Bản án số 1078/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1078/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1078/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1078/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn giao trả đất và yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1078/2026/DS-PT Bản án số 1078/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1078/2026/DS-PT Bản án số 1078/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1078/2026/DS-PT
Ngày: 20 tháng 8 m 2026
V/v tranh chấp HĐCN quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Bà Đào Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân Thư ký viên Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trần Thanh
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 865/2026/TLPT-DS
ngày 04 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2026/DS-ST, ngày 27 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 1127/2026/QĐ-PT ngày 25
tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1951 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm O, sinh năm 1993; địa
chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn N, sinh năm 1963 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn B, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
2.Nguyễn M, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
3. Bà Phạm H (Vắng mặt)
2
4. Ông Phạm O (Vắng mặt)
5. Ông Phạm H (Vắng mặt)
6. Ông Cao S (Vắng mặt)
7. Ông Cao S1 (Vắng mặt)
8. Ông Cao Ng (Vắng mặt)
9. Ông Cao D (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần T.
10.Cao N (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Mỹ Bình, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình
bày:
Năm 2021, ông Phạm T chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn N, diện tích 03
công tầm cấy (diện tích tương đương 3.888m²), thửa số 94, nhưng đất này hiện do h
ông Nguyễn B đứng tên, trước đây ông B với ông Cao Tr (đã chết) đổi đất với nhau,
do đó ông Bđổi cho ông Phạm T thửa đất số 94 ông Phạm T lấy thửa đất 94 đổi lại
với ông T, việc đổi đất không lập giấy tờ, nhưng các bên không tranh chấp về việc đổi
đất hiện nay chưa ai làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Khi nhận chuyển
nhượng đất của ông T thì ông Nguyễn N biết đất ông nhận chuyển nhượng là do
ông B n đứng tên, cho nên ông Nguyễn N chỉ giao tiền chuyển nhượng cho ông T
125.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng thì sẽ giao đủ khi ông T làm thủ tục
chuyển tên từ ông B sang cho ông T ông T sẽ chuyển tên cho ông Nguyễn N, việc
chuyển nhượng lập giấy tay do ông Nguyễn N giữ, nhưng trong quá trình thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng thì ông Nguyễn N đã thuê máy múc lấn chiếm thêm diện
tích đất của ông T và ông Nguyễn N nói ông T chuyển nhượng bao nhiêu thì ông sử
dụng đất bấy nhiêu, nay giữa ông Tông Nguyễn N đã không thống nhất với nhau
về diện tích đất chuyển nhượng, cho nên ông T không tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng với ông Nguyễn N. Tuy nhiên, do nhầm lẫn n ông T xác định lại
hợp đồng chuyển nhượng được xác lập vào ngày 17/9/2019, khi chuyển nhượng
giấy tờ viết tay; phần đất chuyển nhượng theo đo đạc thực tế của Toà án có diện tích
là 2.523,3m² (Trong đó có đất bờ kênh 41,2m
2
, đất đường đal 51,9m
2
) thuộc thửa số
94, do hộ ông Bđứng tên phần đất diện tích 3373.8m
2
(trong đó đất bờ kênh
128,1m
2
, đất đường đal 232,6m
2
) thuộc một phần thửa 92 cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 11/3/2004 do hộ ông Cao Văn Trung (đã chết) chồng của Phạm
H đứng tên. Ghai bên thoả thuận 214.500.000 đồng, ông Nguyễn N, M đã tr
3
cho ông số tiền 180.000.000 đồng n lại 34.500.000 đồng chưa thanh toán. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng do phần đất chuyển nhượng đổi với Phạm H, ông B;
hai bên chưa làm thủ tục sang tên và chưa thống nhất hợp đồng chuyển đổi quyền sử
dụng đất hợp đồng chuyển nhượng không đảm bảo về mặt hình thức nên ông T u
cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 17/9/2019 đối với phần đất theo đo đạc
thực tế của Toà án có diện tích2.471,4m² (Trong đó có đất bờ kênh 41,2m
2
) thuộc
thửa số 94, do hộ ông B đứng tên phần đất có diện tích 3.141,2m
2
thuộc một phần
thửa 92 do hông Phạm T là chồng của Phạm H đứng tên hiệu. Ông T đồng
ý trả cho ông Nguyễn N, Mai số tiền 180.000.000 đồng giải quyết hậu quả theo
quy định pháp luật. Đối với đất đường đal 51,9m
2
(Thuộc thửa 94), đất đường đal
232,6m
2
(Thuộc thửa 92) hiện nay do Nhà nước quản lý, ông T không yêu cầu giải
quyết phần đất này. Ông T thống nhất với kết quả thẩm định, định giá tài sản của a
án.
Bị đơn ông Nguyễn N, ng Nguyễn M cùng thống nhất tnh bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp của ông Be, ông Phạm T (chồng Phạm H)
hiện nay đã chết. Do nhu cầu canh tác ông, thoả thuận với ông T, ông O, ông
H1 để chuyển nhượng lại phần đất 3,5 công tầm cấy; theo đo đạc thực tế phần đất có
diện tích như nguyên đơn trình bày giá hai bên thothuận 214.500.000 đồng,
ông Nguyễn N, Mai đã trả cho ông T số tiền 180.000.000 đồng còn lại
34.500.000 đồng chưa thanh toán chờ ông T làm thủ tục sang n. Khi chuyển
nhượng hai bên làm “Giấy chuyển Nhượng đất ruộng” xác lập vào ngày 17/9/2019,
khi chuyển nhượng có giấy tờ viết tay, không công chứng, chứng thực có chữ của
ông T, ông Hùng, ông Oai. Trước khi chuyển nhượng ông, cũng biết phần đất trên
không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T, ông ng, ông Oai do đổi của
ông Be, bà Phạm H (vợ ông Phạm T đã chết), ca làm thủ tục sang tên nhưng do tin
tưởng ông, bà đã thống nhất chuyển nhượng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do
phần đất chuyển nhượng đổi với bà Phạm H, ông Be; hai bên chưa làm thủ tục sang
tên nên xảy ra tranh chấp. Ông, bà không thống nhất với u cầu khởi kiện của ông
T. Đồng thời, yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng được xác lập vào
ngày 17/9/2019 đối với phần đất theo đo đạc thực tế của Toà án diện tích 2.471,4m²
(Trong đó đất bờ kênh 41,2m
2
) thuộc thửa số 94, do hộ ông Bđng tên phần đất
có diện tích 3.141,2m
2
thuộc một phần thửa 92 do hộ ông Phạm T ã chết) là chồng
của bà Phạm H đứng tên. Đối với đất đường đal 51,9m
2
(Thuộc thửa 94), đất đường
đal 232,6m
2
(Thuộc thửa 92) hiện nay do Nhà nước quản lý, ông T không u cầu giải
quyết phần đất này. Ông, bà đồng ý trả cho ông Nguyễn N, ông Hùng, ông O số tiền
4
34.500.000 đồng. Ông, bà thống nhất với kết quthẩm định, định giá i sản của Tòa
án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn B trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp mà ông T chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn
N, trong đó có khoảng 02 công tầm cấy thuộc một phần thửa 94, tờ bản đồ 9 do ông
đứng n trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông và đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0831356 ngày 11/3/1996. Ông canh tác được một
thời gian thì đổi lại cho bà Phạm H phần đất này. Sau đó bà Phạm H đổi lại cho ông
T và ông T sau đó chuyển nhượng lại cho ông N. Việc đổi đất không có giấy tờ, ông
chỉ nhớ đổi đất khoảng năm 1999-2000, diện tích đổi bao nhiêu thì ông không nhớ do
không có đo đạc diện tích cụ thể là bao nhu. Sau khi đổi đất đến nay ông không
tranh chấp với ai. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Be, đất
này là đất gốc của ông bà của ông để lại cho ông chứ không phải của các thành viên
trong gia đình n ông được quyền quyết định đối với phần đất này. Nên hợp đồng
đổi đất giữa ông và Phạm H ông toàn quyền quyết định và gia đình ông không có
tranh chấp. Trong trường hợp phần đất tranh chấp này khi có quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật ông đồng ý tách thửa và không có tranh chấp gì. Sau khi quyết
định của Tòa án hiệu lực quyết định đất của ai thì ông tách thửa cho người đó. Ông
thống nhất với kết quthẩm định, định giá tài sản của Tòa án.
Ông Phạm H1 trình bày: Ông thống nhất với u cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Phạm H trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế của
Toà án có diện tích 2.523,3m² thuộc thửa số 94, tbản đồ số 09, do hộ ông Bđứng
tên khoảng n hai ơi năm (1999 - 2000) ông Bđổi đất cho bà Phạm H phần đất
này để tiện canh tác. Bà Phạm H canh tác được một thời gian sau thì đổi lại cho ông
T khi đổi đất không làm giấy tờ, không đo đạc diện tích. Ngoài ra, đổi cho
ông T phần đất có diện tích 3.373,8m
2
(trong đó đất bờ kênh 128,1m
2
, đất đường đal
232,6m
2
) thuộc một phần thửa 92 tờ bản đồ 9 do hộ ông Phạm T chồng của Phạm
H đứng tên. Hiện nay hợp đồng đổi đất chưa hoàn thành, chưa làm thủ tục sang tên,
nên khi nào ông T hoàn thành thủ tục sang tên bà mới thống nhất ký thủ tục sang tên
sang cho ông Nguyễn N. Trong vụ án này không u cầu độc lập. thống nhất
với kết quả thẩm định, định gtài sản của a án.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 07/2026/DS-ST, ngày 27/01/2026 của a án
nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, tuyên xử:
1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy chuyển
Nhượng đất ruộng” diện tích 3,5 công tầm cấy xác lập ngày 17/09/2019 giữa ông
5
Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm Hvà ông Nguyễn Nvô hiệu.
2. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho ông Nguyễn B phần đất
thuộc một phần thửa 94, tờ bản đồ 9 đã được Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/1996 do hộ ông Nguyễn B đứng tên có tổng diện
tích 2.430,2m
2
.
3. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho ông Nguyễn B phần đất
thuộc một phần thửa 94, tờ bản đồ 9 đã được Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/1996 do hộ ông Nguyễn B đứng tên có tổng diện
tích 41,2m
2
(đất bờ nh).
4. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho Phạm H, ông Cao S, ông
Cao Văn Sự, ông Cao Ng; ông Cao D; Cao Nmột phần thửa 92, tờ bản đồ 9 đã
được U ban nhân n huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
11/3/2004 do hộ ông Cao Văn Trung đứng tên tổng diệnch 3.013,1m
2
.
5. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho Phạm H, ông Cao S, ông
Cao Văn Sự, ông Cao Ng; ông Cao D; Cao N một phần thửa 92, tờ bản đồ 9 đã
được Ủy ban nhân dân huyện Mỹ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
11/3/2004 do hộ ông Cao n Trung đứng n tổng diện tích 128,1m
2
(đất bờ kênh).
6. Ông Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm H trả cho ông Nguyễn N,Nguyễn
M tổng số tiền chuyển nhượng là 180.000.000 đồng và bồi thường cho ông Nguyễn
N, Nguyễn M số tiền 98.814.447 đồng.
7. Ông Nguyễn B được sở hữu 01 cây bạch đằng đường kính trên 160cm, 01
cây bạch đằng đường kính 60cm, 09 cây bạch đằng đường kính 30cm, chuối loại
B 10 cây phần cây trồng tn phần đất thuộc một phần thửa 94, tbản đồ 9.
8. Ông Nguyễn B trách nhiệm trả cho ông Nguyễn N, Mai giá trị cây
trồng u trên 3.830.000 đồng.
9. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, ông H, ông H1 ông xác lập
ngày 17/9/2019 đồng ý trả 34.500.000 đồng tiền chưa thanh toán, sau khi ông T
làm xong thủ tục sang tên cho ông.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về tiền lãi chậm trả, chi phí tố tụng, án phí,
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/02/2026, bị đơn khángo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
6
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa nhận
định: Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Cấp thẩm tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa các
bên buộc nguyên đơn trả lại tiền đã nhận, đồng thời bồi thường thiệt hại ½ tiền
chênh lệch giá căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Giữ nguyên bản án thẩm, không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên a
và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
[2.1] Nguyên đơn bị đơn xác lập “Giấy chuyển Nhượng đất ruộng” ngày
17/09/2019 nhưng không ng chng, chứng thực. Tuy nhiên bị đơn đã trả hơn 2/3 giá
trị hợp đồng nên căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì không bị vô hiệu về
hình thức.
[2.2] Về nội dung: Ông Phạm N, bà M nhận chuyển nhượng của ông T, ông
O, ông H phần đất khoảng 3,5 công tầm cấy theo đo đạc thực tế phần xác định diện
tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa 94, diện tích 2.523m
2
và một phần thửa 92,
diện tích 3.373,8m
2
, giá 55.000.000 đồng/01 công, tổng số tiền chuyển nhượng
214.500.000 đồng. Bị đơn đã giao cho ông T, ông H, ông O số tiền 180.000.000
đồng, còn lại 34.500.000 đồng chưa thanh toán với lý do khi nào ông T làm thủ tục
sang tên thì bị đơn sẽ thanh toánn bị đơn đã nhận đất sử dụng.
Xét thấy, phần đất chuyển nhượng không thuộc quyền sdụng hợp pháp của
nguyên đơn mà do người khác đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất do việc chuyển đổi quyền sử dụng đất chưa thực hiện nhưng vẫn thỏa thuận
chuyển nhượng cho bị đơn, nên đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện vi phạm
điều cấm của pháp luật. Do đó, cấp thẩm tuyên bố “Giấy chuyển Nhượng đất
ruộngngày 17/09/2019 vô hiệu là có căn cứ.
[2.3] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Xét về lỗi: Về nguồn gốc phần đất tranh chấp tại 02 thửa nguyên đơn thỏa
thuận việc đổi đất với ông B, bà Phạm H nhưng các bên chưa làm các thủ tục chuyển
đổi quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Nguyên đơn biết rõ tình trạng pháp
của phần đất tranh chấp chưa người sử dụng hợp pháp nhưng nguyên đơn lại
7
thỏa thuận chuyển nhượng cho bị đơn, dẫn đến đối tượng của hợp đồng không thể
thực hiện được do vi phạm điều cấm của pháp luật, để rồi chính nguyên đơn người
khởi kiện bị đơn để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, trong khi bị đơn đang canh
tác đất chuyển nhượng. Do đó, lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc hoàn toàn về lỗi
của nguyên đơn. Nguyên đơn phải trả lại tiền đã nhận phải bồi thường toàn bộ
tiền chênh lệch giá của giá đất tại thời điểm chuyển nhượng giá trị thực tế theo
thị trường hiện nay của phần đất chuyển nhượng.
Theo chứng thư thẩm định giá ngày 02/10/2024 thì diện tích 5.612,6m
2
x
80.000 đồng/m
2
= 449.008.000 đồng 214.500.000 đồng = 235.508.000 đồng
giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch. Ông Nguyễn N, M đã thanh toán cho ông
T, ông H, ông O tại thời điểm chuyển nhượng 180.000.000 đồng, tương ứng với
83,916% giá trị tại thời điểm chuyển nhượng. Như vậy thiệt hại giá trị quyền sử dụng
đất tại thời điểm xét xử là = 235.508.000 đồng x 83,916% = 197.628.893 đồng. Do
đó buộc ông T, ông H, ông O có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn N, M với
số tiền 197.628.893 đồng.
[3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy có căn cứ để chấp nhận
một phần kháng cáo của bị đơn nên sửa bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- Sửa một phần bản án dân sự thẩm s07/2026/DS-ST, ngày 27/01/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ.
[1]. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy chuyển
Nhượng đất ruộng” diện tích 3,5 công tầm cấy xác lập ngày 17/09/2019 giữa ông
Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm H ông Nguyễn N hiệu.
[2]. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho ông Nguyễn B phần đất
thuộc một phần thửa 94, tờ bản đồ 9 đã được Uỷ ban nhân dân huyện M cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/1996 do hộ ông Nguyễn B đứng tên tổng
diện tích 2.430,2m
2
diện ch 41,2m
2
(đất bờ kênh).
[3]. Buộc ông Nguyễn N, Nguyễn M phải trả cho Phạm H, ông Cao S, ông
Cao S1, ông Cao Ng; ông Cao D; bà Cao N một phần thửa 92, tờ bản đồ 9 đã được
8
Uỷ ban nhân n huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/2004
do hộ ông Cao Tr đứng tên có tổng diện tích 3.013,1m
2
diện tích 128,1m
2
(đất bờ
kênh).
(Kèm theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất năm 2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai khu vực XXV).
[4]. Buộc ông Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm H trả cho ông Nguyễn N
Nguyễn M là 180.000.000 đồng tiền chuyển nhượng và bồi thường cho ông Nguyễn
N, Nguyễn M số tiền 197.628.893 đồng. Tổng cộng là 377.628.893 đồng.
[5]. Ông Nguyễn B được sở hữu 01 cây bạch đằng đường kính trên 160cm, 01
cây bạch đằng đường kính 60cm, 09 cây bạch đằng đường kính 30cm, chuối loại
B 10 cây phần cây trồng tn phần đất thuộc một phần thửa 94, tbản đồ 9.
[6]. Buộc ông Nguyễn B trả cho ông Nguyễn N Nguyễn M giá trị cây trồng
nêu trên 3.830.000 đồng.
[7]. Không chấp nhận u cầu phản tố của bị đơn về việc u cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, ông H1, ông H và ông Nguyễn
N, M c lập ngày 17/9/2019.
[8]. Về chi phí tố tụng:
- Ông Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm H phải chịu 13.000.000 đồng. Đã nộp
xong.
- Ông Nguyễn N, Nguyễn M phải chịu 13.000.000 đồng để hoàn trả lại cho
ông Phạm T do đã tạmng trước đó.
[9]. Về án phín ssơ thẩm:
- Ông Nguyễn N, Nguyễn M phải chịu 300.000 đồng.
- Ông Phạm T, ông Phạm O, ông Phạm H phải chịu 9.881.000 đồng.
- Ông Nguyễn B phải chịu 300.000 đồng.
[10]. Án pdân sự phúc thẩm: Đương sự không phải chịu.
- Ông Nguyễn N được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã
nộp theo biên lai số 0003045 ngày 11/02/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần
Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật thi hành án dân sự.
[11] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- THADS TP. Cần Thơ;
- TAND KV 6 - Cần Thơ;
- Phòng THADS KV 6 - Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Phước Đại
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1078/2026/DS-PT Bản án số 1078/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1078/2026/DS-PT Bản án số 1078/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất