sau khi xét xử sơ thẩm ông đã tìm gặp
biên nhận giao cho cụ Phạm Ngọc A1 đủ 27 lượng vàng 24k.
- Bị đơn ông Phạm Văn T1 trình bày tại phiên toà ngày 29/7/2026, không
đồng ý với nội dung căn cứ kháng cáo của nguyên đơn. Bởi lẽ, do biên nhận
nguyên đơn xuất trình đã lâu, ông không nhớ phải chữ của cha ông hay
không, ông yêu cầu được giám định chcủa cha ông, nếu đúng chữ của cha
ông thì ông đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2 Nguyễn Thu H, sửa một phần bản án
thẩm không buộc ông Nguyễn Thanh T Nguyễn Thu H trả cho ông Phạm
Văn T1, ông Phạm Thanh N, bà Phạm Kim N1, ông Phạm Văn H1 và bà Phạm Thị
M (thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Phạm Ngọc A1, cụ Đặng Thị K1) 02 lượng
vàng 24K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thu H
trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Phạm Văn T1, ông Phạm Thanh N, Nguyễn Ngọc A,
Phạm Kim N1, ông Phạm Văn H1, Phạm Thị M vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét
xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng
mặt đối với đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn và các căn cứ kháng cáo, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Ngày 20/6/2001, các bên lập hợp đồng chuyển nhượng đất theo mẫu, không
có xác nhận của chính quyền địa phương; Phần 05 công đất của vợ chồng ông N th
hiện tại hợp đồng quy ra diện tích 6.490m
2
; Phần đất vchồng cụ A chuyển
nhượng quy ra diện tích là 11.218,4m
2
. Diện tích đất thể hiện tại hợp đồng ngày
20/6/2001 do các bên thống nhất, tự tính với nhau dựa trên công đất thoả thuận
chuyển nhượng, không có đo đạc diện tích cụ thể, xác định tổng phần đất vợ chồng
cụ A vợ chồng ông N bán cho vợ chồng ông T, bà H có chiều ngang mặt tiền, hậu
6
là 36m (tính theo chiều ngang công tầm lớn), chiều dài từ tiền đến hết hậu đất. Gia
đình cụ A đã bàn giao đất cho vợ chồng ông T, bà H quản lý từ khi chuyển nhượng
cho đến nay, điều này được các bên thừa nhận tại phiên toà thẩm. Giá chuyển
nhượng 02 lượng vàng/01 công tầm lớn, tổng số vàng ông T nhận chuyển nhượng là
27 lượng. Nguyên đơn đã trả được 25 lượng vàng 24k (thể hiện tại 02 biên nhận
ngày 25/5/2001 ngày 26/5/2001) số vàng còn lại đã trả đủ cho cụ A nhưng do
biên nhận bị thất lạc. Sau khi xét xử sơ thẩm ông đã tìm gặp biên nhận đã giao cho
cụ A thêm 02 lượng vàng tại biên nhận ngày 18/6/2001 là đủ 27 lượng vàng 24k.
Khi Toà án ngừng phiên toà vào ngày 29/7/2026, để ông Phạm Văn T1 yêu cầu giám
định chữ thì ông T1 đã xem xét lại biên nhận 02 lượng vàng của cụ Phạm Ngọc
A1 nhận vào ngày 15/8/2001, ông T1 đồng ý biên nhận của cụ A1 ký nhận.
Ông T1 đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông Nguyễn Thanh T và bà
Nguyễn Thu H đi làm thủ tục tách thửa trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[4] Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi xét xán
thẩm nguyên đơn có cung cấp chứng từ giao nhận cho cụ Phạm Ngọc A1 02 lượng
vàng 24k vào ngày 15/8/2001, đủ tổng số vàng 27 lượng ông T, H nhận chuyển
nhượng đất của cụ A1. Đối với ông Phạm Văn T1 tại phiên toà ngày 29/7/2026, có
trình bày yêu cầu giám định chữ viết của cụ Phạm Ngọc A1, Toà án nhân dân tỉnh
Mau thông báo quy định ông T1 nộp chi phí giám định, tuy nhiên đến thời
điểm này đã quá thời gia quy định ông T1 không liên hệ đến Toà án để làm thủ
tục, cho thấy ông T1 đã từ bỏ yêu cầu giám định, cho thấy ông T1 đã thừa nhận biên
nhận ngày 15/8/2001của cụ Phạm Ngọc A1 nhận chữ của cụ A1. Do đó,
kháng cáo của ông T, H căn cứ chấp nhận. Xét đnghị của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Án pphúc thẩm, ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H không phải
chịu. Ông T1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thu
H; Sửa một phần bản án dân sự thẩm số: 55/2026/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thu
H.
7
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2001
giữa ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H cụ Phạm Ngọc A1, cụ Đặng Thị
K1 (người thừa kế tài sản là ông Phạm Văn T1) là hợp pháp.
- Buộc ông Phạm Văn T1 (người thừa kế tài sản của cụ Phạm Ngọc A1, cụ
Đặng Thị K1) tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất ký ngày 20/6/2001 là
làm thủ tục tách quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H đối
với phần đất theo đo đạc diện tích 768,5m
2
toạ lạc khóm F, phường L, tỉnh
Mau. Vị trí:
+ Hướng đông giáp đất bà Nguyễn Thu H (thửa 381);
+ Hướng tây giáp đất còn lại của ông Phạm Văn T1 (thửa 348);
+ Hướng nam giáp đất ông Phạm Văn T1 (thửa 401) giáp đất Nguyễn
Thu H (thửa 400);
+ Hướng bắc giáp lộ bê tông.
- Trường hợp ông Phạm Văn T1 (người thừa kế tài sản của cụ Phạm Ngọc A1,
cụ Đặng Thị K1) không phối hợp, thì ông Nguyễn Thanh TNguyễn Thu H
quyền liên hệ các quan chức năng để thực hiện việc làm thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Văn T1 nghĩa vụ hoàn trả cho ông
Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thu H chi phí tố tụng với số tiền 14.703.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi
hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản
2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thu H được miễn án phí.
- Ông Phạm Văn T1 phải chịu án phí có giá ngạch 23.492.000 đồng.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thu H không
phải chịu. Ông Phạm Văn T1 phải chịu 300.000 đồng.
5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Phùng Văn Định Châu Minh Nguyệt
Nguyễn A Đam
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn A Đam
9
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 592/2026/DS-PT Bản án số 592/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất