Bản án số 578/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 578/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 578/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 578/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Buộc ông S, bà H, anh Nguyễn Minh Q, chị Nguyễn Tường V1 giao trả cho ông T nhà và đất diện tích 115,7m2, gồm các thửa đất số 3, 5 tờ bản đồ số 24 và thửa đất số 246, tờ bản đồ số 25; Phần đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 578/2026/DS-PT Bản án số 578/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 578/2026/DS-PT Bản án số 578/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 578/2026/DS-PT
Ngày 25-8-2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Ông Ninh Quang Thế
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ngọc Chọn là Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 25 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 56/2026/TLPT-DS ngày 06
tháng 02 năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 432/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 206/2026/QĐ-PT ngày
03 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1960. Địa chỉ trú: Ấp D,
xã S, tỉnh Cà Mau.
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 30/11/2022.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Sơn T1, sinh năm
1993. Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau. Số căn cước
công dân: ************, cấp ngày 02/7/2021 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ
Luật sư của ng ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 28/6/2021
2. Bà Nguyễn Cẩm H, sinh năm 1974
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 25/4/2021
2
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn S Nguyễn Cẩm H:
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1986. Địa chỉ trú: Khóm A, phường A, tỉnh
Mau. Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 01/3/2023 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Thị N, sinh năm 1968. Địa chỉ trú: Ấp D, S, tỉnh Mau (vắng
mặt).
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 30/11/2022
2. Ngân hàng N2. Địa chỉ: Số B, L, phường G, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông n Vĩnh P, chức vụ: Giám đốc Agribank
Phòng giao dịch S1 (vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1997 (có mặt)
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 25/4/2021
4. Chị Nguyễn Tường V1, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 31/5/2021
5. Chị Đỗ Thị Tuyết N1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 10/5/2021
6. Chị Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Số căn cước công dân: ************, cấp ngày 25/10/2022
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Cẩm H là bị đơn; anh
Nguyễn Minh Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T và trong quá trình giải quyết
vụ án người đại diện của ông Nguyễn Hoàng T trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng T có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn S và bà
Nguyễn Cẩm H nhà, đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 115,7m
2
,
gồm các thửa đất số 3, 5, tờ bản đồ số 24 thửa đất số 246, tờ bản đồ số 25, phần
đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp D, xã S, tỉnh
Mau). Các phần đất trên ông T đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nhà và đất trên ông T cho ông S H thuê lại theo hợp đồng thuê nhà
hợp đồng thuê nhà xưởng, cùng ngày 30/02/2019. Nay ông Nguyễn Hoàng T khởi
kiện yêu cầu:
Chấm dứt hợp đồng thuê nhà hợp đồng thuê nhà xưởng, cùng ngày
30/02/2019 giữa ông T với ông S và bà H;
Buộc ông S, H, anh Nguyễn Minh Q, chị Nguyễn Tường V1 giao trả cho
ông T nhà và đất diện tích 115,7m
2
, gồm các thửa đất s3, 5 tbản đồ số 24 và thửa
đất số 246, tờ bản đồ số 25; Phần đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà
Mau (nay là ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau).
3
- Theo ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Cm H trình bày:
Ông S H giao dịch làm ăn mua bán hải sản với ông Nguyễn Hoàng
T, nợ ông T số tiền 02 tỷ đồng, ông T quy thành 60 lượng vàng 24k. Ông T yêu cầu
ông S H hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất nêu trên,
mục đích để đảm bảo cho khoản nợ 02 tỷ đồng; thực tế tài sản do ông S H
quản lý, không có bàn giao tài sản cho ông T.
Đối với hợp đồng thuê nhà hợp đồng thuê n xưởng, cùng ngày
30/02/2019, ông S H xác định không thuê và cũng không tên trong
hai hợp đồng này. Ông S và bà H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T; đồng
thời ông S và bà H có đơn phản tố yêu cầu:
Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Nguyễn Văn S,
Nguyễn Cẩm H, Nguyễn Minh Q với ông Nguyễn Hoàng T;
Huỷ hợp đồng thế chấp tài sản ký giữa ông Nguyễn Hoàng T với Ngân hàng
N2 - Phòng S1, Điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần đất tổng
diện tích 115,7m
2
, thửa đất số 3, 5 tờ bản đồ số 24 và thửa đất số 246, tờ bản đồ số
25, đứng tên ông Nguyễn Hoàng T sang tên ông Nguyễn Văn S;
Ông S và bà H đồng ý trả cho ông Nguyễn Hoàng T số tiền 02 tỷ đồng.
- Đại diện Ngân hàng N2 trình bày:
Ngân hàng không yêu cầu trong vụ án này, trường hợp phát sinh
tranh chấp sẽ khởi kiện ở vụ án khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 432/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T.
Huỷ Hợp đồng thuê nhà ngày 30/02/2019 và Hợp đồng thuê nhà (nhà xưởng)
ngày 30/02/2019 giữa ông Nguyễn Hoàng T với ông Nguyễn Văn S Nguyễn
Cẩm H.
Buộc ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Cẩm H, anh Nguyễn Minh Q, chị
Nguyễn Tường V1, chĐỗ Thị Tuyết N1 di dời đi nơi khác, để giao trả cho ông
Nguyễn Hoàng T nhà và đất, như sau:
+ Ký hiệu thửa 1: Diện tích 516,1m
2
(diện tích đất 315,0m
2
, diện tích mặt sàn
201,1m
2
), trích đo thửa đất số 1, tờ bản đồ số 70, chỉnh lý năm 2022.
+ Ký hiệu thửa 2: Diện tích 299,6m
2
(diện tích đất 208,8m
2
, diện tích mặt sàn
90,9m
2
), trích đo thửa đất số 4, tờ bản đồ số 70, chỉnh lý năm 2022.
Các phần đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp
D, xã S, tỉnh Cà Mau).
Về kích thước, hiện trạng của các phần đất là trên sơ đồ bản vẽ kèm theo Bản
vẽ Trích đo hiện trạng ngày 21/7/2025.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn S Nguyễn
Cẩm H, với các yêu cầu như sau: Yêu cầu tuyên bố vô hiệu các Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất cùng ngày 07/3/2016, giữa ông T với ông Nguyễn Văn S,
Nguyễn Cẩm H anh Nguyễn Minh Q; Yêu cầu tuyên bố hiệu các Hợp đồng
4
thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 7504-LCL-202400064/HĐTC ngày
08/01/2024, Hợp đồng thế chấp QSD đất tài sản gắn liền với đất số 7504-LCL-
202400067/HĐTC ngày 08/01/2024, Hợp đồng thế chấp QSD đất tài sản gắn liền
với đất số 7504-LCL-202400068/HĐTC ngày 08/01/2024, giữa ông Nguyễn
Hoàng T, bà Lê Thị N với Ngân hàng N2; Yêu cầu điều chỉnh lại Giấy chứng nhận
số AK 382554 ngày 29/8/2007, Giấy chứng nhận số BG 180713 ngày 19/01/2012
Giấy chứng nhận số BG 180714 ngày 19/01/2012 (do ông T đứng tên ngày
18/3/2016), để điều chỉnh sang tên lại cho ông Nguyễn Văn S, tổng diện tích
115,7m
2
, thửa đất s3, 5, tờ bản đồ số 24, thửa đất số 246, tờ bản đồ số 25, phần đất
toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Mau (nay ấp D, S, tỉnh
Mau); Về việc ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Cẩm H đồng ý trả cho ông Nguyễn
Hoàng T số tiền 02 tỷ đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 09/01/2026, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Cẩm H anh Nguyễn
Minh Q có đơn kháng cáo:
Ông S và bà H kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của ông T; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố ca ông S và bà
H;
Anh Q kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện ca ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn
S Nguyễn Cẩm H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; anh Nguyễn Minh Q giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông C phát biểu: Trong quá trình mua bán, bđơn nợ nguyên đơn số tiền
2,2 tỷ đồng nên ngày 19/8/2015 bị đơn ký hợp đồng thế chấp 03 quyền sử dụng đất
cho nguyên đơn để bảo đảm cho khoản nợ, bđơn đã giao 03 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho nguyên đơn. Đối với 03 hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/3/2016
là giả tạo, do nguyên đơn tự lập, bị đơn không có ký tên trong 03 hợp đồng chuyển
nhượng nêu trên. Bị đơn cung cấp đoạn băng ghi âm ngày 16/12/2024 thể hiện
việc trao đổi giữa nguyên đơn với bị đơn về việc đóng lãi đối với khoản tiền nợ
nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử cho giám định đối với chữ ký trong 03 hợp đồng
chuyển nhượng để xác định phải chữ của bị đơn hay không giám định giọng
nói trong đoạn băng ghi âm để xác định có phải giọng nói của ông T hay không.
Anh Q phát biểu: Anh không tên trong 03 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất do nguyên đơn cung cấp, vì thời điểm đó anh đang đi học ở Cần
Thơ.
Luật Đ phát biểu: Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn với bị đơn, các bên đều thừa nhận không tranh chấp. Sau khi
hợp đồng thế chấp, giữa nguyên đơn với bị đơn tiếp tục việc mua bán với nhau, đến
năm 2016 khoản nợ của bị đơn phát sinh gần 05 tỷ đồng nên bị đơn thống nhất
5
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn để đối trừ khoản nợ. Hợp đồng
chuyển nhượng thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại cấp sơ thẩm, bị đơn cũng
thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng, chỉ không thừa nhận hợp đồng thuê
nhà; sau khi giám định kết luận chữ ký trong hợp đồng thuê nhà là của bị đơn thì bị
đơn mới cho rằng chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng không phải là của bị đơn.
Hợp đồng chuyển nhượng giữa nguyên đơn với bị đơn là có thực tế, bị đơn đã giao
nhà đất cho nguyên đơn xong nguyên đơn đã cho bị đơn thuê lại. Đối với đoạn
băng ghi âm do bđơn cung cấp, cơ quan giám định kết luận dấu vết cắt ghép nên
đã tchối giám định. Đối với hợp đồng thế chấp tài sản giữa nguyên đơn với ngân
hàng đúng quy định pháp luật. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn và anh Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông T1 phát biểu: Thống nhất với ý kiến tranh luận của Luật Đ, không
tranh luận bổ sung thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình
giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử những người tiến hành ttụng, người tham
gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, bà
Nguyễn Cẩm H và anh Nguyễn Minh Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
432/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Cẩm H và anh Nguyễn
Minh Q, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1.1] Giữa ông T với vợ chồng ông S và H giao dịch làm ăn mua bán
hải sản với nhau từ năm 2011, quá trình mua bán ông S và bà H nợ ông T số tiền
2,2 tỷ đồng. Ngày 19/8/2015, ông S H với ông T thoả thuận ký kết hợp đồng
cầm cố tài sản, ông S và bà H cầm cố cho ông T phần đất theo các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: AK 382554, BG 180713, BG 180714, gồm các thửa đất số 3,
5, tờ bản đồ số 24 thửa đất số 246, tờ bản đồ số 25; đất toạ lạc tại khóm D, thị
trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, để đảm bảo khoản nợ 2,2 tỷ đồng. Việc cầm cố được
ông T, ông S H đều thừa nhận, nên được xem tình tiết không cần phải chứng
minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ông T cho rằng việc ký hợp đồng cầm cố là để cho ông S và bà H được
tiếp tục làm ăn với ông T. Sau khi tiếp tục làm ăn thì ông S và bà H tiếp tục nợ tiền
mua bán hải sản của ông T gần 5 tỷ đồng, nên ngày 07/3/2016 ông S và bà H thống
nhất 03 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối với các thửa đất số 3,
5, 246 đã cầm cố cho ông T để trừ khoản nợ. Các hợp đồng chuyển nhượng được
Ủy ban nhân dân thị trấn S, ông T được chỉnh sang tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 18/3/2016; các giấy chứng nhận quyền sdụng đất của 03 thửa đất
nêu trên hiện tại ông T đã thế chấp tại Ngân hàng N2 để đảm bảo cho khoản vay của
chị L (là dâu ông T). Sau khi hợp đồng chuyển nhượng, do ông S là cháu ruột của
6
ông T nên ông T cho gia đình ông S và bà H tiếp tục ở lại nhà, đất này từ năm 2016.
Đến ngày 30/02/2019, ông T ký 02 hợp đồng với S và bà H, ông T cho ông S và bà
H thuê lại nhà, đất nêu trên (gồm căn nhà nhà xưởng), giá thuê 20 triệu
đồng/tháng, thời hạn 02 năm. Ông S bà H trả tiền thuê cho ông T đến tháng
12/2024. Nay ông T yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà với ông S và H, buộc
ông S và bà H giao trả nhà, đất thuê lại cho ông T.
Ông S H cho rằng không hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho ông T ng không ký hợp đồng thuê nhà với ông T. Ông S bà H
không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, đồng thời yêu cầu phản tố yêu cầu
tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất và hợp đồng thuê nhà nêu
trên vô hiệu.
[1.3] Xét hợp đồng thuê nhà giữa ông T với ông S bà H, thấy rằng: Quá
trình giải quyết vụ án, ông T cung cấp 02 hợp đồng thuê nhà (bao gồm nhà ở
nhà xưởng) được kết giữa ông T với ông S H ngày 30/02/2019 để chứng
minh cho yêu cầu khởi kiện của ông T. Tuy nhiên, ông S và bà H không thừa nhận
có ký tên trong 02 hợp đồng thuê nhà do ông T cung cấp.
Tại Kết luận giám định s280/KL-KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K Công
an tỉnh C kết luận:
Chữ ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Văn S” dưới mục “BÊN NGƯỜI THUÊ”
trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1, A2) so với chữ viết, chữ của Nguyễn
Văn S trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M15) do cùng một người ký và
viết ra.
Chữ ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Cẩm H” dưới mục “BÊN NGƯỜI THUÊ”
trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1, A2) so với chữ viết, chữ của Nguyễn
Cẩm H trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M7 đến M24) do cùng một người ký và
viết ra.
Như vậy, có sở xác định ông S H tên trong 02 hợp đồng thuê
nhà ngày 30/02/2019 với ông T có thực tế xảy ra. Đối với trình bày của ông S và
bà H cho rằng không có ký hợp đồng thuê nhà ngày 30/02/2019 với ông T là không
có căn cứ để chấp nhận.
Đối với ông S và H không đồng ý Kết luận giám định số 280/KL-KTHS
ngày 19/10/2025, yêu cầu giám định lại, nhưng ông S H không căn cứ
chứng minh Kết luận giám định số 280/KL-KTHS ngày 19/10/2025 là không chính
xác, có vi phạm pháp luật, nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu giám định lại của
ông S và bà H.
[1.4] Đối với việc kết 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
07/3/2016:
Ông S và bà H cho rằng do nợ ông T 02 tỷ đồng, ông T quy ra 60 lượng vàng
24k, ông T yêu cầu ông bà Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 19/8/2015, còn 03 Hợp
đồng chuyển nhượng ngày 07/3/2016 ông bà không có ký (ông S và bà H trình bày
lại tại phiên toà thẩm). Việc hợp đồng cầm cđđảm bảo khoản nợ nêu
trên, thực tế tài sản ông bà quản lý, không bàn giao tài sản cho ông T; khoản
7
nợ 02 tỷ đồng đến nay ông chưa trả cho ông T; ông đóng tiền lời 20 triệu
đồng/tháng cho vợ ông T N từ năm 2015 đến cuối năm 2024, không làm
giấy tờ, do là cậu cháu. Trong năm 2021, ông bà đóng tiền lời cho bà N 07 tháng số
tiền 140 triệu đồng, N ghi tiền mặt sau Bảng kê hàng ngày 01/01/2021; nay ông
bà đồng ý trả cho ông T số tiền 02 tỷ đồng.
Xét thấy: Tại Đơn phản tố của ông S H ngày 01/4/2025, Biên bản hoà
giải của Toà án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau ngày 29/4/2025, ông S và bà H thừa
nhận ký các hợp đồng chuyển nhượng nêu trên, chỉ không thừa nhận có ký các hợp
đồng thuê nhà. Sau khi kết luận giám định kết luận chữ ký, chữ viết trong hợp
đồng thuê nhà là của ông S và bà H, thì tại phiên toà sơ thẩm ông S bà H mới cho
rằng không có ký tên trong các hợp đồng chuyển nhượng. Mặt khác, các Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông T với ông S H đã được Ủy ban
nhân dân thị trấn S theo quy định; việc ông S H, cũng như anh Q cho rằng
không tên trong các hợp đồng chuyển nhượng nhưng ông S, H anh Q
không có chứng cứ gì để chứng minh.
Như vậy, schứng minh ông S bà H tên trong 03 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/3/20216. Thực tế, sau khi các hợp
đồng chuyển nhượng ngày 07/3/2016 thì đến ngày 30/02/2019 ông S và bà H ký 02
hợp đồng thuê nhà nhà xưởng với ông T. Do đó, việc ông S H yêu cầu giám
định chữ ký của ông, bà trong 03 hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/3/2016 xét thấy
là không cần thiết, nên không được chấp nhận.
[1.5] Đối với trình bày ông S và bà H cho rằng số nợ 02 tỷ đồng ông T quy ra
60 lượng vàng 24k, nhưng ông S và bà H không tài liệu chứng cứ để chứng minh,
nên không có cơ sở để xem xét. Đối với trình bày của ông S và bà H cho rằng đóng
lãi cho N vợ ông T 07 tháng bằng 140 triệu đồng, thể hiện mặt sau Bảng kê
hàng ngày 01/01/2021 (do ông S H cung cấp); tuy nhiên, tại tài liệu này ch
thể hiện nội dung ghi “lời 140. 7 tháng”, thì cũng không xác định được cụ thể
khoản tiền gì, thời gian nào, nên không sở để xác định đây là khoản tiền lời
như ông S và bà H trình bày.
[1.6] Tại cấp phúc thẩm, ông S và H có cung cấp đoạn băng ghi âm ngày
16/12/2024 cho rằng giữa ông T với bà H trao đổi với nhau về khoản nợ và việc
đóng lãi. Tuy nhiên, ông T không thừa nhận giọng nói trong đoạn băng ghi âm
của ông T; phía ông S và bà H có yêu cầu giám định giọng nói trong đoạn băng ghi
âm để xác định phải của ông T hay không. Tại Kết luận giám định số: 338/KL-
KTHS ngày 08/6/2026 ca Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh
kết luận: “Tìm thấy dấu vết cắt ghép trong file âm thanh cần giám định. Không thực
hiện giám định tiếng nói, do file ghi âm mẫu cần giám định dấu vết cắt ghép”.
Như vậy, chưa có cơ sở để xác định giọng nói trong đoạn băng ghi âm là của ông T.
Đối với việc ông S và bà H yêu cầu giám định lại, xét thấy do đoạn băng ghi âm có
dấu vết cắt ghép, quan giám định đã không thực hiện giám định nên việc ông S
và bà H yêu cầu giám định lại là không có cơ sở để chấp nhận.
[1.7] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữa ông T với
ông S, H ngày 07/3/2016: Về hình thức, nội dung không trái với quy định pháp
8
luật. Phần đất chuyển nhượng theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK
382554, BG 180713, BG 180714, gồm các thửa đất số 3, 5, tờ bản đồ số 24, thửa đất
số 246, tờ bản đồ số 25, tổng diện tích 115,7m
2
(nhà, đất theo đo đạc thực tế có tổng
diện tích 815,7m
2
). Hợp đồng chuyển nhượng đã được các bên thực hiện, ông T đã
được chỉnh sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/3/2016, hợp
đồng chuyển nhượng đã phát sinh hiệu lực. Ông T đã cho ông S H thuê lại nhà,
đất nêu trên; các bên kết 02 (hai) Hợp đồng thuê nhà, nhà xưởng ngày
30/02/2019, thời hạn thuê là 02 năm; đến nay đã hết hạn hợp đồng, nên việc ông T
yêu cầu ông S H phải trách nhiệm giao trả nhà, đất cho ông T sở.
Đối với các quyền sử dụng đất nêu trên hiện nay vợ chồng ông T N đã thế chấp
cho Ngân hàng N2 để đảm bảo khoản vay cho bà L; hợp đồng đã tuân thủ đúng về
nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp tài sản, các hợp đồng này được xem là
hợp pháp. Hiện nay Ngân hàng không khởi kiện tranh chấp nên Toà án cấp
thẩm không đặt ra xem xét là phù hợp.
[2] Từ những phân tích trên, xét thấy Toà án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông T, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S và bà H là có căn
cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông
Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Cẩm H và anh Nguyễn Minh Q, giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số 432/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 -
Cà Mau là phù hợp. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh lại cách tuyên của bản
án sơ thẩm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là
phù hợp với nhận định của Hi đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Cẩm H và anh
Nguyễn Minh Q phải chịu theo quy định, đã dự nộp được chuyển thu.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Cẩm
H và anh Nguyễn Minh Q.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 432/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12
năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê nhà Hợp đồng thuê nhà (nhà xưởng),
cùng ngày 30/02/2019 được ký kết giữa ông Nguyễn Hoàng T với ông Nguyễn Văn
S và bà Nguyễn Cẩm H.
9
Buộc ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Cẩm H, anh Nguyễn Minh Q, chị
Nguyễn Tường V1, chĐỗ Thị Tuyết N1 di dời đi nơi khác, để giao trả cho ông
Nguyễn Hoàng T nhà và đất, như sau:
+ Phần nhà, đất tại thửa số 1 Bản vẽ: Diện tích 516,1m
2
(diện tích đất 315,0m
2
(có nhà trên đất); diện tích mặt sàn 201,1m
2
);
+ Phần nhà, đất tại thửa số 2 Bản vẽ: Diện tích 299,6m
2
(diện tích đất 208,8m
2
(có nhà trên đất); diện tích mặt sàn 90,8m
2
).
Nhà, đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp D,
S, tỉnh Cà Mau).
Về kích thước, diện tích, hiện trạng nhà, đất được thể hiện theo Bản vẽ Trích
đo hiện trạng ngày 21/7/2025 của Công ty Cổ phần K1 Chi nhánh thành phố
Mau.
(Kèm theo Bản vẽ Trích đo hiện trạng ngày 21/7/2025 của Công ty Cổ phần
K1 Chi nhánh thành phố Cà Mau).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn S Nguyễn
Cẩm H về việc:
- Yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng
ngày 07/3/2016 giữa ông T với ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Cẩm H anh
Nguyễn Minh Q; Hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất
số 7504-LCL-202400064/HĐTC, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất số 7504-LCL-202400067/HĐTC, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất số 7504-LCL-202400068/HĐTC, cùng ngày
08/01/2024 được ký kết giữa ông Nguyễn Hoàng T, bà Lê Thị N với Ngân hàng N2
- Phòng S1, là vô hiệu;
- Yêu cầu điều chỉnh lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Số AK
382554 ngày 29/8/2007, BG 180713 BG 180714, cùng ngày 19/01/2012 do ông
Nguyễn Hoàng T đứng tên ngày 18/3/2016) sang tên lại cho ông Nguyễn Văn S,
tổng diện tích 115,7m
2
, gồm các thửa đất số 3, 5, tờ bản đồ số 24 và thửa đất s246,
tờ bản đồ số 25; đất toạ lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp
D, xã S, tỉnh Cà Mau);
- Yêu cầu về việc ông Nguyễn Văn S Nguyễn Cẩm H trả cho ông
Nguyễn Hoàng T số tiền 02 tỷ đồng (Hai tỷ đồng).
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Văn S Nguyễn Cẩm H trách nhiệm liên đới trả cho
ông Nguyễn Hoàng T chi phí tố tụng số tiền 46.624.000 đồng.
Kể từ ngày ông T đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản
tiền nêu trên, thì hàng tháng ông S và bà H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
10
Ông Nguyễn n S Nguyễn Cẩm H phải chịu 600.000 đồng; ngày
10/4/2025 và ngày 04/6/2025 ông S, bà H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 600.000
đồng theo các biên lai thu số 0005450 0005721 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau) được
đối trừ chuyển thu án phí.
5. Án pdân sphúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Cẩm H và anh
Nguyễn Minh Q mỗi người phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 09/01/2026 ông S
và bà H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 600.000 đồng, anh Q đã dự nộp tạm ứng
án phí số tiền 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0000328, 0000327 của Thi hành
án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
11
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Hải Hà
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 578/2026/DS-PT Bản án số 578/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 578/2026/DS-PT Bản án số 578/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất