Bản án số 1091/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1091/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1091/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1091/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Bảy tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Huỳnh Văn Quang
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1091/2026/DS-PT Bản án số 1091/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1091/2026/DS-PT Bản án số 1091/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1091/2026/DS-PT
Ngày 26-8-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
hợp đồng thế chấp, yêu cầu di dời tài sản
để trả lại quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất
CỘNG HÒA HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hnh phúc
——————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Nga
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên Thư Tòa án nhân n tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Phạm Khánh Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụsố 335/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng
5 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hợp đồng thế chấp, yêu cầu di dời tài sản để trả lại quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 387/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Trần Văn B, sinh năm 1955, chết ngày 10/5/2026;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973;
- Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1975;
Cùng địa chỉ: C, Ấp C, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1979;
- Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1980;
2
- Bà Trần Thị Ngọc T1, sinh năm 1983;
- Ông Trần Minh P1, sinh năm 1984;
- Bà Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1991;
Cùng địa chỉ: số B, Ấp D P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bà T, bà H, bà T1, ông P1, bà T2: bà Nguyễn Th
Thúy H1, sinh năm 1986, địa chỉ: Ấp F, xã L, tỉnh Tây Ninh.
(Theo c văn bản ủy quyền ngày 05/6/2026, ngày 06/6/2026 ngày
09/6/2026)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Ấp K, xã C, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Đặng Thanh V, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số D, ấp B, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ I, ấp T, xã P, tỉnh Tây Ninh.
3.3. Ông Phạm Thanh H2, sinh năm 1981;
Địa chỉ: số C, ấp C, xã A, tỉnh Tây Ninh.
3.4. Ông Võ Nghĩa Trọng T3, sinh năm 1989;
Địa chỉ: số A, đường T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông T3: bà Kim Ngọc Á, sinh năm
1999, địa chỉ: B0908 B, Tòa nhà S, số C N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 16/8/2025).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông T3: Luật Trần Hải L1, Công
ty L2, Đoàn Luật sư Thành phố H.
3.5. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1982;
Địa chỉ: ấp T, xã P, tỉnh Tây Ninh.
3.6. Ngân hàng TMCP C2.
Địa chỉ: A T, phường C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Trần Minh B1 Chức vụ: Chủ
tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phùng Tiến Quốc B2 - Chức vụ:
Phó Phòng Tổng hợp.
(Văn bản ủy quyền số 692/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 03/7/2023).
3.7. Văn phòng C3.
Địa chỉ: số B, đường N, khu phố H, xã C, tỉnh Tây Ninh.
3
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: ông Nguyễn Văn D, Trưởng Văn
phòng.
3.8. Văn phòng C3.
Địa chỉ: số A, đường L, ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: bà Nguyễn Vũ Thúy D1, Trưởng Văn
phòng.
3.9. Văn phòng C3.
Địa chỉ: Ấp A, xã L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Diễm P2, Trưởng Văn
phòng.
3.10. Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp K, xã C, tỉnh Tây Ninh.
3.11. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Số B ấp D P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
3.12. Ông Lê Hoàng N, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp D P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
3.13. Văn phòng C3;
Địa chỉ: Số A, đường N, ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: ông Dương Tấn T4, Trưởng Văn
phòng.
3.14. Ông Đinh Hùng S, sinh năm 1963;
Địa chỉ thường trú: số C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ cư trú:
số B, đường B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Trần Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/12/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/12/2023,
đơn khởi kiện bổ sung ngày 22/7/2025 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn ông Trần Văn B cùng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Ngô n
Q2 trình bày:
Tháng 01 năm 2023, do gặp khó khăn và cần tiền làm ăn nên ông Trần Văn B
được người quen giới thiệu đến gặp ông Đặng Thanh V để hỏi vay tiền. Ông V yêu
cầu nếu muốn vay tiền thì ông B phải làm thủ tục thế chấp thửa đất số 16, tờ bản đồ
số 20, diện tích 621.3 m
2
đất ở nông thôn tọa lạc tại Ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long
An, ông V sẽ cho ông B vay 1.500.000.000 đồng với mức lãi suất 02%/tháng, thời
hạn vay 12 tháng. Ngày 05/01/2023 ông V lập “Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất”
đưa ông B ký tên, ngay khi ký Hợp đồng đặt cọc ông V đã cho ông B vay số tiền là
4
1.000.000.000 đồng, số tiền 500.000.000 đồng còn lại ông V hứa sẽ cho ông B vay
vào ngày 05/01/2023.
Ngày 12/01/2023, ông V yêu cầu ông B đến Văn phòng C3 để ký kết hợp đồng
thế chấp đối với thửa đất số 16. Tuy nhiên, khi đến Văn phòng Công chứng, ông V
yêu cầu nhân viên Văn phòng C3 sẵn hợp đồng ủy quyền giữa ông B và ông Huỳnh
Văn Q (là người do ông V chỉ định hợp đồng ủy quyền với ông B), nội dung ủy
quyền toàn bộ cho ông Huỳnh Văn Q được thay mặt ông B thực hiện tất cả các quyền
của người sử dụng đất đối với thửa đất số 16. Khi ông B thắc mắc về việc ủy quyền
cho ông Q thì ông V nói ký hợp đồng ủy quyền để làm tin, ông V chỉ giữ hợp đồng
như một biện pháp bảo đảm khi nào ông B trả đủ tiền thì hủy hợp đồng ủy quyền.
Ngay khi hợp đồng ủy quyền, ông V giao cho ông B số tiền đặt cọc
500.000.000 đồng. Sau đó, khi liên hvới ông V để trả tiền đã vay tông B được
ông V thông báo rằng thửa đất số 16 đã được chuyển nhượng cho người khác. Ông
B đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C3 để sao lục hồ thì
được biết ngày 06/3/2023 ông Huỳnh Văn Q đã chuyển nhượng thửa đất số 16 cho
ông Trần Văn C (thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 16
sang tên cho ông C vào ngày 16/3/2023), ngày 29/6/2023 ông C hợp đồng ủy
quyền cho ông Phạm Thanh H2 được thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối
với thửa đất số 16. Đến ngày 16/8/2023, ông H2 hợp đồng chuyển nhượng thửa
đất số 16 cho ông Nghĩa Trọng T3 (thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa đất số 16 sang tên cho ông T3 o ngày 22/8/2023). Hiện nay, thửa đất số
16 được ông T3 thế chấp tại Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh E - Thành phố Hồ
Chí Minh.
Thời điểm kết Hợp đồng ủy quyền cho ông Huỳnh Văn Q (ngày 12/01/2023)
ông B đang trong thời kỳ hôn nhân với bà Nguyễn ThM, tuy nhiên ông B không
biết từ đâu mà ông Đặng Thanh V có thể làm thủ tục đề nghị Ủy ban nhân dân xã P
cấp cho ông B giấy xác nhận tình trạng hôn nhân với thông tin tình trạng hôn nhân
của ông B “chưa đăng kết hôn với ai” để đủ điều kiện ký kết hợp đồng ủy quyền
với ông Huỳnh Văn Q. Thửa đất số 16 là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn
nhân giữa ông B M, do đó hợp đồng ủy quyền giữa ông B ông Q hiệu
theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, lợi dụng Hợp đồng ủy quyền, ông Q đã
nhanh chóng tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số
16 cho ông Trần Văn C với gchuyển nhượng 2.100.000.000 đồng, ông C lại tiếp
tục hợp đồng ủy quyền cho ông Phạm Thanh H2, ông H2 tiếp tục hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 16 cho ông Nghĩa Trọng T3 với giá
1.700.000.000 đồng. Cuối cùng ông T3 dùng thửa đất số 16 thế chấp cho Ngân hàng
C2 Chi nhánh E - Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo cho khoản vay
7.000.000.000 đồng (giá trị thửa đất số 16 được Ngân hàng định giá
10.164.000.000 đồng).
Ông B hoàn toàn không biết về việc các nhân nêu trên thực hiện các giao
dịch chuyển nhượng, ủy quyền cho đến khi ông B liên hệ ông V để thanh toán khoản
vay. Thửa đất số 16 và nhà ở gắn liền với đất do ông B trực tiếp quản lý và sử dụng
từ khi kết hợp đồng ủy quyền cho ông Huỳnh Văn Q cho đến nay, ông Huỳnh
Văn Q khi thực hiện việc chuyển nhượng cho ông Trần Văn C cũng không thông báo
5
cho ông B và ông B cũng không nhận được bất kỳ khoản tiền chuyển nhượng nào từ
ông Trần Văn C.
Trong suốt quá trình thực hiện việc chuyển nhượng ủy quyền giữa các
nhân nêu trên, không một nhân nào đến vị trí thửa đất số 16 để khảo sát khu đất
mình nhận chuyển nhượng, ông B cũng không bị bất kỳ nhân nào yêu cầu phải
di dời khỏi thửa đất số 16. Thậm chí việc ông Võ Nghĩa Trọng T3 thế chấp thửa đất
số 16 cho Ngân hàng, nhưng Ngân hàng cũng không đến thửa đất để thẩm định. Các
giao dịch chuyển nhượng ủy quyền giữa các nhân nêu trên diễn ra rất nhanh
chóng trong vài tháng và chưa đến 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng
thì tên của người nhận chuyển nhượng đã được đăng biến động trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, về giá chuyển nhượng do các bên thỏa thuận
trong Hợp đồng chuyển nhượng hoàn toàn chênh lệch rất xa so với giá trị của thửa
đất số 16 được Ngân hàng C2 Chi nhánh E - Thành phố Hồ Chí Minh định giá.
Do đó, ông B u cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền ngày 12/01/2023 giữa ông
Trần Văn B ông Huỳnh Văn Q được Văn phòng C3, quyển số 01/2023TP/CC-
SCC/HĐGD đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 621,3m², loại đất: đất
ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 06/3/2023 giữa ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) ông Trần
Văn C được Văn phòng C3, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất
số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 621,3m², loại đất: đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp
D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền ngày 29/6/2023 giữa ông
Trần Văn C và ông Phạm Thanh H2 được Văn phòng C3, quyển số 06/2023TP/CC-
SCC/HĐGD đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 621,3m², loại đất: đất
ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 16/8/2023 giữa ông Trần Văn C (do ông Phạm Thanh H2 đại diện) và ông
Nghĩa Trọng T3 được Văn phòng C3, quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 621,3m², loại đất: đất tại nông thôn, tọa
lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất số 219/2023/HĐBĐ/NHCT920-PGDĐK ngày 28/9/2023 được
Văn phòng C3, quyển số 01-2023-TP/CC-SCC/HĐGD đối với tài sản quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp
D, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Văn Q trình bày:
Ông và ông Đặng Thanh V mối quan hệ quen biết, ông biết ông Trần Văn B
thông qua ông V. Khoảng cuối năm 2022, ông V nói ông V nhận chuyển nhượng của
ông B thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An,
nhưng không đủ tiền để trả cho ông B nên ông V mượn ông số tiền 2.500.000.000
đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thời hạn mượn tiền 01 tháng, ông đã giao số
6
tiền 2.500.000.000 đồng cho ông V trong 03 lần nhưng không nhớ ngày tháng, khi
ông giao tiền cho ông V thì có ông B chứng kiến, việc mượn tiền không có làm giấy
tờ. Để đảm bảo cho s tiền mà ông V mượn của ông, ông V và ông B đồng ý ký hợp
đồng ủy quyền sang cho ông. Do ông B ông V không vay vốn Ngân hàng được
nên ông V nhông Trần Văn C đứng n bằng hình thức ông hợp đồng chuyển
nhượng sang tên ông C, sau đó ông C không đồng ý đứng ra hợp đồng vay tiền
nên ông V ông B yêu cầu ông C phải hợp đồng ủy quyền thửa đất nêu trên
sang cho ông Phạm Thanh H2, đồng thời ông V và ông B trả cho ông số tiền
2.500.000.000 đồng. Còn việc sau này ông H2 chuyển nhượng cho ai hay
không thì ông không biết.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn B thì ông không đồng ý vì ông
đã thực hiện theo yêu cầu của ông B và ông V về việc ký hợp đồng ủy quyền và hợp
đồng chuyển nhượng. Ngoài ra, ông không biết thỏa thuận mua bán giữa ông B
ông V như thế o. Trong vụ án này ông không ý kiến, không yêu cầu gì. Ông
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thanh V trình bày:
Ông không quen biết ông Trần Văn B, ông ông Huỳnh Văn Q mối quan
hệ quen biết làm ăn. Do ông cần tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất s16 của ông
B, nên ông vay của ông Q số tiền 2.500.000.000 đồng. Ông ông B thỏa
thuận đặt cọc và phạt cọc theo Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 05/01/2023.
Tại thời điểm đó các bên thỏa thuận ông B ủy quyền thửa đất số 16 cho ông Q,
sau đó ông Q chuyển nhượng cho ông Trần Văn C để ông C làm thủ tục vay Ngân
hàng. Tuy nhiên, ông C không vay Ngân hàng được do phát sinh tranh chấp với ông
Trần Văn B Nguyễn Thị M. Từ đó, ông B thỏa thuận ông C tách diện tích
200m
2
sang tên M, việc thỏa thuận y làm giấy cam kết ngày 27/6/2023
ngày 29/6/2023 có chữ ký của ông, ông B và bà M. Sau đó, ông C ký ủy quyền thửa
đất số 16 cho ông Phạm Thanh H2. Ông đã thanh toán tiền chuyển nhượng cho ông
B và trả nợ vay cho ông Q.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông B thì ông không đồng ý trong quá trình
hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng thì ông B đều biết thỏa thuận.
Trong vụ án này, ông không có yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn C trình bày:
Ông không quen biết ông Trần Văn B ông Huỳnh Văn Q. Năm 2023, anh
ruột của ông là ông Trần Văn Đ nhờ ông đứng tên giùm trên các Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/3/2023, Hợp đồng ủy quyền ngày 29/6/2023,
thực tế ông không biết về việc chuyển nhượng hay ủy quyền liên quan đến thửa
đất số 16, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An. Trong vụ án này,
ông không có ý kiến hay yêu cầu gì, ông không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu. Do ông bận công việc nên ông xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa
án các cấp giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết ván người có quyền lợi, nghĩa vliên quan ông
Nghĩa Trọng T3 do người đại diện theo ủy quyền bà Kim Ngọc Á trình bày:
7
Việc chuyển nhượng thửa đất số 16 giữa ông Nghĩa Trọng T3 với ông Phạm
Thanh H2 hợp pháp. Ông H2 đã biên bản bàn giao tài sản với ông T3 theo biên
bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023. Tại thời điểm đó, ông B đang nhờ trên đất,
ông H2 xác định cho ông B nhờ trên đất ông B người quen của ông H2 ông
B cam kết sẽ di dời tài sản của ông B ra khỏi đất của ông T3 khi ông T3 chuyển
nhượng đất cho người khác.
Khi tiến hành thẩm định tài sản để làm thủ tục cho vay đối với thửa đất số 16,
tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An thì cán bộ ngân hàng,
ông T3, ông H2 ông B đều mặt tại thửa đất đã thỏa thuận để ông B di dời
khỏi đất ông T3.
Theo Bản án số 07/2023/HNGĐ-PT ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh
Long An tông B có nghĩa vụ chia cho M 200m² đất thuộc thửa số 16, tờ bản đồ
số 20, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An. Tại buổi làm việc với cơ quan
thi hành án ngày 16/5/2023, ông B xác nhận ông B đã chuyển nhượng bàn giao
thực tế toàn bộ thửa đất này cho ông C quản lý, sử dụng, ông B đề nghị ông C tạo
điều kiện chuyển nhượng lại 200m
2
đất cho bà M, tuy nhiên, số tiền chuyển nhượng
ông B sẽ thanh toán cho ông C theo thỏa thuận riêng của hai bên. Vào thời điểm này,
ông C nhu cầu chuyển nhượng thửa đất cho bên thứ ba nhưng bị bà M ngăn chặn
việc chuyển nhượng, để mọi việc được dễ dàng thì ông C đồng ý với đề nghị của ông
B là tách cho bà M 200m
2
đất.
Do đó, ông T3 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, ông T3 yêu cầu độc lập buộc ông B phải di dời toàn bộ tài sản
của ông B ra khỏi phần đất thuộc thửa số 16 của ông T3.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn Đ trình bày:
Ông và ông Đặng Thanh V, ông Huỳnh Văn Q mối quan hệ quen biết, ông
không quen biết ông Trần Văn B. Khoảng cuối năm 2022, ông V có mượn ông Q số
tiền khoảng trên hoặc dưới 2.000.000.000 đồng, ông V nói mượn số tiền nêu trên để
giao dịch mua bán đất đai với ông B. Vài tháng sau, ông V nhờ ông mượn người
đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 16, tờ bản
đồ số 20, tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An của ông Trần Văn B, nên ông
nhờ em ruột của ông ông Trần Văn C đứng tên nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh
Văn Q đối với thửa đất số 16 để đứng ra vay vốn Ngân hàng thay cho ông V và ông
B. Sau đó, ông và ông C thấy sự việc phức tạp nên không đồng ý tiếp tục đứng ra
tên vay vốn Ngân hàng. Từ đó, ông V và ông B yêu cầu ông C ký tên chuyển trả lại
cho một người thứ ba theo sự chỉ định của ông V và ông B, nên ông C ký hợp đồng
ủy quyền lại cho ông Phạm Thanh H2. Còn việc sau này ông B, ông V, ông Q
giao dịch gì với nhau hay không thì ông không biết.
Trong vụ án này, ông không liên quan đến việc ủy quyền hay chuyển nhượng
thửa đất số 16, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân
hàng TMCP C2 do người đại diện theo ủy quyền ông Phùng Tiến Quốc B2 trình bày:
8
Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh E - Thành phố Hồ Chí Minh ông
Nghĩa Trọng T3 kết Hợp đồng cho vay số 219/2023-HĐCV/NHCT920-
PGDĐK ngày 29/9/2023, số tiền vay 7.000.000.000 đồng; mục đích vay phục
vụ đời sống, thời hạn vay là 420 tháng. Để đảm bảo khoản nợ vay, tài sản thế chấp
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 412,7m², loại đất: Đất tại nông thôn,
tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số
219/2023/HĐBĐ/NHCT920-PGDĐK ngày 28/9/2023, số công chứng 05506, quyển
số 01-2023-TP/CC-SCC/HĐGD, đăng giao dịch bảo đảm ngày 28/9/2023. Các
thủ tục cho vay thế chấp được kết giữa Ngân hàng TMCP C2 với ông T3
hợp pháp. Do đó, ông không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn, ông đồng ý với yêu
cầu của ông T3 buộc ông B phải di dời tài sản ra khỏi thửa đất số 16 của ông T3.
Hiện ông T3 vẫn đang thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng nên trong vụ án
này Ngân hàng không có yêu cầu gì khác.
Ngân hàng TMCP C2 thực hiện các trình tự, thủ tục cho vay vốn, thế chấp theo
đúng quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án xem xét Ngân hàng là bên thứ ba ngay
tình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 trình bày:
Văn phòng C3 chứng nhận Hợp đồng ủy quyền số ng chứng 833, quyển
số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/01/2023 giữa bên ủy quyền ông Trần
Văn B với bên được ủy quyền là ông Huỳnh Văn Q đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ
số 20, tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An. Việc công chứng Hợp đồng ủy quyền
số công chứng 833, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/01/2023 được
thực hiện đúng quy trình, hồ đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật. Văn phòng
C3 xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 trình bày:
Ngày 06/3/2023, Văn phòng C3 có tiếp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn Q
đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn B theo Hợp đồng ủy quyền công chứng số
833, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C3
chứng nhận ngày 12/01/2023 về việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: Ấp D, P,
huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CP 812009 svào sổ cấp GCN: CS 09922 do
Sở Tài nguyên i trường tỉnh L cấp ngày 07/12/2018 cho ông Trần Văn B. Việc
công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên
giữa bên chuyển nhượng ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) với
bên nhận chuyển nhượng ông Trần Văn C số công chứng 000618, quyển số
01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được Công chứng viên Văn phòng C3 chứng nhận
ngày 06/3/2023 thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/8/2023, Văn phòng C3 có tiếp nhận yêu cầu của ông Phạm Thanh H2
là đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn C theo Hợp đồng ủy quyền công chứng
số 1706, quyển số 06/2023 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C3
chứng nhận ngày 29/6/2023 về việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: Ấp D, xã P, huyện
B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
9
tài sản khác gắn liền với đất số CP 812009 số vào sổ cấp GCN: CS 09922 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 07/12/2018, cập nhật biến động sang tên ông
Trần Văn C ngày 16/3/2023. Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với thửa đất u trên giữa bên chuyển nhượng ông Trần Văn C (do
ông Phạm Thanh H2 đại diện) với bên nhận chuyển nhượng ông Nghĩa
Trọng T3 số công chứng 002556, quyển s03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD được Công
chứng viên Văn phòng C3 chứng nhận ngày 16/8/2023 thực hiện đúng trình tự, thủ
tục theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
06/3/2023 ngày 16/8/2023 của nguyên đơn, Văn phòng C3 đnghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật xin được vắng mặt trong suốt quá trình
giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 trình bày:
Ngày 29/6/2023, ông Trần Văn C ông Phạm Thanh H2 yêu cầu công
chứng Hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: Ấp D, xã
P, huyện B, tỉnh Long An. Theo đó, các giấy tờ có liên quan đến việc công chứng do
đương sự cung cấp là đầy đủ. Tại thời điểm công chứng, các bên có năng lực hành
vi dân sự phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, n phòng Công chứng đã công
chứng hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật về công chứng và pháp luật dân sự.
Về yêu cầu của nguyên đơn, Văn phòng C3 đnghị Tòa án n cứ vào chứng
cứ do các bên cung cấp để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Văn phòng
C3 sẽ tuân thủ theo bản án, quyết định của Tòa án và đề nghị được vắng mặt trong
suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 trình bày:
Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh E - Thành phố Hồ
Chí Minh và ông Nghĩa Trọng T3 được Văn phòng C3 chứng nhận ngày
28/9/2023 số công chứng 05506, quyển số 01-2023-TP/CC-SCC/HĐGD đối với
quyền sử dụng 621,3m
2
đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, tọa
lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CP 812009, số vào sổ CS
09922 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 07/12/2018 được thực hiện
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật, Văn phòng C3 xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng
các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q1 trình bày:
Bà là vợ của ông Huỳnh Văn Q, bà thống nhất với ý kiến của ông Q. Trong vụ
án nàykhông có yêu cầu gì, do bận công việc nên xin vắng mặt trong suốt q
trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:
là vợ của ông Trần Văn B. ông B đã ly hôn theo Bản án số
07/2023/HNGĐ-PT ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, khi ly hôn
được chia tài sản chung phần đất diện tích 200m
2
thuộc một phần thửa đất số
16, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An. Sau khi bản án
10
hiệu lực pháp luật, đến quan thi hành án để thỏa thuận thi hành án đối với
phần đất được chia tài sản chung nhưng không nhchính xác thỏa thuận
với ai vào thời gian nào. Sau đó, đã nhận phần đất diện tích 200m
2
đã
đứng tên phần đất này. Bà không quen biết ông Đặng Thanh Vông Trần Văn C,
bà không có thỏa thuận gì với ông V, ông C. Trong vụ án này, bà không có yêu cầu
gì và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng N trình bày:
Ông có thuê của ông Trần Văn B một phần đất diện tích khoảng ngang 3m, dài
5m thuộc một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, xã P, huyện B, tỉnh Long An để
mở tiệm sửa xe, không thỏa thuận thời hạn thuê không làm hợp đồng thuê, thỏa
thuận miệng trả tiền thuê hàng tháng là 500.000 đồng. Trong vụ án này, ông không
có yêu cầu hay ý kiến gì. Trường hợp Tòa án tuyên thửa đất này của người nào, nếu
chủ đất yêu cầu tháo dỡ công trình để trả đất thì ông cũng đồng ý. Do bận công việc
nên ông xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hùng S trình bày:
Năm 2017, ông nhận chuyển nhượng của ông Hoàng H3 thửa đất số 120,
diện tích 175m
2
, tờ bản đồ số 5-1, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã
M, tỉnh Tây Ninh). Ông đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 175m
2
vào m 2017. Khi ông nhận chuyển nhượng
của ông H3 không đo đạc thực tế, giáp ranh với thửa đất số 120 là thửa đất số 16,
tờ bản đồ số 74 do ông Trần Văn B đang quản lý, sử dụng, thời điểm đó ông B xác
định ranh giới thửa 120 và thửa 16 là khu A1 thuộc thửa 120 của ông. Do đó, khoảng
tháng 3/2025 ông xây bức tường tại vị trí khu A1 và đang quản lý, sử dụng khu A1
này. Ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 120 đúng quy định
của pháp luật, khu A1 thuộc thửa 120 do ông đứng tên. Trong vụ án này, ông không
có tranh chấp hay yêu cầu gì, do ông bận công việc nên ông xin vắng mặt trong sut
quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
Vụ án được a án cấp sơ thẩm tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được
với nhau.
Tại Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh đã căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164 Bluật Dân sự năm 2015; các Điều
169, 188 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 12, 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn B đối với
bị đơn ông Huỳnh Văn Q về việc tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Võ Nghĩa Trọng T3 đối với nguyên đơn ông Trần Văn B về việc tranh chấp yêu cầu
di dời tài sản để trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
11
2.1. Buộc ông Trần Văn B trách nhiệm giao cho ông Nghĩa Trọng T3
được quản lý, sử dụng phần đất tại vị trí khu A, diện tích đo đạc thực tế 397m
2
,
thuộc một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20 (nay tờ bản đồ số 74), loại đất
ONT, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An (nay xã M, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 812009 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
L cấp cho ông Trần Văn B ngày 07/12/2018 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai tại huyện B đăng ký biến động, chỉnh lý sang tên ông Võ Nghĩa Trọng T3 ngày
22/8/2023.
2.2. Buộc ông Trần Văn B có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc
sở hữu của ông Trần Văn B ra khỏi căn nhà cấp 4, kí hiệu nhà (1), nhà (2), nhà (3),
nhà (4) gắn liền với một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ 20 (nay là tờ bản đồ số 74),
diện tích đo đạc thực tế 397m
2
, loại đất ONT, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long
An (nay xã M, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP
812009 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Trần Văn B ngày
07/12/2018 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện B đăng biến
động, chỉnh lý sang tên ông Võ Nghĩa Trọng T3 ngày 22/8/2023 để trả lại đất và tài
sản gắn liền với đất cho ông Võ Nghĩa Trọng T3 quản lý, sử dụng.
(Vị trí, hiện trạng, diện tích đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo địa
chính số 394-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện B thực hiện
ngày 13/6/2024 duyệt ngày 20/9/2024, Mảnh trích đo địa chính số 271-2025 do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực B thực hiện ngày 26/9/2025 và duyệt
ngày 09/10/2025 được đính kèm theo Bản án).
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn B phải chịu 31.508.500 đồng, ông B
đã nộp xong.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Trần Văn B được miễn toàn bộ án phí.
4.2. Hoàn trả cho ông Võ Nghĩa Trọng T3 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0007372 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án n sự khu vực 4 Tây
Ninh).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi
hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/3/2026 nguyên đơn ông Trần Văn B làm đơn
kháng cáo, u cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận u cầu của người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Võ Nghĩa Trọng T3.
Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau, nguyên
đơn ông Trần Văn B do những người thừa kế của ông B gồm bà Trần Thị Thu T, bà
Trần Thị Thu H, bà Trần Thị Ngọc T1, ông Trần Minh P1, bà Trần Thị Ngọc T2 do
Nguyễn Thị Thúy H1 đại diện không rút đơn khởi kiện đơn kháng cáo, yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Trường hợp có vi phạm về thủ tục tố tụng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm,
Trần Thị Ngọc T1, Trần Thị Ngọc T2 trình bày cho rằng, hiện n nhà được
12
xây dựng trên thửa đất số 16 tờ bản đồ số 20 do Trần Thị Ngọc T1, Trần Thị
Ngọc T2 cùng các con Công B3, Thị Hoài N1, Dương Khả D2 đang sử
dụng. Trong quá trình a án cấp thẩm giải quyết vụ án, ông B trình bày cho rằng,
ông B chỉ sống một mình nhà không đúng, không trung thực. Các con của ông
B không biết cũng như không tham gia vào các giao dịch do ông B thực hiện, nhưng
chỉ biết rằng, ông B không chuyển nhượng nhà đất, chỉ thế chấp quyền sử dụng đất
để vay tiền. H1 trình bày cho rằng, Tòa án cấp thẩm chưa đưa những người
đang sống trên đất vào tham gia tố tụng, ông Q là người cho ông B vay tiền, ông B
lập hợp đồng ủy quyền cho ông Q khi bản án ly hôn của ông B bà M chưa có hiệu
lực pháp luật, ông B thực sự không chuyển nhượng nhà đất, nên không có việc giao
nhà đất, mà người ký bàn giao nhà đất ông H2 không phải ông B. Hiện phần đất
cho người khác thuê, các con của ông B hiện nay đang lấy tiền thuê, ông B nhận tiền
thấp hơn giá trị thực tế của nhà đất rất nhiều nên không có việc chuyển nhượng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn Q giữ nguyên trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông
người cho ông V vay tiền, ông B đã lập hợp đồng ủy quyền cho ông, ông B yêu cầu
ông lập hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, số tiền cho vay ông đã nhận lại
nên không có yêu cầu gì trong vụ án.
Ông Trần Văn Đ anh ruột của ông Trần Văn C cho rằng, việc lập hợp đồng
chuyển nhượng cho ông C theo yêu cầu của ông B, ông B đã chuyển nhượng quyền
sử dụng đất. Ông C cũng không có yêu cầu trong vụ án.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nghĩa Trọng T3 do Kim Ngọc
Á đại diện cùng Luật sư Trần Hải L1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T3
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên trình bày như bản án sơ thẩm, ông T3
người thực tế nhận chuyển nhượng nhà đất, có biên bản bàn giao nhà đất, trong quá
trình Tòa án giải quyết vụ án chỉ có một mình ông B sử dụng nhà đất, ngoài ra không
có ai khác. Đối với người đang thuê nhà thì đã có ý kiến trong hồ sơ và phía ông T3
không có yêu cầu.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát vviệc chấp hành pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cho rằng: Toà
án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự, kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn B trong thời hạn luật định, đủ điều kiện
để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn B do các con của ông B kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng thấy rằng:
Ông Trần Văn B cho rằng ông B vay tiền của ông Đặng Thanh V, để đảm bảo
khoản nợ vay thì ông B phải làm thủ tục thế chấp thửa đất số 16 cho ông Huỳnh Văn
Q với hình thức hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, ông B không cung cấp được chứng
cứ chứng minh việc ông B vay tiền của ông V. Trong khi đó, ông V xác định ông
ông B thỏa thuận chuyển nhượng nhà và thửa đất số 16 theo Hợp đồng đặt cọc
mua bán nhà đất ngày 05/01/2023, do cần tiền để thanh toán tiền chuyển nhượng cho
ông B nên vay của ông Q số tiền 2.500.000.000 đồng, khi đó các bên thỏa thuận
ông B ủy quyền thửa đất số 16 cho ông Q. Thời điểm ông B ông Q hợp
đồng ủy quyền còn trong thời kỳ hôn nhân của ông B và Nguyễn Thị M, thửa
đất số 16 là tài sản chung của ông B và bà M nên việc ông B ký hợp đồng ủy quyền
13
không có ý kiến của bà M là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà M. Tuy nhiên, theo
Biên bản về việc thỏa thuận thi hành án ngày 16/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An thể hiện ông Trần Văn B, Nguyễn Thị M, ông
Trần Văn C đã thỏa thuận ông C thực hiện thủ tục cắt chuyển phần đất 200m
2
thuộc
một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, tại xã P, huyện B cho bà M nên quyền lợi
của bà M đối với thửa đất số 16 đã được giải quyết.
Theo trình bày của ông Trần Văn B, ông Huỳnh Văn Q, ông Đặng Thanh V,
ông Trần Văn C, ông Trần Văn Đ thì Hợp đồng ủy quyền ngày 12/01/2023 giữa ông
Trần Văn B ông Huỳnh Văn Q, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
06/3/2023 giữa ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) ông Trần Văn C,
Hợp đồng ủy quyền ngày 29/6/2023 giữa ông Trần Văn C và ông Phạm Thanh H2
đối với thửa đất s16, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất tại Ấp D, xã P, huyện B, tỉnh
Long An (nay M, tỉnh y Ninh) không thật mục đích nhờ đứng tên
giùm thửa đất số 16; không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông B giao đất cho
ông V, ông Q, ông C, ông H2 quản lý, sử dụng và không có việc ông Q, ông C, ông
H2 thanh toán tiền chuyển nhượng đất cho ông B. Thực tế chỉ việc ông Đặng
Thanh V giao cho ông Trần Văn B 05 lần tổng số tiền 3.000.000.000 đồng theo “Hợp
đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 05/01/2023” được ký giữa ông B và ông V. Do
đó, các Hợp đồng nêu trên bị vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 124 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
Ngày 16/8/2023, ông Phạm Thanh H2 đại diện cho ông Trần Văn C “Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thửa đất số 16 cho ông Nghĩa Trọng T3
với giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng 1.700.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo
nội dung “Giấy cam kết ngày 29/6/2023” thì ông Trần Văn C không liên quan đến
việc chuyển nhượng đất việc ủy quyền cho ông Phạm Thanh H2 theo thỏa
thuận của ông Trần Văn B và ông Đặng Thanh V. Do đó, ông H2 chỉ là người được
ông B, ông V y quyền, ông H2 không phải chủ sử dụng thửa đất số 16 nên việc
ông T3 trình bày thời điểm ông T3 nhận chuyển nhượng đất thì ông H2 cho ông B
nhờ trên đất là không có cơ sở; ông T3 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
chứng minh ông B có cam kết sẽ di dời tài sản của ông B ra khỏi đất của ông T3 khi
ông T3 chuyển nhượng đất cho người khác. Theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày
13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 4, tỉnh Tây Ninh) thể hiện ông Trần Văn B đang sinh sống trong căn
nhà trên thửa đất số 16 ông B đang quản các tài sản và cây trồng trên đất nhưng
ông B trình bày không biết việc ông H2 chuyển nhượng thửa đất số 16 cho ông T3
ông B ng không nhận được tiền chuyển nhượng đất cho ông T3. Do đó, Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/8/2023 giữa ông Trần Văn C (do
ông Phạm Thanh H2 đại diện) và ông Võ Nghĩa Trọng T3 đối với thửa đất số 16 bị
hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
Đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2023/HĐBĐ/NHCT920-PGDĐK,
được công chứng tại Văn phòng C3 ngày 28/9/2023 để đảm bảo khoản nợ ông T3
vay của Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh 5 - Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng
cho vay s219/2023- HĐCV/NHCT920-PGDĐK ngày 29/9/2023. Khi Ngân ng
nhận thế chấp thửa đất số 16 thì ông Trần Văn B đang sinh sống trong căn nhà trên
14
thửa đất số 16 ông B đang quản các tài sản và cây trồng trên đất nhưng Ngân
hàng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông B đồng ý cho ông
T3 thế chấp thửa đất số 16 để vay tiền Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng không được
xem là ngay tình khi nhận thế chấp thửa đất số 16 nên Hợp đồng thế chấp tài sản số
219/2023/HĐBĐ/NHCT920-PGDĐK, được công chứng tại n phòng C3 ngày
28/9/2023 bị vô hiệu theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết hậu quả khi hợp đồng vô hiệu: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 đại
diện cho nguyên đơn có yêu cầu giải quyết hậu quả khi hợp đồng vô hiệu. Kim
Ngọc Á đại diện cho ông Võ Nghĩa Trọng T3 không có yêu cầu giải quyết hậu quả
khi hợp đồng hiệu. Xét việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là một phần
trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nên để giải quyết triệt để vụ án thì cần xem
xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi hợp đồng vô hiệu thì
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có
lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Ông B không có giao đất nên ông B được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số
16. Ông B đã nhận của ông V tổng cộng số tiền 3.000.000.000 đồng theo “Hợp đồng
đặt cọc mua bán nhà đất ngày 05/01/2023” được ký giữa ông B và ông V nên ông B
phải hoàn trả cho ông V số tiền 3.000.000.000 đồng. Ông Phạm Thanh H2 phải hoàn
trả cho ông Võ Nghĩa Trọng T3 số tiền 1.700.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/8/2023 giữa ông Trần Văn C (do ông Phạm
Thanh H2 đại diện) và ông Võ Nghĩa Trọng T3. Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh 5
- Thành phố Hồ Chí Minh đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số
16 nên Ngân hàng phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B để ông
B đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về lỗi làm cho các hợp đồng vô hiệu là do ông V thỏa thuận với ông B để ông
Q, ông C, ông H2 đứng tên giùm thửa đất số 16, do đó li thuộc về ông V và ông B,
ông V là người chủ động tìm người đứng tên giùm thửa đất số 16 nên ông V chịu 2/3
lỗi, ông B có thỏa thuận với ông V nên ông B chịu 1/3 lỗi.
Về thiệt hại khi các hợp đồng vô hiệu:
Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 12/01/2023 giữa ông Trần Văn B ông
Huỳnh Văn Q, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/3/2023 giữa
ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) và ông Trần Văn C, Hợp đồng ủy
quyền ngày 29/6/2023 giữa ông Trần Văn C ông Phạm Thanh H2 giả tạo, không
có thiệt hại xảy ra.
Đối với Hợp đồng thế chấp tài sản số 219/2023/HĐBĐ/NHCT920-PGDĐK
giữa ông Võ Nghĩa Trọng T3Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh 5 - Thành phố Hồ
Chí Minh thì phía Ngân hàng chưa xác định có thiệt hại xảy ra.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/8/2023 giữa ông
Trần Văn C (do ông Phạm Thanh H2 đại diện) ông Nghĩa Trọng T3, giá chuyển
nhượng ghi trên hợp đồng 1.700.000.000 đồng. Theo kết quả thẩm định giá tại
Chứng tthẩm định giá s020/2025/06-HD/TĐG LA-BĐS ngày 05/02/2025 của
Công ty CP T5 và T6 thì thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20, diện tích 412,7m
2
có giá trị
15
là 8.584.160.000 đồng. Do đó, thiệt hại xảy ra cho ông T3 là chênh lệch giữa giá đất
hiện tại giá đất chuyển nhượng trên hợp đồng số tiền 6.884.160.000 đồng (=
8.584.160.000 đồng - 1.700.000.000 đồng). Ông V chịu 2/3 lỗi nên ông V phải chịu
trách nhiệm bồi thường cho ông T3 2/3 thiệt hại số tiền 4.589.440.000 đồng (=
6.884.160.000 đồng x 2/3). Ông B chịu 1/3 lỗi nên ông B phải chịu trách nhiệm bồi
thường cho ông T3 1/3 thiệt hại số tiền 2.294.720.000 đồng (= 6.884.160.000 đồng
x 1/3).
Từ những n cứ u trên, đnghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông B, sửa Bản án
thẩm như đã phân tích trên. Tuy nhiên, ông Trần Văn B đã chết ngày 10/5/2026 nên
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông B phải trách nhiệm thi
hành bản án trong phạm vi di sản của ông B để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn B được thực hiện đúng thời
hạn thtục theo quy định tại các Điều 272, 273 và 276 Bluật Tố tụng dân sự
năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
gồm ông Trần Văn C, ông Trần Văn Đ, Nguyễn Thị Q1, Nguyễn Thị M, ông
Lê Hoàng N, Văn phòng C3, Văn phòng C3, Văn phòng C3Văn phòng C3 vắng
mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng ông Phạm Thanh H2 đã rời khỏi nơi cư trú
nên Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết theo quy định. Căn cứ Điều 296 Bộ luật T
tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: ông Trần Văn B khởi kiện yêu cầu tuyên hiệu các
giao dịch liên quan đến thửa đất số 16, tờ bản đồ s 20 (nay là tờ bản đồ số 74), loại
đất ONT, tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây Ninh), gồm:
Hợp đồng ủy quyền giữa ông Trần Văn B ông Huỳnh Văn Q; Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) và
ông Trần Văn C; Hợp đồng ủy quyền giữa ông Trần Văn C và ông Phạm Thanh H2;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn C (do ông Phạm
Thanh H2 đại diện) ông Nghĩa Trọng T3; Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất giữa ông T3 Ngân hàng TMCP C2. Người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Nghĩa Trọng T3 có yêu cầu độc lập buộc ông
B giao trả nhà, đất. Bản án thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B và
chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T3 nên ông B kháng cáo. Trong quá trình chuẩn
bị xét xử phúc thẩm, ông B chết; những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
ông tiếp tục kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông B.
[4] Xét kháng cáo của ông Trần Văn B cho rằng các hợp đồng liên quan đến
thửa đất số 16 là giao dịch giả tạo nhằm che giấu quan hệ vay tài sản, theo quy định
tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015:
[4.1] Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 12/01/2023 giữa ông Trần Văn B ông
Huỳnh Văn Q:
16
Ông B trình bày rằng tháng 01/2023, do cần tiền làm ăn nên đã vay ông Đặng
Thanh V số tiền 3.000.000.000 đồng; việc Hợp đồng ủy quyền cho ông Q chỉ
nhằm bảo đảm khoản vay này, ông Q không có quyền định đoạt thửa đất số 16. Xét
thấy, lời trình bày trên không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và lời khai của những
người có liên quan trong hồ sơ vụ án.
Ngày 05/01/2023, ông B ông V đã Hợp đồng đặt cọc mua n nhà đất,
thể hiện quan hệ giữa hai bên là quan hệ giao dịch mua bán nhà, đất chứ không phải
quan hvay tài sản. Chính ông V ng xác định đã thỏa thuận đặt cọc, mua bán thửa
đất số 16 với ông B, do cần tiền thanh toán cho ông B nên đã vay ông Q
2.500.000.000 đồng; lời khai này phù hợp với lời khai của ông Q về việc cho ông V
vay tiền và việc các bên thỏa thuận để ông B hợp đồng ủy quyền cho ông Q. Ông
V thừa nhận đã thanh toán cho ông B trả nợ cho ông Q; số tiền giao cho ông B
được thể hiện qua 05 lần, tổng cộng 3.000.000.000 đồng. Như vậy, căn cứ xác
định giữa ông B và ông V có việc giao nhận tiền gắn liền với Hợp đồng đặt cọc mua
bán nhà đất ngày 05/01/2023, trong khi ông B không xuất trình được bất kỳ tài liệu
nào thể hiện khoản tiền 3.000.000.000 đồng là một khoản vay độc lập kèm nghĩa vụ
hoàn trả.
Lời khai của ông Trần Văn Đ về việc ông V vay tiền ông Q để thực hiện giao
dịch với ông B, sau đó nhờ ông Đ tìm người đứng tên nhận chuyển nhượng thửa đất
số 16 để phục vụ việc vay vốn ngân hàng, và khi việc vay vốn không thực hiện được
thì người đứng tên (ông Trần Văn C) tiếp tục ký ủy quyền cho ông Phạm Thanh H2
theo sự thống nhất của những người liên quan, cũng phù hợp về diễn biến với lời
khai của ông C.
Việc các bên nhờ nhau đứng tên để thực hiện thủ tục vay vốn tình tiết cần
được xem xét trong tổng thể quan hệ giao dịch giữa ông B, ông V những người
liên quan, không thể chỉ từ đó mà kết luận toàn bộ các hợp đồng đều không có ý c
chuyển giao quyền sử dụng đất hoặc đều là giao dịch giả tạo. Sau khi Hợp đồng ủy
quyền ngày 12/01/2023 được ký kết, ông Q đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 06/3/2023 cho ông C; các lời khai của ông V, ông Q, ông C và ông
Đ đều thống nhất rằng ông B biết và có thỏa thuận về việc này.
Từ những căn cứ trên, chưa đủ sở c định Hợp đồng ủy quyền ngày
12/01/2023 được xác lập giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng vay tài sản giữa ông
B và ông V theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Lời trình bày sau
này của ông B cho rằng chỉ thế chấp đất để vay tiền chỉ là ý kiến của một bên, không
được các chứng cứ khác trong hồ sơ chứng minh.
[4.2] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/3/2023 giữa
ông Trần Văn B (do ông Huỳnh Văn Q đại diện) ông Trần Văn C, Hợp đồng
ủy quyền ngày 29/6/2023 giữa ông Trần Văn Công Phạm Thanh H2:
Ông B cho rằng các hợp đồng nàygiao dịch giả tạo vì ông B không trực tiếp
kết, không giao đất không nhận tiền chuyển nhượng. Xét thấy, Hợp đồng
chuyển nhượng ngày 06/3/2023 được ông Q với tư cách đại diện theo Hợp đồng
ủy quyền ngày 12/01/2023 đã được công chứng; ông C thừa nhận việc đứng tên nhận
chuyển nhượng, ông Đ xác định việc này là theo thỏa thuận giữa những người liên
quan. Ông V cũng trình bày ông B biết thỏa thuận việc ông C đứng n, sau đó
17
ông C ủy quyền cho ông H2; ông V xác định đã thanh toán tiền chuyển nhượng
cho ông B và trả nợ cho ông Q. Các tình tiết này cho thấy việc xác lập hai hợp đồng
nêu trên không phải giao dịch độc lập, bất ngờ hay trái với sự biết thỏa thuận
của ông B như nội dung kháng cáo.
Sau khi các giao dịch được xác lập, ông B không có tài liệu nào thể hiện đã yêu
cầu chấm dứt giao dịch, thu hồi giấy tờ hoặc đòi lại đất. Ngược lại, tài liệu về việc
thi hành Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 07/2023/HNGĐ-PT thể hiện ông
B, bà M ông C đã thỏa thuận tách 200m² đất giao cho M; M đã nhận đất,
đứng tên phần diện tích được chia không yêu cầu gì đối với phần đất còn lại.
Tại cơ quan thi hành án, ông B cũng thừa nhận đồng ý việc chuyển nhượng cho ông
C. Những tình tiết này cho thấy ông B biết và thừa nhận chuỗi giao dịch nêu trên.
Do đó, không đủ căn cứ xác định Hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/3/2023 và
Hợp đồng ủy quyền ngày 29/6/2023 là giao dịch giả tạo theo quy định tại Điều 124
Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4.3] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/8/2023 giữa
ông Trần Văn C (do ông Phạm Thanh H2 đại diện) và ông Võ Nghĩa Trọng T3:
Hợp đồng này được xác lập sau khi ông C đã được đăng ký biến động sang tên
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi lập Hợp đồng ủy quyền ngày
29/6/2023 cho ông H2. Ông T3 người nhận chuyển nhượng giai đoạn sau của
chuỗi giao dịch giao nhận tiền theo hợp đồng. Việc ông B không trực tiếp nhận
tiền từ ông T3 không phải căn cứ để xác định hợp đồng giữa ông C ông T3 là
giả tạo, vì ông T3 không phảibên trong quan hệ giữa ông B và ông V. Ông H2 đã
lập văn bản giao nđất cho ông T3; giữa ông T3 và ông H2 không có tranh chấp về
hợp đồng chuyển nhượng.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông B về việc tuyên vô hiệu Hợp
đồng chuyển nhượng ngày 16/8/2023.
[4.4] Đối với Hợp đồng thế chấp giữa ông Nghĩa Trọng T3 Ngân hàng
TMCP C2:
Hợp đồng thế chấp được xác lập sau khi ông T3 đã nhận chuyển nhượng
đăng ký biến động đối với thửa đất. Ngân hàng căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và hồ pháp lý của tài sản để xác lập giao dịch bảo đảm; hồ sơ thể hiện
Ngân hàng ông T3 đã hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp và đăng ký giao
dịch bảo đảm theo đúng quy định. Do không có n cứ tuyên vô hiệu các giao dịch
chuyển nhượng trước đó nên cũng không có cơ sở tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp
chỉ từ lời trình bày của ông B rằng Ngân hàng không thẩm định thực tế thửa đất hoặc
ông không đồng ý cho thế chấp. Quyền của Ngân hàng cần được xem xét trên cơ sở
tình trạng pháp của tài sản tại thời điểm nhận thế chấp các điều kiện xác định
người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Xét kháng cáo về việc tại thời điểm Hợp đồng ủy quyền ngày 12/01/2023,
thửa đất số 16 là tài sản chung của ông B và bà Nguyễn Thị M nên hợp đồng không
đủ điều kiện về chủ thể:
[5.1] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, tại thời điểm ký Hợp đồng ủy quyền
ngày 12/01/2023, ông B và bà M chưa giải quyết về tài sản; thửa đất số 16 là tài sản
18
chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Việc ông B một mình hợp đồng định
đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất chung mà không có sự đồng ý của M là chưa phù
hợp với quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, theo
Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 07/2023/HNGĐ-PT ngày 10/02/2023,
Tòa án nhân dân tỉnh Long An, nay Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đã xác định
thửa đất số 16 là tài sản chung vợ chồng và phân chia: giao M quyền sử dụng đất
tài sản trên đất tại khu B, diện tích 200m²; giao ông B quyền sử dụng đất tài
sản trên đất (nhà 1 diện tích 106,9m², nhà 2 diện tích 35,1m²) tại khu A, diện tích
401,5m².
[5.2] Đối chiếu diễn biến các giao dịch tiếp theo cho thấy: Hợp đồng chuyển
nhượng ngày 06/3/2023 toàn bộ các giao dịch chuyển nhượng, thế chấp sau đó
(ngày 29/6/2023, 16/8/2023, 28/9/2023) đều được xác lập sau ngày 10/02/2023, tức
sau khi quan hệ hôn nhân giữa ông B M đã chấm dứt tài sản chung đã
được phân chia theo Bản án hiệu lực. Diện tích đất đang tranh chấp trong vụ án
này (khu A, diện tích đo đạc thực tế 397m² theo Mảnh trích đo địa chính số 394-
2024) trùng khớp với phần diện tích khu A (401,5m²) đã được giao riêng cho ông B
theo Bản án ly hôn. Như vậy, tại thời điểm xác lập các giao dịch có tranh chấp, phần
đất khu A đã thuộc quyền sử dụng riêng, hợp pháp của ông B; ông B toàn quyền
định đoạt phần tài sản này mà không cần sự đồng ý của bà M.
[5.3] Mặt khác, theo Giấy cam kết ngày 27/6/2023 và ngày 29/6/2023 (có chữ
ký của ông B, bà M, ông V) và Biên bản thỏa thuận thi hành án ngày 16/5/2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, M đã biết trực tiếp tham gia
thỏa thuận tách 200m² đất (đúng bằng phần khu B được chia theo bản án ly hôn)
thông qua ông C; thực tế M đã nhận đất, đứng n phần diện tích y không
khiếu nại gì đối với phần đất khu A còn lại.
[5.4] Từ những căn cứ trên, không có cơ sở tuyên vô hiệu chuỗi hợp đồng nêu
trên do vi phạm quy định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
[6] Xét kháng cáo về việc ông Đặng Thanh V làm thủ tục xin cấp Giấy xác nhận
tình trạng hôn nhân không đúng thực tế cho ông B:
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm xét
xử ly hôn giữa ông B và bà M ngày 26/9/2022, các bên không kháng cáo phần quan
hệ hôn nhân nên phần này đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo khoản 2 Điều 282 B luật Tố tụng dân sự. Do đó, việc xác nhận
tình trạng hôn nhân của ông B tại thời điểm cấp Giấy xác nhận (ngày 01/12/2022) là
không sai. Hơn nữa, M đã trực tiếp tham gia quá trình phân chia đất, biết
không khiếu nại về các giao dịch liên quan đến phần đất khu A; phần đất mà ông T3
yêu cầu ông B trả lại nay đã là tài sản riêng hợp pháp của ông B theo bản án ly hôn
hiệu lực. vậy, tình tiết về Giấy xác nhận nh trạng hôn nhân nêu trên không
làm thay đổi bản chất hiệu lực của c giao dịch đang tranh chấp, không phải
căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông B.
[7] Xét kháng cáo về việc các giao dịch diễn ra nhanh, giá chuyển nhượng thấp
hơn giá trị Ngân hàng định gông B vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng đất trong suốt
quá trình chuyển nhượng:
19
Xét thấy, ông B thừa nhận đã nhận tổng số tiền 3.000.000.000 đồng, trong khi
ông Tín C1 nhận chuyển nhượng từ ông H2 với giá 1.700.000.000 đồng. Giữa ông
H2 và ông T3 không có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, và do ông H2 vắng
mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có cơ sxem xét lại vấn đnày.
[8] Xét yêu cầu độc lập của ông Nghĩa Trọng T3 cách thức tuyên buộc
trả tài sản:
Do các hợp đồng ủy quyền, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp đồng thế
chấp nêu trên hiệu lực pháp luật như đã phân tích, ông Nghĩa Trọng T3
người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với phần đất khu A, diện tích đo đạc thực
tế 397m², thuộc một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20 (nay tờ bản đồ s74).
Yêu cầu độc lập của ông T3 buộc ông Trần Văn B giao trả đất và tài sản gắn liền với
đất căn cứ, phù hợp với các Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên,
cách thức tuyên tại mục 2.2 phần Quyết định của Bản án thẩm buộc ông Trần
Văn B “tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản... ra khỏi căn nhà cấp 4, ký hiệu nhà (1), nhà
(2), nhà (3), nhà (4)…” chưa chính xác, cần được sửa đổi cho phù hợp với bản
chất pháp lý của vụ việc, quy định của pháp luật về tài sản bảo đảm công tác thi
hành án.
Hiện ông B đã chết nên cần buộc những người kế thừa quyền nghĩa vtố
tụng của ông B trách nhiệm giao nhà, đất cho ông T3. Các con của T1
T2 hiện đang sinh sống trên đất không liên quan đến quyền nghĩa vụ tài sản
trong vụ án và không trú thực tế tại thời điểm Tòa án thẩm định tại chỗ nên không
cần xem xét.
[9] Về phần đất khu A1 (diện tích đo đạc thực tế 15,7m²) đang do ông Đinh
Hùng S sử dụng:
Ông Đinh Hùng S không phải là người kháng cáo và không có yêu cầu độc lập
trong vụ án này; ông S cùng người đại diện theo ủy quyền của ông T3 đều xác định
sẽ tự thỏa thuận, nếu phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Do đó, Tòa
án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét nội dung này trong vụ án.
Đối với ông Hoàng N, người đang trực tiếp sử dụng đất do thuê, phía ông
T3 xác định không tranh chấp nên Tòa án không xem xét; nếu phát sinh tranh
chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[10] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo của ông Trần Văn B không được chấp nhận về nội dung, ông B
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, ông B người cao tuổi,
thuộc trường hợp được miễn án phí và đơn xin miễn nên được miễn án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; những người kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng của ông B cũng không phải chịu án phí phúc thẩm.
[11] Từ những phân tích trên:
Hội đồng xét xphúc thẩm nhận thấy kháng cáo của ông Trần Văn B về việc
yêu cầu tuyên hiệu các hợp đồng không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông
Nghĩa Trọng T3 không căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, cần sửa đổi một phần
cách thức tuyên tại mục 2.2 phần Quyết định của Bản án sơ thẩm liên quan đến việc
20
buộc trả nhà, đất cho phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích tại mục.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng không chấp nhận đnghị giải quyết vụ án
của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 37, 39, 147, 148, khoản 2 Điều 308, Điều 296, 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều
133, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 169, 188 Luật Đất đai năm 2013;
các Điều 12, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm s30/2026/DS-ST ngày 05/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh về cách thức tuyên buộc trả tài sản như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn B do
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông B gồm Nguyễn Văn P,
Nguyễn Minh L, Trần Thị Thu T, Trần Thị Thu H, Trần Thị Ngọc T1, Trần Minh
P1, Trần Thị Ngọc T2 đối với bị đơn ông Huỳnh Văn Q vviệc tranh chấp hợp đồng
ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nghĩa Trọng T3 đối với nguyên đơn ông Trần Văn B do các thừa kế của ông B
gồm Nguyễn Văn P, Nguyễn Minh L, Trần Thị Thu T, Trần Thị Thu H, Trần Thị
Ngọc T1, Trần Minh P1, Trần Thị Ngọc T2 kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng về
việc tranh chấp yêu cầu di dời tài sản để trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất.
2.1. Buộc ông Trần Văn B do các thừa kế của ông B gồm Nguyễn Văn P,
Nguyễn Minh L, Trần Thị Thu T, Trần Thị Thu H, Trần Thị Ngọc T1, Trần Minh
P1, Trần Thị Ngọc T2 kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng trách nhiệm giao cho
ông Nghĩa Trọng T3 được quản lý, sử dụng phần đất tại vị trí khu A, diện tích đo
đạc thực tế là 397m², thuộc một phần thửa đất số 16, tờ bản đồ số 20 (nay là tờ bản
đồ số 74), loại đất ONT, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An (nay M, tỉnh
Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 812009 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp cho ông Trần Văn B ngày 07/12/2018, được Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đăng ký biến động, chỉnh lý sang tên ông Võ
Nghĩa Trọng T3 ngày 22/8/2023 cùng căn nhà gắn liền với đất cho ông Nghĩa
Trọng T3.
(Vị trí, hiện trạng, diện tích đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo địa
chính số 394-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện B thực hiện
ngày 13/6/2024 duyệt ngày 20/9/2024, Mảnh trích đo địa chính số 271-2025 do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực B thực hiện ngày 26/9/2025 và duyệt
ngày 09/10/2025).
21
3. Về chi phí tố tụng: ông Trần Văn B phải chịu 31.508.500 đồng, ông B đã nộp
xong.
4. Về án phí: miễn toàn bộ án phí cho ông Trần Văn B và những người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông B gồm các ông bà Nguyễn Văn P, Nguyễn Minh
L, Trần Thị Thu T, Trần Thị Thu H, Trần Thị Ngọc T1, Trần Minh P1, Trần Thị
Ngọc T2
Hoàn trả cho ông Võ Nghĩa Trọng T3 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu số 0007372 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án n sự khu vực 4 Tây
Ninh).
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định
tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành
án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 4 Tây Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Kim Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1091/2026/DS-PT Bản án số 1091/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1091/2026/DS-PT Bản án số 1091/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất