Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 04/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa Hồ Xuân T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 04/2026/DS-PT
Ngày: 08 - 9 - 2026
V/v Khiếu kiện Quyết định hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu;
Kiều Kim Xuân.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư Tán nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Đỗ Trung Đến
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 04/2026/TLPT-HC ngày 22 tháng 7 năm
2026 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính thẩm số: 03/2026/HC-ST ngày 10 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1307/2026/QĐ-PT
ngày 30 tháng 7 năm 2026, giữa:
1. Người khởi kiện:
1.1.Hồ Xuân T, sinh ngày 01/01/1975;
1.2. Ông Hoàng M, sinh ngày 04/02/1964 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Số F, đường H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Xuân T: Ông Hoàng M (có mặt);
Địa chỉ: Số F, đường H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy
quyền ngày 17/12/2025).
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A (có văn bản xin vắng mặt);
Địa chỉ: Đường T, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
2
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ (có văn bản xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, đường C, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Đ: Ông Nguyễn Thanh S - Chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng Đăng đất đai
trực thuộc Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Đ; Địa chỉ: Số H, đường N,
phường Đ, tỉnh Đồng Tháp (có văn bản xin vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Hoàng Thị Mỹ D, sinh ngày 20/11/1994 (vắng mặt);
3.2. Chị Hoàng Thị Thảo N, sinh ngày 28/01/1998 (vắng mặt);
3.3. Anh Hoàng Tấn Đ, sinh ngày 04/9/2003(vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số F, đường H, khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Hoàng M, bà Hồ Xuân T.
5. Kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện
Hồ Xuân T và ông Hoàng M, trong đó ông Hoàng M đồng thời là người đại diện
hợp pháp của bà Hồ Xuân T, trình bày:
Từ trước đến nay, gia đình ông sử dụng diện tích 969m
2
tiếp giáp với
Quốc lộ 30 cũ, đường đất, đá, lòng đường 3m, đến năm 1994 mở rộng trải
nhựa, lòng đường 6m (Nay đường H, khóm A, phường A, thành phố H), đã
được Ủy ban nhân dân huyện H (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố H) cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 02147 QSDĐ/280/QĐ-UB ngày 16/3/2001
diện tích 969m
2
cho bà Hồ Xuân T.
Năm 2011, Nhà nước lấy đất của gia đình ông để mở rộng Quốc lộ C, nâng
lòng đường 9m, mỗi bên mở thêm 1,5m, nhưng không thu hồi đất, không bồi
thường không phù hợp với pháp luật đất đai. Ông đã khiếu nại đến Ủy ban
nhân dân thị H Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, sau đó ông C - Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thị H mời ông làm việc 1 lần, sau đó vài năm ông N1 - Phó Chủ
tịch Ủy ban mời ông làm việc 1 lần nữa, nhưng đến nay không quyết định
giải quyết (hiện hồ sơ Thanh tra thành phố H đang giữ).
Năm 2022, Nhà nước lấy thêm đất của gia đình ông đxây dựng vỉa hè,
mỗi bên khoảng 3m, nhưng không thu hồi đất, không bồi thường không phù
hợp với pháp luật đất đai. Ông khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố H, ông yêu cầu phải ban hành quyết định thu hồi đất bồi thường theo
Luật đất đai năm 2013 và Nghị định số 47 của Chính phủ vì đất của gia đình ông
đang sử dụng đã được Nhà nước công nhận, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 2001.
3
Ngày 24/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố H văn bản s442/ỦY
BAN NHÂN DÂN-HC, về việc trả lời đơn khiếu nại của ông không sở
giải quyết.
Hơn nữa, trong văn bản số 442 của Ủy ban nhân dân thành phố H dựa trên
công văn số 211/UBND-ĐTXD, ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về
việc phạm vi không bồi thường dự án Nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ N
“Thống nhất phạm vi không bồi thường đối với dự án Nâng cấp Quốc lộ 30
đoạn C - Hồ N trên địa bàn thị H (Nay thành phố H) 15m (tính từ tim
đường hiện hữu ra mỗi bên 7,5m), nhưng trong phạm vi 15m, trong đó
4,5m đất của ông đang sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, đủ điều kiện bồi thường theo Luật đất đai, nhưng công văn này quy định
không bồi thường là trái với pháp luật đất đai.
Ông tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân thành phố H, ngày
19/5/2023 Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 936/QĐ-
UBND, về việc bác nội dung khiếu nại của ông Hoàng M vyêu cầu ban hành
quyết định thu hồi đất bồi thường đất cho ông Hoàng M theo pháp luật đất
đai, do thực hiện công trình vỉa đường H, với do việc khiếu nại của ông
Hoàng M không có cơ sở xem xét.
Ông khiếu nại Quyết định số 936/QĐ-UBND đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Đ. Chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần 2.
Ngày 14/6/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết
định số 937/QĐ-UBND, về việc thu hồi huỷ b Quyết định số 936/QĐ-
UBND ngày 19/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H và thông
báo số 1877/TB-UBND, về việc không thụ đơn khiếu nại của ông Hoàng M,
với lý do là đại diện không hợp pháp thực hiện khiếu nại.
Ông gởi đơn khiếu nại bổ sung giấy y quyền các thành viên trong hộ,
yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H tiếp tục giải quyết khiếu nại của
ông với tư cách là người đại diện cho hộ bà Hồ Xuân T.
Ngày 21/8/2024, Chtịch Ủy ban nhân dân thành phố H thông báo số
2967/TB-UBND, về việc thông báo đơn khiếu nại của ông không đủ điều kiện
để thụ lý, giải quyết do: Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu
nại.
Ông không đồng ý với cách trả lời như tn vì đất này gia đình ông sử dụng
trước năm 1975 năm 2001 đã được Ủy ban nhân dân huyện H (Nay thành
phố H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay ông đang giữ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 02147 QSDĐ/280/QĐ-UB ngày 16/3/2001
diện tích 969m
2
đã cấp cho hộ bà Hồ Xuân T và là người đang trực tiếp sử dụng
đất.
Ông đã khiếu nại thông báo số 2967/TB-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố H đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
4
Ngày 03/02/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ văn bản số
07/UBND/TCD, về việc trả lời thông báo số 2967/TB-UBND của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân thành phố H đúng quy định pháp luật. Người khởi kiện cam đoan
không đồng thời khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền khác.
Tại phiên tòa hôm nay, người khởi kiện yêu cầu huỷ thông báo số
2967/TB-UBND ngày 21/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H
(Nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A) huỷ văn bản số
07/UBND/TCD ngày 03/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ trình bày:
Tiếp nhận Thông báo số 09/2025/TLST-HC ngày 03/11/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp về việc thụ vụ án thẩm số
09/2025/TLST-HC ngày 03/11/2025 về "Khiếu kiện quyết định hành chính"
theo đơn khởi kiện của Hồ Xuân T ông Hoàng M, ngụ số F, đường H,
khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp. Trong vụ kiện này, Hồ Xuân T ông
Hoàng M yêu cầu Tòa án hủy công văn số 07/UBND-TCD ngày 03/02/2025 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc trả lời đơn khiếu nại của ông Hoàng M
(Người được các thành viên trong hộ ủy quyền).
Qua xem xét, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có ý kiến như sau:
Năm 2001, Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho hộ Hồ Xuân T, số vào sổ GCN: 02147/QSDĐ/280/QĐ-UB, ngày cấp
16/02/2001, diện tích 969,0m
2
(trong đó: Diện tích 765,0m
2
đất ao (hồ), thuộc
thửa đất số 361, tờ bản đồ số 21 diện tích 204,0m
2
đất ở, thuộc thửa đất số
362, tbản đồ số 21), tọa lạc ấp A, A, huyện H (N phường A), tỉnh Đồng
Tháp.
Năm 2010, Nhà nước thực hiện công trình gia cố lề đường Quốc lộ 30
(đoạn từ cầu M đến cầu K), Ủy ban nhân dân thị H tổ chức vận động các hộ
dân đất nằm trong dự án để thực hiện, quy mô công trình gia cố mặt đường
láng nhựa thêm 3m, mỗi bên 1,5 mét; phạm vi thi công công trình tính từ tim
đường ra mỗi bên 4,5m (mặt đường láng nhựa từ 06m lên 09m) nằm trong phạm
vi thi công Quốc lộ 30 hiện hữu đã trước khi cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất. Do dự án đầu tư Nâng cấp mở rộng mặt nhựa Quốc lộ C chỉ thực hiện
hạng mục nâng cấp lề đường đất thành lề đường nhựa, phạm vi thi công nằm
trong hành lang an toàn giao thông không mrộng thêm kích thước đường hiện
hữu nên không thực hiện thu hồi đất tổ chức bồi thường, giải phóng mặt
bằng, đồng thời không chỉnh biến động giảm diện tích trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp.
Hồ Xuân T không thống nhất và có đơn khiếu nại.
Ngày 29/8/2011, Văn phòng H Ủy ban nhân dân thị xã H ban hành văn
bản số 1301/VP-HC vviệc trả lời đơn khiếu nại của Hồ Xuân T, với nội
dung: Theo quy hoạch, Ủy ban nhân dân thị xã H quản lý, tim đường Quốc lộ 30
5
đoạn cầu M đến cầu H mỗi bên 7,5m; từ tim đường Quốc lộ 30 hiện hữu ra mỗi
bên 7,5m không đền bù.
Hồ Xuân T không thống nhất khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã
Hồng Ngự. Ngày 24/10/2011, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự ban hành thông
báo số 02/TB-TA vviệc trả lại đơn khởi kiện của Hồ Xuân T. do: Chưa
có đủ điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính.
Ngày 28/10/2011, Tòa án nhân dân thị Hồng Ngự ban hành văn bản số
94/2011/CV-TA về việc trả lại đơn khiếu nại của Hồ Xuân T, do bà Hồ Xuân
T chưa cung cấp được Quyết định thu hồi đối với diện tích 171m
2
.
Hồ Xuân T không đồng ý gửi đơn khiếu nại đến Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp. Ngày 28/02/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành
Quyết định số 625/QĐ-TA về việc giải quyết đơn khiếu nại, với nội dung:
Không chấp nhận đơn khiếu nại của bà Hồ Xuân T đối với thông báo số 02/TB-
TA ngày 24/10/2011 “trả lại đơn khởi kiện” và công văn số 94/CV-TA ngày
28/10/2011 “V/v trả lại đơn khiếu nại” của Chánh án Tòa án nhân dân thị
Hồng Ngự.
m 2014, ông Hoàng M (Người được hộ bà Hồ Xuân T ủy quyền) tiếp tục
khiếu nại văn bản số 1301/VP-HC ngày 29/8/2011 của Văn phòng Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân thị xã H.
Ngày 18/8/2014, Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất thị H trích lục
bản đồ địa chính thửa đất số 361 số 362, tờ bản đồ số 21 (là 02 thửa đất của
hộ bà Hồ Xuân T) thì phần diện tích đất của 02 thửa đất này không bị ảnh hưởng
việc thực hiện thi công công trình phạm vi thi công tính từ tim đường mỗi bên là
4,5m (mặt đường nhựa từ 06m lên 09m) vẫn nằm trong phạm vi mặt đường
11m).
Ngày 10/10/2014, Phòng Tài nguyên Môi trường thị H ban hành văn
bản số 331/PTNMT, nội dung như sau: Trước đây hộ bà Hồ Xuân T được Ủy
ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN:
02147/QSD Đ/280/QĐ-UB, ngày cấp 16/3/2001, thửa đất số 361, diện tích
365m
2
đất nuôi trồng thủy sản; thửa đất số 362, diện tích 204m
2
đất tại nông
thôn, tờ bản đồ số 21, vị trí thửa đất tiếp giáp Quốc lộ C, kích thước mặt đường
Quốc lộ 30 tại vị trí thửa đất nêu trên theo bản đồ 299 được duyệt vào thời điểm
đó 11m (Kèm theo trích lục thửa đất số 1585/2014 của Văn phòng Đăng
quyền sử dụng đất thị H). Nguyên nhân chênh lệch kích thước giữa Quốc lộ
C theo hiện trạng (15m) so với bản đồ 299 do khi đo đạc lập bản đồ vào thời
điểm năm 2000, cán bộ chuyên môn không cập nhật hiện trạng Quốc lộ C lên
bản đồ, dẫn đến việc xác lập ranh giới thửa đất chồng lấn lên phạm vi công trình
Quốc lộ C, cụ thể tại vị trí đất của Hồ Xuân T ông Hồ Văn N2 chồng lấn
lên phạm vi công trình Quốc lộ C mỗi bên là 02m.
Ngày 11/02/2015, Ủy ban nhân dân thị H ban hành văn bản số
155/UBND-TCD về việc trả lời đơn khiếu nại của HXuân T (ủy quyền cho
ông Hoàng M), với nội dung: Việc Hồ Xuân T không thống nhất nội dung
6
văn bản số 1301/VP-HC ngày 29/8/2011 của Văn phòng Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân thị H, tiếp tục ủy quyền cho ông Hoàng M khiếu nại yêu
cầu được bồi thường hoàn toàn không sở. do: Việc thực hiện công
trình gia cố lề Quốc lộ C, đoạn cầu M đến cầu H (Km86 + 754 đến Km91 +
083) không ảnh hưởng đến phần diện tích đất của Bà.
Ngày 21/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành văn bản số 211/UBND-
ĐTXD về phạm vi không bồi thường dự án Nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ
N, với nội dung: Trên địa bàn thị H, phạm vi không bồi thường 15m (tính
từ tim đường hiện hữu ra mỗi bên là 7,5m).
Ngày 23/11/2022, hộ bà Hồ Xuân T được Sở T (Nay Sở N) cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ GCN: CS04684, thuộc thửa số 65, tờ
bản đồ s33, diện tích 740,2m
2
đất nuôi trồng thủy sản do cấp đổi (ghi chú:
Thừa đất 246,7m
2
đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường H),
tọa lạc khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Đồng thời, cùng ngày 23/11/2022, hộ bà Hồ Xuân Tông Hoàng M được
Sở Tài nguyên Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
GCN: CS04685, thuộc thửa đất số 58, tờ bản đồ số 33, diện tích 209,8m
2
, mục
đích sử dụng: 204,0m
2
đất ở và 5,8m
2
đất trồng cây lâu năm do cấp đổi (ghi chú:
Thửa đất có 61,5m
2
đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường H), tọa
lạc khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Do hộ Hồ Xuân T ông Hoàng M không thống nhất nhận giấy chứng
nhận đã cấp đổi năm 2022 nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố
H đang giữ cũng không thực hiện thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đã cấp
năm 2001.
Năm 2022, Nhà nước thực hiện công trình thi công cống, vỉa đường H,
phường A. Vỉa hè đường H có đoạn đi ngang qua tiếp giáp với thửa đất số 58, tờ
bản đồ s33, do hộ Hồ Xuân T ông Hoàng M đứng tên trên giấy chứng
nhận và thửa đất số 65, tờ bản đồ số 33, do hộ Hồ Xuân T đứng tên trên giấy
chứng nhận.
Ngày 07/12/2022, ông Hoàng M có đơn cho rằng Nhà nước lấy đất của gia
đình ông (đất tiếp giáp Quốc lộ 30 cũ) vào năm 2011 năm 2022 đxây dựng
vỉa hè mở rộng hai bên đường nhưng không thu hi đất, không bồi thường
cho gia đình ông; trong khi đất của gia đình ông đã được công nhận cấp
quyền sử dụng đất vào năm 2001. Ông yêu cầu ban hành quyết định thu hồi đất,
giải quyết cho gia đình ông.
Ngày 24/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành văn bản số
442/UBND-HC về việc trả lời đơn của ông Hoàng M, với nội dung: Căn cứ
công văn số 211/UBND-ĐTXD ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về
thống nhất phạm vi không bồi thường đối với dự án Nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn
C - Hồng Ngự trên địa bàn thị H 15m (tính từ tim đường hiện hữu ra mỗi
bên là 7,5m).
7
Ông Hoàng M không thống nhất văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân thành
phố H gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H yêu cầu
ban hành quyết định thu hồi và bồi thường cho gia đình ông.
Ngày 19/5/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết
định số 936/QĐ-UBND, giải quyết: Bác nội dung khiếu nại yêu cầu của ông
Hoàng M. Lý do: Việc khiếu nại của ông là không có cơ sở xem xét.
Ông Hoàng M không thống nhất quyết định giải quyết lần đầu của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân thành phố H tiếp tục gửi đơn khiếu nại lần hai đến thẩm
quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Vụ việc được Sở T thẩm tra, xác minh báo cáo số 328/BC-STNMT
ngày 06/9/2023. Theo đó, kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh G Chủ tịch
Ủy ban nhân dân thành phố H thu hồi hủy bQuyết định số 936/QĐ-UBND
ngày 19/5/2023; đồng thời, giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H giải
quyết lại theo thẩm quyền.
Ngày 04/6/2024, n phòng văn bản số 338/VPUBND-TCD, truyền đạt
ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh G Chủ tịch Ủy ban nhân dân
thành phố H hủy Quyết định số 936/QĐ-UBND ngày 19/5/2023; đồng thời, giải
quyết khiếu nại của ông Hoàng M theo thẩm quyền.
Ngày 14/6/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết
định số 937/QĐ-UBND, thu hồi hủy bỏ Quyết định số 936/QĐ-UBND ngày
19/5/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H vviệc giải quyết khiếu
nại của ông Hoàng M (lần đầu).
Ngày 24/6/2024, ông Hoàng M (được các thành viên trong hHồ Xuân
T ủy quyền) gửi đơn khiếu nại yêu cầu ban hành quyết định thu hồi đất và bồi
thường cho gia đình ông theo quy định.
Ngày 21/8/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành thông
báo số 2967/TB-UBND về việc không thụ giải quyết khiếu nại của ông
Hoàng M (được các thành viên trong hộ ủy quyền). do: Quyết định hành
chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi
ích hợp pháp của người khiếu nại.
Ông Hoàng M không thống nhất nội dung thông báo không thụ giải
quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H và tiếp tục khiếu nại.
Trên sở kiểm tra, soát, ngày 03/02/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ ban hành văn bản số 07/UBND-TCD về việc trả lời Đơn khiếu nại của
ông Hoàng M. Theo đó, nội dung khiếu nại của ông Hoàng M thuộc trường hợp
không được thụ giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Khiếu nại
2011.
* Bản án hành chính thẩm số: 03/2026/HC-ST ngày 10 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp đã quyết định:
8
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Tố tụng hành chính (Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội); khoản 8, 9, 10 Điều
3; khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều
204; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 11, Điều 18, Điều 21 Luật khiếu nại năm 2011;
- Căn cứ vào Điều 12, khoản 6 Điều 15 khoản 1, khoản 5 Điều 32 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Xuân T và ông Hoàng M, về việc yêu cầu
huỷ thông báo số 2967/TB-UBND ngày 21/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân thành phố H (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A) huỷ văn bản
số 07/UBND/TCD ngày 03/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 18 tháng 6 năm 2026, người khởi kiện Hồ Xuân T, Hoàng M kháng
cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà T, ông M.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp kháng
nghị yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ nguyên kháng nghị số
08/QĐ-VKS-HC ngày 10/7/2026, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án cấp thẩm xác định
chưa đúng đối tượng khởi kiện, người bị kiện; đồng thời chưa thu thập đầy đủ
tài liệu, chứng cứ liên quan đến quá trình mở rộng Quốc lộ C qua các thời kỳ,
việc Nhà nước thu hồi, bồi thường hoặc vận động người dân hiến đất diện
tích đất thực tế của hộ bà T. Cấp sơ thẩm cũng chưa tiến hành thẩm định, đo đạc
thực tế để sở đối chiếu với lời trình bày của các đương sự. Do đó, căn
cứ xác định cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm để giải
quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
9
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Người khởi kiện Hồ Xuân T, Hoàng M nộp đơn kháng cáo và thực hiện
thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết
theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét về đối tượng khởi kiện:
T, ông M yêu cầu hủy Thông báo số 2967/TB-UBND ngày 21/8/2024
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ng văn số 07/UBND-TCD
ngày 03/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Nội dung các văn bản
này thhiện việc quan hành chính không thụ lý, giải quyết yêu cầu của T,
ông M liên quan đến việc thu hồi, bồi thường về đất. Do đó, cần xác định đúng
bản chất của việc khởi kiện khiếu kiện hành vi hành chính về việc không thụ
lý, giải quyết yêu cầu của người khiếu nại theo quy định tại khoản 3, khoản 4
Điều 3 Luật Ttụng hành chính. Cấp thẩm xác định đây khiếu kiện quyết
định hành chính là chưa phù hợp với nội dung và bản chất của vụ việc.
Về việc xác định người bị kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối tượng bị
kiện trong vụ án Thông báo số 2967 ngày 30/12/2024 do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố H ban hành. Tại thời điểm ban hành Thông báo này, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân thành phố H người bị kiện trong vụ án. Tuy nhiên, từ
ngày 01/7/2025, Ủy ban nhân dân thành phố H được giải thể do thực hiện việc
sắp xếp đơn vị hành chính; địa giới hành chính thành phố H sau sắp xếp thuộc
phường A. Theo quy định về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng khi quan hành
chính sự thay đổi, giải thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A là quan
kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H. Do
đó, việc Tòa án cấp thẩm xác định Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A
người bị kiện chưa đúng quy định pháp luật, bởi người bị kiện phải được xác
định Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H, còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường A là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
[2.2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Bà T, ông M cho rằng trong quá trình Nhà nước nâng cấp, mở rộng Quốc lộ
C từ năm 2011 đến nay đã sử dụng một phần đất thuộc các thửa đất số 361, 362
của gia đình nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất không thực hiện
bồi thường về đất. Trong khi đó, phía người bị kiện cho rằng việc mở rộng Quốc
lộ C do Nhà nước vận động nhân dân hiến đất, phần diện tích thực hiện mở
rộng đường và làm vỉa hè vẫn nằm trong phạm vi Quốc lộ C hiện hữu nên không
ảnh hưởng đến diện tích đất đã cấp cho hộ bà T.
Như vậy, để căn cứ xác định việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
H không thụ lý, giải quyết yêu cầu của T, ông M đúng pháp luật hay
không, cần phải làm rõ trước hết việc mở rộng Quốc lộ C qua từng thời kỳ có s
dụng diện tích đất của hộ bà T hay không; nếu có thì diện tích bao nhiêu, việc sử
10
dụng đất được thực hiện trên cơ sở thu hồi, bồi thường hay trên cơ sở người dân
tự nguyện hiến đất.
Hồ sơ vụ án thể hiện các bên có sự khác nhau về quá trình mở rộng Quốc lộ
C. Bà T cho rằng Quốc lộ C ban đầu rộng khoảng 03m, sau đó được mở rộng lên
khoảng 06m, 09m 11m; trong khi phía Ủy ban cho rằng Quốc lộ C chiều
rộng 15m việc mở rộng đường, làm vỉa vẫn nằm trong phạm vi Quốc lộ C
hiện hữu. Tuy nhiên, cấp thẩm chưa thu thập đầy đhồ sơ, tài liệu thhiện
quá trình mở rộng Quốc lộ C qua từng thời kỳ đcăn cứ xác định cụ thể
phạm vi, chiều rộng của Quốc lộ C phần diện tích đất đã được sử dụng để
thực hiện công trình.
Đối với việc người bị kiện cho rằng Nhà nước đã vận động các hộ dân hiến
đất để mở rộng Quốc lC, cấp thẩm cũng chưa thu thập được tài liệu, chứng
cứ chứng minh việc vận động, việc các hộ dân có tự nguyện hiến đất hay không,
diện tích hiến đất cụ thể phần đất của hộ T thuộc diện tích đã hiến hay
không. Việc cấp thẩm căn cứ chủ yếu vào lời trình bày của người bị kiện để
xác định việc mở rộng Quốc lộ C không ảnh hưởng đến quyền sdụng đất của
hộ bà T là chưa đủ cơ sở.
Mặt khác, cấp sơ thẩm chưa tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc
thực tế phần đất của hộ T để xác định diện ch, ranh giới đất hiện nay; chưa
đối chiếu diện tích thực tế với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phạm vi
Quốc lộ C, đường H, phần vỉa hiện hữu. Đây chứng cứ cần thiết đxác
định hay không việc diện tích đất của hộ bà T đã được sử dụng để mrộng
Quốc lộ C, làm vỉa hè như bà T, ông M trình bày.
Việc chưa thu thập đầy đủ hồ sơ về quá trình mở rộng Quốc lộ C, chưa làm
việc thu hồi, bồi thường hoặc vận động hiến đất, chưa xác định diện tích đất
thực tế bị ảnh hưởng và chưa thẩm định, đo đạc thực tế dẫn đến chưa đủ căn
cứ khách quan để đánh giá yêu cầu của T, ông M liên quan trực tiếp đến
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay không. Đồng thời, đây ng những
chứng cứ ý nghĩa quyết định đối với việc xem xét tính hợp pháp của hành vi
không thụ lý, giải quyết yêu cầu của cơ quan hành chính.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hoàng M trình bày lý do ông không nhận các
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đổi ngày 23/11/2022 đối với thửa
đất số 65, tờ bản đồ số 33, diện tích 740,2m² thửa đất số 58, tờ bản đồ số 33,
diện tích 209,8m² do trong quá trình đo đạc, cán bộ đo đạc đã xác định, định
vị không đúng vtrí thửa đất, dẫn đến phần đất của ông không thể hiện trong
diện tích đất bị giải tỏa để thực hiện dự án Quốc lộ C. Đây tình tiết mới được
ông M trình bày tại cấp phúc thẩm chưa được Tòa án cấp thẩm xem xét,
xác minh, làm rõ.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy những thiếu sót nêu trên liên quan trực
tiếp đến nội dung giải quyết vụ án, những vấn đề này cần được thực hiện đầy đủ
cấp thẩm không thể khắc phục toàn diện tại cấp phúc thẩm. Căn cứ
khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cần hủy bản án hành
11
chính thẩm chuyển hồ cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ
tục chung.
Do hủy bản án thẩm n Hội đồng xét xử phúc thẩm chưa xem xét đến
yêu cầu kháng cáo của các đương sự.
[3] Xét kháng nghị ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Do hủy án thẩm nên T, ông M không phải chịu án phí
phúc thẩm, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ
án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2026/HC-ST ngày 10 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp. Giao hồ vụ án về cho
Tòa án nhân dân Khu vực X Đồng Tháp xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
2. Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo
thủ tục sơ thẩm.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện Hồ Xuân T, ông
Hoàng M không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Trả lại T 300.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010349 ngày 18/6/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV X - Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV X - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất