Bản án số 235/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 235/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 235/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 235/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 235/2026/DS-PT Bản án số 235/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 235/2026/DS-PT Bản án số 235/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 235/2026/DS-PT
Ngày 28 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang và ông Nguyễn Xuân Trọng
- Thư phiên toà: Đào Thị Thanh Huyền - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số: 149/DS-PT ngày 16
tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản”. Do Bản án dân
sự thẩm số: 23/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân khu
vực 10 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
số: 184/2026/QĐ-PT ngày 06 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; địa chỉ: TDP Đ,
V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
2. Bị đơn yêu cầu phản tố: Chị Thị H1, sinh năm 1990; địa chỉ:
TDP X, xã V, tỉnh Phú Th (vắng mặt);
3. Người kháng cáo: Bị đơn chị Vũ Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025 đơn khởi kiện bổ sung ngày
09/7/2025, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Do nhu cầu thuê mặt
bằng để kinh doanh mặt hàng ăn uống nên anh và chị Vũ Thị H1 có ký hợp đồng
thuê đất kinh doanh ngày 25/01/2025; Trước đó tháng 10 năm 2024 anh H
chuyển cho chị H1 5.000.000đồng tiền cọc; Sau khi xong hợp đồng vào
tháng 01 tháng 3 năm 2025 anh chuyển vào tài khoản chị H1 tổng cộng
60.000.000đồng. Do làm ăn gặp khó khăn nên cuối tháng 6 năm 2025 anh
đến nói chuyện với chị H1 về việc anh muốn chấm dứt hợp đồng và chịu phạt vi
phạm hợp đồng 01 tháng tiền thuê nhà. Quá trình thuê nhà của chị H1 thì anh
thuê từ ngày 25/01/2025 đến 02/7/2025 hai bên thanh lý hợp đồng đã sử dụng 05
2
tháng 07 ngày, số thời gian còn lại anh đã nộp tiền nhưng chưa sdụng 06
tháng 23 ngày tương ứng với số tiền 33.830.000đồng. Tuy nhiên, chị H1 không
đồng ý không trả số tiền còn lại anh đã chuyển khoản cho chị H1 gồm cả số
tiền đã cọc trước đó. Do vậy anh làm đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc chị H1
trả lại số tiền nhà anh đã ứng trước chưa sử dụng là 33.830.000đồng số tiền
anh đã cọc gồm 5.000.000đồng tiền cọc ban đầu, tổng cộng là
38.830.000đồng.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần
nội dung đơn bổ sung nội dung khởi kiện đề ngày 09/7/2025: “Nếu trong thời
gian ktừ ngày thanh hợp đồng 1 tháng, bà H1 không hoàn trả lại số tiền còn
lại của anh, thì buộc H1 phải trả lãi cho anh là: 20%/1 năm của tổng số tiền
H1 cầm thừa của anh, tính đến ngày 02/8/2025 bắt đầu tính lãi”.
Quá trình gii quyết v án anh đồng ý pht vi phm hợp đồng do đơn
phương chấm dt hợp đồng trước thi hn 01 tháng tiền thuê nhà thuê như
tha thuận 5.000.000đồng anh đồng ý bồi thường cho ch H1
1.000.000đồng tin làm mt chu ra bát.
Theo đơn phản tố ngày 29/7/2025 và những lời trình bày tiếp theo, bị đơn
chị Thị H1 trình bày: Chị H1 nhất tvề phần trình bày của anh H về Hợp
đồng thuê đất kinh doanh số tiền anh H đã chuyển cho chị H1 đúng. Chị
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H với lý do sau:
Do hợp đồng thuê đất 03 năm; anh H mới thanh toán trước cho chị 01
năm tiền nhà. Khi thanh hợp đồng chị đã đưa ra phương án cho anh H lựa
chọn: Thứ nhất anh H quyền tự cho người khác thuê lại mặt bằng; thứ 2 để
chị cho thuê lại mặt bằng sau đó hai bên thngồi lại nói chuyện với nhau.
Tuy nhiên anh H không nghe và làm đơn khởi kiện chị ra tòa án yêu cầu chị phải
trả tổng số tiền 38.830.000đồng. Quan điểm của chị là không đồng ý thanh toán
tiền cho anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Kể từ
01/8/2025 đến nay chị đã cho chNguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1993, đại chỉ
xóm L, xã T, tỉnh Phú Th thuê lại cửa hàng với giá 5.000.000đ/tháng.
Ngoài ra chị H1 yêu cầu phản tố với các nội dung sau: Đối với số tiền
5.000.000đồng anh H chuyển khoản trước cho chị không liên quan đến
hợp đồng mà là đó là khoản tiền anh H chuyển cho chị để chị giữ chỗ không cho
người khác thuê. Đối với số tiền anh H yêu cầu chị phải trả là 38.830.000đồng là
tiền chị được hưởng do anh H đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn 02
năm 06 tháng. Do vậy chkhông phải trả lại cho anh H số tiền này. Buộc anh H
phải thanh toán cho ch5.000.000đồng (năm triệu đồng) do đơn phương chấm
dứt hợp đồng trước hạn. Buộc anh H phải thanh toán cho chị 1.000.000đồng
(Một triệu đồng) tiền mất chậu rửa bát.
Với nội dung trên, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ đã căn cứ các
Điều 26, 35, 39, 147, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 328, 422, 472 Bộ
luật Dân sự. Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
3
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị
Thị H1 phải thanh toán cho anh Nguyễn Văn H stiền thuê mặt bằng anh H đã
trả nhưng chưa sử dụng là 33.833.000đồng5.000.000đồng tiền đặt cọc anh H
đã chuyển cho chị H1. Tổng cộng là 38.833.000đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn: Ghi nhận sthỏa thuận
của các đương sự về việc buộc anh Nguyễn Văn H phải trả cho chị H1
5.000.000đồng tiền phạt vi phạm hợp đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng
và 1.000.000đồng tiền bồi thường do mất chậu rửa bát.
Sau khi đối trừ các nghĩa vụ buộc chị Thị H1 phải thanh toán cho anh
Nguyễn Văn H tổng số tiền là 32.833.000đồng.
2. Đình chỉ đối với yêu cầu của anh H yêu cầu chị H1 phải trả lãi cho
nguyên đơn 20%/1năm của số tiền 33.650.000đồng anh H chưa thuê còn lại
(thực tế là 33.833.000đ) kể từ ngày 02/8/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự, quyền yêu cầu thi hành án và
kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 30/4/2026, bị đơn chị Thị H1 đơn kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 15/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả số tiền 38.833.000đồng. Đồng
thời, yêu cầu Toà án chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc được giữ lại số tiền
thuê tương ứng với thiệt hại thực tế phát sinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 15/4/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 10 - Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm
sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về th tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị H1 làm trong hạn luật
định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.
4
Nguyên đơn, anh Nguyễn Văn H, bị đơn chị Thị H1 đơn đề nghị
xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xtiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo
quy định.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn H đơn khởi kiện buộc chị
Thị H1 phải trả lại tiền thuê mặt bằng đã thanh toán trước nhưng chưa sử
dụng và tiền đặt cọc phát sinh từ hợp đồng thuê đất kinh doanh ký ngày
25/01/2025 giữa các bên, đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản.
vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng thuê tài sản theo quy định tại
khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 25/01/2025 anh Nguyễn Văn H chị
Thị H1 đã ký Hợp đồng thuê đất kinh doanh, thời hạn thuê là 03 năm. Quá trình
thực hiện hợp đồng, anh H đã sử dụng mặt bằng thuê từ ngày 25/01/2025 đến
ngày 02/7/2025 hai bên tiến hành thanh hợp đồng. Nay anh H khởi kiện đề
nghị chị H1 trả lại số tiền mà anh đã thanh toán nhưng chưa sử dụng là 06 tháng
23 ngày, tương ứng với số tiền 33.833.000 đồng số tiền đã đặt trước
5.000.000 đồng. Chị H1 cho rằng quá trình thực hiện hợp đồng anh H tự ý chấm
dứt hợp đồng nên chị không đồng ý trả nguyên đơn số tiền trên, ngoài ra chị H1
đề nghị anh H phải bị phạt cọc phải bồi thường 1.000.000 đồng do làm mất
chậu rửa bát. Sau khi xét x thẩm, b đơn kháng cáo, Hội đồng xét xthấy
rằng:
[3.1]. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đề nghị bị đơn phải trả lại số tiền
thuê nhà anh H đã ứng trước chưa s dụng nhà thuê 33.830.000 đng s
tiền 5.000.000 đồng anh H đã cọc ban đầu, tng cộng 38.830.000đ; ngoài ra,
anh H còn đề ngh tính tin lãi 20%/1năm của tổng số tiền chị H1 cầm thừa
tính từ ngày 02/8/2025. Quá trình giải quyết vụ án, anh H rút yêu cầu tính lãi đối
với số tiền mà chH1 chậm trả tngày 02/8/2025, cấp sơ thẩm đình chỉ đối với
yêu cầu trên không đúng nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả lại số
tiền ứng trước chưa sử dụng nhà thuê và yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả nên
yêu cầu trả lại số tiền ứng trước chưa sử dụng nhà thuê yêu cầu chính, còn
việc yêu cầu tính lãi chậm trả những yêu cầu phát sinh từ yêu cầu chính, yêu
cầu tính lãi chậm trả không phải một yêu cầu riêng biệt để đương sự được
quyền khởi kiện độc lập chỉ một đề nghị của đương sự trong quá trình giải
quyết vụ án.
Đối với số tiền phạt vi phạm hợp đồng 5.000.000 đồng mà bị đơn yêu cầu
nguyên đơn phải trả, cấp thẩm xác định đây là yêu cầu phản tố của bị đơn
không đúng vì: Nguyên đơn đang khởi kiện bị đơn về hợp đồng thuê tài sản
trong Hợp đồng thuê tài sản điều khoản quy định về phạt vi phạm hợp đồng
nên khi giải quyết về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản sẽ phải xem xét giải quyết
đối với điều khoản phạt vi phạm hợp đồng khi đương sự có yêu cầu nên yêu cầu
trên của bị đơn chỉ là ý kiến không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn.
Các sai sót trên không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự nên
không cần thiết phải hủy án sơ thẩm, cấp phúc thẩm sẽ điều chỉnh lại cách tuyên
5
cho phù hợp, đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3.2]. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thống nhất ngày 25/01/2025
anh Nguyễn Văn H chị Thị H1 đã Hợp đồng thuê đất kinh doanh, thời
hạn thuê là 03 năm. Trước khi ký hợp đồng, anh H đã chuyển cho chị H1 số tiền
5.000.000 đồng số tiền cọc để giữ chỗ; sau khi hợp đồng anh H tiếp tục
chuyển tổng số tiền 60.000.000 đồng để thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H đã sử dụng mặt bằng thuê từ ngày
25/01/2025, đến ngày 02/7/2025 hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng.
Tại phiên tòa thẩm cũng như phúc thẩm, anh H tự nguyện chấp nhận
chịu khoản phạt vi phạm hợp đồng bằng 01 tháng tiền thuê là 5.000.000 đồng và
bồi thường 1.000.000 đồng do làm mất chậu rửa bát; chị H1 cũng thống nhất với
nội dung này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương
sự đối với các khoản nghĩa vụ này phợp quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Chị H1 cho rằng chị quyền giữ lại số tiền 33.833.000 đồng tương ứng
với số tiền thuê anh H đã thanh toán do anh H đơn phương chấm dứt hợp
đồng trước thời hạn. Theo Hợp đồng thuê đất kinh doanh, hai bên không thoả
thuận về việc khi bên thuê đơn phương chấm dứt hợp đồng thì toàn bộ số tiền
thuê đã thanh toán trước nhưng chưa đến thời hạn sử dụng sẽ thuộc quyền sở
hữu của bên cho thuê. Mặt khác, chị H1 cũng không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh mình đã bị thiệt hại thực tế với giá trị tương ứng số tiền
33.833.000 đồng anh H yêu cầu hoàn trả. Tại cấp sơ thẩm chị H1 cho rằng
số tiền còn lại khoản chị được hưởng do anh H vi phạm hợp đồng đồng
thời cho rằng đây khoản bù đắp thiệt hại thực tế do hợp đồng bị chấm dứt
trước thời hạn. Thực tế cũng thể hiện, từ ngày 01/8/2025 chị H1 đã tiếp tục cho
chị Nguyễn Thị Thanh T thuê lại chính mặt bằng nêu trên với giá thuê 5.000.000
đồng/tháng, bằng đúng giá thuê đã thỏa thuận với anh H. Điều này cho thấy,
không căn cứ đxác định chị H1 bị thiệt hại tương ứng toàn bsố tiền thuê
còn lại anh H đã thanh toán trước. Tại cấp phúc thẩm, chị H1 không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho thiệt hại thực tế của chị
như chị đã trình bày. vậy, nội dung kháng cáo này của chị H1 không được
chấp nhận.
[3.3]. Đối với nội dung kháng cáo, chị H1 cho rằng khoản tiền 5.000.000
đồng anh H chuyển cho chị Hiền từ tháng 10/2024 là tiền giữ chỗ, không liên
quan đến hợp đồng thuê không đồng ý hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng trên
cho anh H.
Trước khi các bên kết Hợp đồng thuê đất kinh doanh ngày
25/01/2025, anh H đã chuyển cho chị H1 5.000.000 đồng mục đích để đảm
bảo việc giao kết hợp đồng thuê nhà. Chị H1 cũng thừa nhận số tiền trên đã để
giữ chỗ. Như vậy, cần xác định số tiền trên khoản tiền đặt cọc để bảo đảm
việc giao kết hợp đồng. Theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại
6
cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền…”. Thực tế, anh H
đã trả tiền thuê nhà cả một năm cho chị H1 nên theo quy định nêu trên, cấp
thẩm buộc chị H1 phải trả lại số tiền 5.000.000 đồng trên cho anh H là căn
cứ.
[3.4]. Như vậy, cấp thẩm buộc chị H1 hoàn trả cho anh H số tiền thuê
đã thanh toán trước nhưng chưa sử dụng 33.833.000 đồng 5.000.000 đồng
tiền đặt cọc anh H đã chuyển cho chị H1; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của
anh H về việc chịu phạt vi phạm hợp đồng 5.000.000 đồng bồi thường thiệt
hại 1.000.000 đồng. Sau khi đối trừ nghĩa vụ, buộc chị H1 phải thanh toán cho
anh H số tiền 32.833.000 đồng là có căn cứ.
[4]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 10 - Phú Thọ. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại
phiên tòa có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án pdân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn nên bị đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Vũ Thị H1
Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 23/2026/DS-ST ngày 15/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều
328, 422, 472 B luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị
Thị H1 phải thanh toán cho anh Nguyễn Văn H số tiền thuê mặt bằng anh H đã
trả nhưng chưa sử dụng là 28.833.000đ 5.000.000đ tiền đặt cọc anh H đã
chuyển cho chH1. Tổng cộng là 33.833.000đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn: Buộc anh Nguyễn
Văn H phải trả cho chị H1 1.000.000đồng tiền bồi thường do mất chậu rửa bát.
3. Sau khi đối trừ các nghĩa vụ buộc chị Thị H1 phải thanh toán cho
anh Nguyễn Văn H tổng số tiền là 32.833.000đồng.
4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh H có đơn yêu cầu thi hành
án nếu chị H1 không thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải trả tin
lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
7
5.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị H1 phải chịu phải chịu 1.941.500
đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm đồng), được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 1.110.000đ chị H1 đã nộp tại Thi hành án dân sự Phú Thọ
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002534 s0002553 ngày 29/9/2025
của Thi hành án dân sự Phú Thọ, chị H1 còn phải nộp 831.500đồng.
Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 770.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí
số 0000145 ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự Phú Thọ. Hoàn
trả cho anh Nguyễn Văn H 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án pđã nộp 300.000
đồng theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0004774 ngày 22/5/2026; chị H1
đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 10 - Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (Phòng
THADS khu vực 10 - Phú Thọ);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 235/2026/DS-PT Bản án số 235/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 235/2026/DS-PT Bản án số 235/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất