Bản án số 236/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 236/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 236/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 236/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 236/2026/DS-PT Bản án số 236/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 236/2026/DS-PT Bản án số 236/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 236/2026/DS-PT
Ngày 28 - 8- 2026
V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Vĩnh Thành
- Thư phiên toà: Đào Thị Thanh Huyền - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Xuân Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 2) xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số: 120/2026/TLPT-DS ngày 18
tháng 5 năm 2026 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản. Do bản án dân sự
thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 Quyết định sửa chữa bổ
sung bản án sơ thẩm số 11/2026/QĐ-SCBSBA ngày 10/4/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 11 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
177/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1955; số căn cước công
dân: ************; địa chỉ: Thôn B, xã S, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thanh T: Ông Phan Thành T1,
sinh năm 1959; số căn cước công dân: ************; địa chỉ: Số A ngõ C,
đường H, tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Phú Thọông Phạm Văn T2, sinh năm
1962; số căn cước công dân: ************; địa chỉ: Số nhà B, ngõ E đường T,
tổ dân phố G, phường V, tỉnh Phú Thọ - người đại diện theo ủy quyền (Theo
giấy ủy quyền ngày 22/4/2024) (đều có mặt);
2. Bị đơn: Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị D:
- Ông Văn D1 Trợ giúp viên pháp thuộc Trung tâm trợ giúp pháp
lý Nhà nước tỉnh P; địa chỉ: Số D đường N, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
- Ông Hồ Văn P và ông Phạm Quang L Luật Công ty L1 thuộc Đoàn
luật tỉnh P; địa chỉ: Số A, ngõ A phố M, phường T, tỉnh Phú Thọ (đều
2
mặt);
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: Số nhà G đường H, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3.2. Nguyễn Thị D2, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn H, S, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt);
3.3. Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1977; số căn cước công dân:
***********; địa chỉ: thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3.4. Chị Thị Thu H2, sinh năm 1983; s căn cước công dân:
************; địa chỉ: thôn K (nay là thôn K), xã S, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3.5. Chị Thị M H3, sinh năm 1985; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: thôn Y (nay là thôn B), xã S, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3.6. Chủ tịch UBND xã S, tỉnh Phú Thọ - ông Vũ Văn T3;
Người đại diện hợp pháp của ông Văn T3: Ông Nguyễn Tiến T4 -
Trưởng phòng Kinh tế UBND S, tỉnh Phú Thọ - người đại diện theo ủy
quyền (Theo vản bản uỷ quyền số 144/QĐ-UBND ngày 13/8/2025) (vắng mặt);
3.7. Anh Nguyễn Mạnh Chí T5, sinh năm 1988; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: P, HH1a, L, H, H, Hà Nội (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Nguyễn Thanh T là nguyên đơn; Nguyễn Thị
D bđơn; Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị D2 người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2024 đơn khởi kiện bổ sung, nguyên
đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Cụ Nguyễn Văn S
(sinh năm 1920 - mất năm 2011) cụ Trần Thị T6 (sinh năm 1922 - mất năm
2007) vợ chồng, trước khi chết cụ S và cụ T6 đều không di chúc. Trong
quá trình chung sống hai cụ sinh được 04 người con chung là: Nguyễn Thị D,
Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thanh T Nguyễn Thị H. Hai cụ không con nuôi,
con riêng, không bố mẹ nuôi. Bố mẹ đẻ của cụ S cụ Nguyễn Văn S1
Nguyễn Thị Â (không năm chết, chết trước cụ S). Bố mẹ đẻ của cụ T6 cụ
Trần Văn T7 Trần Thị P1 (không năm chết, chết trước cụ T6). Trong quá
trình chung sống, cụ S và cụ T6 có tạo lập được 3 thửa đất, cụ thể:
- Thửa đất thứ nhất: Thửa đất số 1146, tbản đồ số 15, diện tích 1056m
2
(trong đó 200m
2
đất 856m
2
đất vườn), địa chỉ thửa đất tại thôn H, S,
tỉnh Phú Thọ. Diện tích đất đất trồng cây lâu năm thực tế s dụng
1257,1m
2
(Theo Bản đVN2000 chưa được chỉnh lý). Đất sử dụng ổn định, lâu
dài, không tranh chấp với hộ liền kề. Trên đất 01 ngôi nhà, bếp, lán tôn,
sân gạch, lối đi đổ tông, tường rào xây gạch xi, bể nước, giếng đào, nhà vệ
sinh và 1 số cây cối lâm lộc do bà D xây dựng và quản lý, sử dụng.
- Thửa đất thứ hai: Thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 200m
2
, loại
3
đất vườn, địa chỉ thửa đất tại thôn H, S, tỉnh Phú Thọ. Diện tích thực tế sử
dụng 200m
2
(Theo Bản đồ VN2000 chưa được chỉnh ). Đất sử dụng ổn
định, lâu dài, không có tranh chấp với hộ liền kề. Trên đất có tường rào xây gạch
xi do bà D xây dựng và quản lý, sử dụng.
- Thửa đất thứ ba: Thửa đất số 1142.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 352m
2
,
loại
đất vườn, địa chỉ thửa đất tại thôn H, S, tỉnh Phú Thọ. Diện tích đất
đất trồng cây lâu năm thực tế sử dụng 265,8m
2
(chưa được chỉnh theo Bản
đồ VN2000). Đất sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp với hộ liền kề.
Trên đất không tài sản gì. Quá trình sử dụng thì cụ S hiến đất làm mương
thoát nước qua thửa đất nên hiện trạng thửa đất đã bị tách ra làm 2 phẩn (1 phần
206,6m
2
, 1 phần 59,2m
2
).
Ngoài ra, 2 cụ còn được giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của
Chính phủ năm 1993, gồm các thửa sau:
1. Thửa đất số 1135.3, tờ bản đồ số 15, diện tích theo Giấy CNQSD đất
192m
2
, diện tích thực tế sử dụng 196m
2
thuộc xđồng Bóng Chám, thôn H,
S, tỉnh Phú Thọ;
2. Thửa đất số 1143, tờ bản đồ số 15, diện tích 73m
2
, thuộc xứ đồng N,
thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ;
3. Thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 15, diện tích theo Giấy CNQSD đất
84m
2
, diện tích thực tế sử dụng 73,1m
2
thuộc xứ đồng N, thôn H, S, tỉnh Phú
Thọ;
4. Thửa đất số 73.66, tờ bản đồ số 15, diện tích 360m
2
(xứ đồng C, đã bị
Nhà nước thu hồi toàn bộ, tiền bồi thường D đang sử dụng)
5. Thửa đất số 640.1, tờ bản đồ s15, diện tích 108m
2
(đã bị Nhà nước
thu hồi toàn bộ năm 2012, tiền bồi thường bà D đang sử dụng);
6. Thửa đất số 913.2, tờ bản đồ số 16, diện tích theo Giấy CNQSD đất là
159m
2
, diện tích thực tế sử dụng 140,6m
2
thuộc xứ đồng N, thôn H, S, tỉnh
Phú Thọ;
7. Thửa đất số 914, tờ bản đồ số 16, diện tích theo Giấy CNQSD đất
121m
2
, diện tích thực tế sử dụng 80,3m
2
thuộc xứ đồng N, thôn H, S, tỉnh
Phú Thọ;
8. Thửa đất số 498.1, tờ bản đồ số 16, diện tích 360m
2
, xứ đồng Nhà Sắn,
thôn H, xã S (đã bị Nhà nước thu hồi 265,5m
2
, tiền bồi thường bà D đang sử
dụng); diện tích còn lại là 94,5m
2
;
9. Thửa đất số 272, tờ bản đồ số 21, diện tích 264m
2
, xứ đồng Đ, thôn
H, xã S;
10. Thửa đất số 941, tờ bản đồ số 22, diện ch 96m
2
, xứ đồng Ngọc
Khớm thôn H, xã S;
11. Thửa đất số 719.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 192m
2
(theo giấy
CNQSD đất). Thực tế sử dụng theo bản đồ 299 thửa 262, tờ bản đồ số 22,
4
diện tích 264,8m
2
, xứ đồng Nhà Sổ;
12. Thửa đất số 940, tờ bản đồ số 22, diện tích theo Giấy CNQSD đất
120m
2
, diện tích thực tế sử dụng là 280,9m
2
, xứ đồng Ngọc Khớm;
13. Thửa đất số 216, tờ bản đồ số 22, diện tích 284m
2
, xứ đồng Ngọc
Khớm;
14. Thửa đất số 233, tờ bản đồ số 22, diện tích 339m
2
, xứ đồng Nhà Sổ.
Tổng diện tích đất nông nghiệp của 2 cụ 2/5 phần tổng diện ch các
thửa đất nông nghiệp nêu trên (vì thời điểm chia đất nông nghiệp thì hộ cụ S
gồm 6 người được chia đất nông nghiệp là: Cụ S, cụ T6, D, con D
chị H3, chị H2, chị H1; nhưng năm 1995, chị H1 đã được chia đất chuyển về
nhà chồng, hiện nay chị H1 chỉ còn 2 thước đất rau xanh tương đương 48m
2
).
Các thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
R615498, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
01314/QSDĐ/567/QĐUB, do UBND huyện L cấp ngày 13/12/2000 mang tên bà
Nguyễn Thị D. Trong khi bố mcòn sống, T các chị em trong gia đình
không thấy bố mẹ nói về việc tặng cho quyền sử dụng cho D. Nếu việc
tặng cho thì đề nghị bà D cung cấp giấy tờ tặng cho vì các cụ đều sinh sống trên
thửa đất cho đến khi chết.
Nay bà T khởi kiện đề nghị Toà án chia thừa kế tài sản của của S và cụ T6
để lại những thửa đất nêu trên, chia bằng hiện vật, T, D2 Hợp đề
N chia cho các chung nhau suất thừa kế của mình được hưởng; đề nghị xem
xét công sức đóng góp, tôn tạo cho D nhất trí thanh toán giá trị các tài sản
trên đất cho D, không yêu cầu chia cây cối lâm lộc trên đất. Đồng thời đề
nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp cho D nêu trên. Đối với các
thửa đất nông nghiệp đề nghị chia theo quy định của pháp luật (đề nghị chia toàn
bộ đất theo diện thực tế sử dụng). Đối với các thửa đã bị thu hồi thì đề nghị xác
định các thửa của D các con D. Tại phiên toà thẩm, nguyên đơn
không yêu cầu chia đối với thửa đất 640.1, diện tích 108m
2
phần diện tích đã
bị thu hồi tại thửa 498.1, diện tích 265,5m
2
, tự nguyện để lại cho bà D toàn bộ
không yêu cầu D phải thanh toán gì. Không yêu cầu giải quyết thửa đất
981.1, tờ bản đồ số 15 vì xác định không có trên thực tế.
Bị đơn Nguyễn Thị D trình bày: Về mối quan hệ gia đình xác nhận
như đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày là đúng.
Số lượng các thửa đất, diện tích đất và nguồn gốc đất bà xác nhận như đại
diện nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, bà cùng bố mẹ từ nhỏ cho
đến năm 1973 đi lấy chồng, đến năm 1981 thì ly hôn chồng, đến năm 1984 về
sống chung cùng bố mẹ từ đó cho đến khi hai cụ chết. Bà T lấy chồng và về nhà
chồng ở từ năm 1975; bà D2 lấy chồng và về nhà chồng ở từ năm 1980; bà H lấy
chồng và về nhà chồng ở từ năm 1984.
Khi bố mẹ bà còn sống đã tạo lập được 01 ngôi nhà cấp 4 tường bằng đất,
lợp ngói (đến năm 2012 sửa lại xây bằng tường gạch); 03 gian bếp lợp ngói;
01 giếng khơi được xây dựng trên thửa đất 1146, tbản đồ s 15, diện tích
5
1056m
2
(có 200m
2
đất và 856m
2
đất vườn); 200m
2
đất vườn tại thửa đất số
205, tờ bản đồ số 15; 352m
2
đất vườn tại thửa đất 1142, tờ bản đsố 15. Ngoài
ra, bố mẹ n được tiêu chuẩn đất nông nghiệp. Năm 2010, đã đổ đất, lấp
ao, san nền; đến năm 2023, xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4, lát sân, xây tường
rào trên thửa đất 1146 xây tường rào trên thửa đất 205. Khi xây nhà, lát
sân, xây tường rào các chem trong gia đình đều biết, không ai ý kiến phản
đối gì.
Quá trình chung sống cùng bố mẹ, người trông nom, chăm sóc
các cụ được 2 cụ tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên (các cụ chỉ nói miệng,
không lập thành văn bản, có anh em họ hàng chứng kiến, nhưng họ đã già, chết).
Đến khi Nhà nước chủ trương khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho toàn dân tại Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) thì đã đi khai
đến năm 2000, bà được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên bà. xác định toàn bộ các thửa đất đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (kể cả đất nông nghiệp) tài sản bố mẹ đã cho
bà, không còn di sản của bố mđể lại. Nghĩa vnộp thuế sử dụng đất hàng
năm đều do nộp. Do vậy, T yêu cầu chia di sản thừa kế yêu cầu huỷ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà, bà không đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị D2 trình bày:
xác nhận nội dung như đại diện nguyên đơn trình bày đúng. nhất trí với
quan điểm của nguyên đơn, nếu được hưởng di sản của bố mẹ để lại đề nghị
Toà án chia cho bà, bà H, bà T ng đứng tên chung đối với phần của mình
được hưởng.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H trình bày:
xác nhận nội dung như đại diện nguyên đơn trình bày đúng. nhất trí với
quan điểm của nguyên đơn, nếu được hưởng di sản của bố mẹ để lại đề nghị
Toà án chia cho bà, D2, T cùng đứng tên chung đối với phần của mình
được hưởng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Thị Thu H2 trình bày:
Chị xác định mối quan hệ gia đình như đại diện nguyên đơn trình bày là đúng.
Chị là con gái của Nguyễn Thị D cháu ngoại của cụ Nguyễn Văn S
cụ Trần Thị T6. Hai cụ chung sống cùng bà Nguyễn Thị D cho đến năm 2007 cụ
T6 chết, năm 2011 cụ S chết. Khi các cụ còn sống, chị được nghe trực tiếp các
cụ nói là cho bà D toàn bộ đất và tài sản của 2 cụ, vì bà D là con gái trưởng, trực
tiếp nuôi hai cụ. Trong quá tình sdụng đất: Năm 2010, bà D đã thuê máy múc
để san vườn, xây tường rào bao quanh; năm 2023, làm 01 ngôi nhà khung
tông cốt thép. Nay bà T yêu cầu chia di sản của cụ T6 và cụ S là thửa đất ở + đất
vườn chị không đồng ý, chị xác định các cụ đã cho D; còn đối với đất nông
nghiệp của các cụ, chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Phần đất
nông nghiệp của chị, chị nhất trí để cho bà D sử dụng toàn bộ, không phải thanh
toán gì cho chị.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Thị Mỹ H3 trình bày:
Chị xác định mối quan hệ gia đình như đại diện nguyên đơn trình bày đúng.
6
Chị là con gái của Nguyễn Thị D cháu ngoại của cụ Nguyễn Văn S
cụ Trần Thị T6. Chị xác nhận nội dung như chị Thị Thu H2 trình bày
đúng. Chị nhất trí với quan điểm của chị H2. Phần đất nông nghiệp của chị, chị
nhất trí để cho bà D sử dụng toàn bộ, không phải thanh toán gì cho chị.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu H1 trình
bày: Chị là con gái của bà Nguyễn Thị D. Chị xác nhận nội dung như bà D trình
bày đúng. Khi còn sống cụ T6 cụ S đlại các tài sản thửa đất 1146,
thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15 và thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22 tại thôn H, xã S,
tỉnh Phú Thọ tiêu chuẩn đất nông nghiệp của hai cụ. Tuy trước khi chết 2 cụ
không để lại di chúc nhưng nói bằng miệng D công chăm sóc hai cụ
đến khi các cụ già yếu, thờ cúng tổ tiền nên để lại toàn bộ tài sản của hai cụ cho
D. Trong quá trình sử dụng các thửa đất 1146, 1142.1 và 205 những thửa
đất mấp mô, không bằng phẳng, có ao, có các hố sâu, trên thửa đất 1146 có ngôi
nhà 5 gian xây gạch, vữa vôi, 02 gian nhà bếp xây bằng gạch vôi. Bà D cùng các
chị em của chđã cùng D mua đất để lấp ao, lấp hố sâu thì mới đất bằng
phẳng như hiện nay. Đến năm 2023, D đã xây nhà trên thửa đất 1146 xây
tường rào trên thửa đất 1146, 205. Khi D xây nhà, tường rào thì T, bà H,
D2 đều biết, không ai có ý kiến phản đối gì.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản thửa kế và yêu cầu huỷ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị D thì chị không đồng ý.
Trường hợp Toà án chia thừa kế thì đề nghị xem xét công sức cho bà D.
Đối với đất nông nghiệp, chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật. Chị đã được bà D chia đất ruộng khi đi lấy chồng, nhưng tiêu chuẩn đất rau
xanh 2 thước tương đương 48m
2
(đất 5%) của chị D vẫn đang quản lý, sử
dụng vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng của D. Chị đề nghị
nếu trường hợp chia tiêu chuẩn đất nông nghiệp của cụ T6 và cụ S thì phải trừ đi
2 thước đất rau xanh của chị để đảm bảo quyền lợi cho chị phần đất nông
nghiệp của chị, chị nhất trí đcho bà D sử dụng toàn bộ, không phải thanh toán
gì cho chị.
Người có quyền lợi nghĩaa vụ liên quan là anh Nguyễn Mạnh Chí T5 trình
bày: Anh con trai của Nguyễn Thanh T. m 2012, anh đến hỏi
Nguyễn Thị D mượn đất nông nghiệp đm nhà xưởng, D đồng ý. Sau đó,
anh xây nhà xưởng lợp tôn trên các thửa đất 1143, 1144, 914 913.2 (việc
anh xây dựng nhà xưởng tự ý xây, không báo cáo chính quyền địa phương).
Nay bà T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của cụ S cụ T6, anh nhất trí tháo dỡ
toàn bộ, trả lại mặt bằng không yêu cầu ai phải bồi thường tiền tài sản cho
anh.
Đại diện theo uquyền của Chủ tịch UBND S trình bày: Thực hiện
Luật Đất đai năm 1993 chủ trương chung của Nhà nước về cấp giấy CNQSD
đất cho các hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất tại các xã, thị trấn. Thẩm
quyền cấp Giấy CNQSD đất của các hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất
UBND huyện trên cơ sở cấp giấy CNQSD đất của các hộ gia đình, cá nhân được
Hội đồng đăng đất các xã, thị trấn xét duyệt Tờ trình đề nghị cấp giấy
7
CNQSD đất của UBND xã, thị trấn. Theo hướng dấn tại Thông tư 346/1998/TT-
TCĐC của T9 (nay Bộ T10) quy định rõ: Trách nhiệm trong việc xét duyết
cấp giấy CNQSD đất cho các hộ gia đình, nhân do Hội đồng đăng đất
cấp xã, thị trấn xét duyệt. UBND xã, thị trấn chịu trách nhiệm xác nhận vào đơn
xin cấp giấy của từng chủ sdụng trên skết quả xét duyệt của Hội đồng
đăng đất đai công bố công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở UBND xã, thị
trấn. Hồ sơ UBND xã, thị trấn trình gồm:
- Trích Nghị quyết (hoặc biên bản) Hội đồng đăng đất đai xét duyệt
cho các hộ đủ điều kiện cấp giấy CNQSD đất;
- Tờ trình, kèm danh sách đề nghị cấp giấy CNQSD đất của UBND xã, th
trấn;
- Giấy CNQSD đất đã viết sẵn cho các hộ, thể hiện thông tin về chủ sử
dụng đất (họ, tên, địa chỉ) thông tin về các thửa đất được cấp (tổng diện tích,
số tờ bản đồ, số thửa đất, diện tích thửa đất, loại đất, thời hạn sử dụng).
Cơ quan chuyên môn cấp trên, cụ thể Phòng địa chính (nay là phòng T11)
huyện có trách nhiệm kiểm tra hình thức, mức độ đầy đủ, kỹ thuật của hồ , tài
liệu do UBND cấp xã, thị trấn trình. Nếu thấy đầy đủ, hợp lệ thì trình UBND
huyện phê duyệt cấp giấy CNQSD đất cho các hộ gia đình, nhân. Qua kiểm
tra hồ sơ địa chính được lưu giữ tại UBND huyện S (nay là UBND xã S) đối với
yêu cầu trên như sau:
Hồ cấp giấy CNQSD đất cho Nguyễn Thị D số vào sổ cấp giấy
CNQSD đất số 01314/QSD Đ/567QĐ-UB do UBND huyện L cấp ngày
13/12/2000 mang tên Nguyễn Thị D.
Sau khi nhận được Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của
Toà án, Phòng T11 (nay là phòng Kinh tế xã S) đã cử cán bộ tìm kiếm hồ sơ cấp
giấy CNQSD đất, nhưng do thời gian đã lâu, nhiều lần thay đổi địa điểm làm
việc nên không cung cấp được hồ cấp giấy CNQSD đất của Nguyễn Thị
D.
Nay Nguyễn Thanh T khời kiện yêu cầu Huỷ giấy CNQSD đất do
UBND huyện L (cũ) cấp cho bà Nguyễn Thị D, quan điểm của UBND xã S là đề
nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự số 11/2026/DS-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ quyết định:
Căn cứ vào các Điều 612, 613, 649, 650, 651, 660, 357 Bộ luật dân sự
năm 2015; Điều 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 31 và Điều
236 Luật đất đai năm 2024; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án plệ phí Tòa
án; xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 01314 QSDĐ/567
8
QĐUB ngày 13/12/2000 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị D.
- Xác định cụ Nguyễn Văn S chết năm 2011; cụ Trần Thị T6 chết năm
2007, không để lại di chúc.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ S cụ T6 gồm 4 người là:
Nguyễn Thị D, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị D2Nguyễn Thị H.
- Xác định di sản của cụ Nguyễn Văn S cụ Trần Thị T6 đlại Thửa
đất 1146, tờ bản đồ số 15 diện tích 1257,1m
2
(trong đó 200m
2
đất thổ
1057,1m
2
đất trồng cây lâu năm); Thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15, diện tích
265,8m
2
đất trồng cây lâu năm và thửa 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 200m
2
đất
trồng cây lâu năm thuộc thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọdiện tích đất nông nghiệp
1148,68m
2
tại các thửa: Thửa đất số 1135.3, tờ bản đồ số 15; Thửa đất số 1143,
tờ bản đồ số 15; Thửa đất số 1144, tờ bản đồ số 15; Thửa đất số 640.1, tờ bản đồ
số 15; Thửa đất số 73.66, tờ bản đồ số 15; Thửa đất s913.2, tờ bản đồ số 16;
Thửa đất số 914, tờ bản đồ số 16; Thửa đất số 498.1, tờ bản đồ s16; Thửa đất
số 272, tờ bản đồ số 21; Thửa đất số 941, tờ bản đồ số 22; Thửa đất số 262, tờ
bản đồ số 22; Thửa đất số 940, tờ bản đồ số 22; Thửa đất số 216, tờ bản đồ số
22; Thửa đất số 233, tờ bản đồ số 22.
Xác nhận sự tự nguyện của các bên đương sự không yêu cầu chia giải
quyết toàn bộ cây cối lâm lộc trên đất.
Trích công sức cho D bằng 02 suất thừa kế đối với phần di sản của cụ
S, cụ T6 để lại tại các thửa đất 1146, tờ bản đồ số 15 bằng 01 suất thừa kế tại
thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15 và thửa 205, tờ bản đồ số 22.
+ Chia cho Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị H,
được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1146, tờ bản đồ 15,
diện tích đất là: 503,3m
2
đất (Trong đó có: 100m
2
đất thổ cư + 403,3m
2
đất trồng
cây lâu năm) trị giá 733.960.000đ, trên đất có 10,94m tường rào xây gạch xi trị
giá 3.227.300đ; 13,75m tường rào xây gạch chỉ gắn lưới B40 trị giá 4.812.500đ;
bể nước trị giá 1.000.000đ; giếng trị giá 10.509.188đ; nhà vệ sinh trị giá
1.100.000đ; 41,17m tường rào xây gạch xi giáp đất nhà ông Nguyễn Văn T8 trị
giá 12.145.000đ tại thôn H, S, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất được thể hiện S3 =
503,3m
2
, xác định bởi các điểm 11A-12-13-14-15-16-1-11A quyền sử dụng
đất thuộc thửa đất thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 265,8m
2
đất trồng cây
lâu năm trị giá 318.960.000đ tại thôn H, S, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất được giới
hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-20-21-1 và các điểm từ 38 đến 46 (Có đồ
kèm theo).
+ Chia cho Nguyễn Thị D được hưởng thừa kế, được trích công sức
duy trì, tôn tạo di sản thừa kế diện tích 138,93m
2
đất trồng cây lâu năm của
T, D2, H được được hưởng thừa kế di sản gồm: quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 1146, tờ bản đồ 15, diện tích đất là: 753,8m
2
đất (Trong đó có:
100m
2
đất thổ + 653,8m
2
đất trồng cây lâu năm) trị giá 1.034.560.000đ. Trên
đất 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói, bếp lợp tôn, lán tôn, sân gạch, lối đi đổ
tổng, trụ cổng + cánh cổng, tường rào tại thôn H, S, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất
9
được thể hiện S2 = 753,8m
2
, xác định bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-
11A-1 quyền sử dụng đất thuộc thửa đất thửa 205, tờ bản đồ số 22, diện tích
200m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 240.000.000đ, trên đất có 36,63m tường rào
xây gạch xi tại thôn H, xã S, tỉnh Phú Th. Thửa đất được giới hạn bởi các điểm
37-38-39-40-41-42-43-45-60-37 (Có sơ đồ kèm theo).
Buộc D trách nhiệm thanh toán diện tích 138,93m
2
đất vườn (diện
tích chênh lệch tại thửa 1146 = 125,25m
2
thửa 205 = 13,68m
2
) giá trị bằng
tiền đối với phần đất sử dụng chênh lệch cho T, D2, H 166.716.000
đồng (kỷ phần thanh toán cho mỗi người là 55.572.000 đồng).
Buộc bà T, bà H, bà D2 trách nhiệm thanh toán tiền tài sản trên đất cho
D 32.793.988 đồng 5.254.500 đồng tiền giếng đào = 27.539.488 đồng
(kỷ phần của mỗi người được làm tròn là 9.180.000 đồng).
Sau khi cân đối chênh lệch tiền đất tiền tài sản, buộc D trách
nhiệm thanh toán cho T, bà D2, H tổng số tiền 139.176.512 đồng (kỷ
phần của mỗi người được thanh toán số tiền làm tròn là 46.392.000 đồng).
* Đối với đất nông nghiệp:
+ Chia cho T, D2 được hưởng di sản do cụ S và cụ T6 để lại
499,64m
2
được sử dụng phần đất nông nghiệp của H được hưởng
249,82m
2
tại các thửa đất 233, tờ bản đồ s22, diện tích 339m
2
; thửa 913,2, tờ
bản đsố 16, diện tích 140,6m
2
; thửa 914, tờ bản đsố 16, diện tích 80,3m
2
;
thửa 1135.3, tờ bản đồ số 15 diện tích 196m
2
. Tổng diện tích giao cho T,
D2 sử dụng, quản lý là 755,9m
2
(sử dụng chênh lệch tăng so với phần được giao
và được hưởng là 6,44m
2
) (Có sơ đồ kèm theo).
+ Giao cho bà D quản lý, sử dụng phần của mình 499,64m
2
+ phần
được hưởng di sản của cụ S, cụ T6 là 249,82m
2
và phần của chị H3, chị H2 được
giao theo nhân khẩu là 999,28m
2
+ 48m
2
đất rau xanh của chị H1. Tổng diện tích
được giao được hưởng 1796,74m
2
giao cho D quản lý, sử dụng các
diện tích đất nông nghiệp gồm: Thửa 76,33, tbản đồ số 15, diện tích 360m
2
(thửa đất đã bthu hồi toàn bộ diện ch vào tháng 12/2025); thửa 498,1, tờ bản
đồ số 16, diện tích 94,5m
2
; Thửa đất số 262, tờ bản đồ số 22, diện tích 264,8m
2
;
Thửa đất số 1143, tờ bản đồ số 15, diện tích 73m
2
; Thửa đất số 1144, tờ bản đồ
số 15, diện tích 73,1m
2
; Thửa đất số 272, tờ bản đồ số 21, diện tích 264m
2
; Thửa
đất số 940, tờ bản đồ số 22, diện tích 280,9m
2
; Thửa đất số 216, tờ bản đồ số 22,
diện tích 284m
2
; thửa 941, tờ bản đồ số 22, diện tích 96m
2
. Tổng diện tích D
được giao được hưởng 1790,3m
2
(sử dụng chênh lệch giảm so với phần
được giao và được hưởng là 6,44m
2
) (Có sơ đồ kèm theo).
Giao cho bà D được quyền sdụng số tiền Nhà nước đã bồi thường, hỗ
trợ thu hồi đất phần di sản của cụ S cụ T6 tại các thửa đất số 640.1 thửa
đất 498.1.
Buộc T, D2 có trách nhiệm thanh toán diện tích đất nông nghiệp
bằng tiền cho H 14.989.200đ; thanh toán chênh lệch diện tích bằng tiền
cho D 6,44m
2
trị giá 386.400đ. Kỷ phần của mỗi người phải thanh toán
10
7.687.800đ.
* Các đương sự quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước thẩm
quyền, thực hiện các quyền nghĩa vụ của người sử dụng đất, để được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
* Kiến nghị UBND S, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử vi phạm hành
chính đối với hành vi vi phạm về sử dụng đất của anh Nguyễn Mạnh Chí T5,
buộc phải tháo dỡ công trình trên đất và khôi phục lại hiện trạng các thửa đã vi
phạm để đảm bảo đúng theo mục đích sử dụng đất tại địa phương.
Bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành
án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 08/4/2026, bị đơn Nguyễn Thị D đơn kháng cáo đề nghị cấp
phúc thẩm sửa Bản án dân sự thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Ngày 12/4/2026, nguyên đơn Nguyễn Thanh T, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị D2 đơn kháng cáo đều
đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Tại cấp phúc thẩm, bà T, bà H kháng
cáo bổ sung, đề nghị chia bằng hiện vật đối với thửa đất số 1146 tờ bản đồ 15
cho các bà.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư Toà án đã thực hiện đúng nhiệm
v, quyn hn ca mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm điểm giải quyết vụ án: Đ ngh Hội đồng xét x phúc thm
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Chấp nhận một phần kháng cáo của
nguyên đơn Nguyễn Thanh T, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị D2; Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Sửa Bản án dân sự thẩm 11/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ theo hướng chia thửa đất số 1146 tờ bản
đồ 15 bằng hiện vật tương ứng với diện tích đất các đương sự được chia,
trường hợp trên đất được chia có tài sản của bị đơn thì người được hưởng đất có
tài sản của bị đơn phải thanh toán giá trị tài sản tương ứng cho bị đơn; các nội
dung khác đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét
thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo các đương sự nằm trong thời hạn
luật định. Việc thụ kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên được xem xét
11
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
của cụ Nguyễn Văn S và cụ Trần Thị T6. vậy quan hệ pháp luật trong vụ án
này là tranh chấp về thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[3]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị chia di sản thừa kế
đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01314/QSDĐ/567/QĐUB
ngày 13/12/2000 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị D đối với các thửa
đất thổ cư, đất vườn và đất ruộng. Cấp sơ thẩm xác định Chủ tịch UBND xã S là
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án (BL 235) là đúng theo quy
định tại Điều 5, khoản 1 Điều 23 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025
của Chính phủ quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với trường hợp trên là của Chủ tịch UBND cấp xã. Trong bản án sơ thẩm lại xác
định UBND xã S người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không
đúng. Tuy nhiên, tại cấp thẩm Chủ tịch UBND S đã tham gia tố tụng,
bản tự khai trình bày quan điểm về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quan điểm về việc giải quyết vụ án. Sai xót trên không ảnh hưởng đến quyền lợi
của các đương sự không ảnh hưởng bản chất của vụ án, cấp phúc thẩm xác
định lại cách đương sự như trên mà không hủy án thẩm thẩm. Đề nghcấp
sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[4]. Nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế đối với các
thửa đất bao gồm: Thửa đất số 1146, tờ bản đồ số 15, diện tích 1056m
2
(trong đó
200m
2
đất 856m
2
đất vườn), diện tích đất đất trồng cây lâu năm
thực tế sử dụng là 1257,1m
2
; Thửa đất số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 200m
2
,
loại
đất vườn, diện tích thực tế sử dụng 200m
2
; Thửa số 1142.1, tờ bản đồ số
15, diện tích 352m
2
, loại
đất vườn, diện tích đất thực tế sử dụng là 265,8m
2
, hiện
trạng thửa đất đã bị tách ra làm 2 phần (1 phần 206,6m
2
, 1 phần 59,2m
2
) chia
diện tích đất nông nghiệp tại các thửa: Thửa đất số 1135.3, tờ bản đồ số 15, diện
tích 196m
2
; Thửa đất số 1143, tờ bản đồ số 15, diện tích 73m
2
; Thửa đất số
1144, tờ bản đồ số 15, diện tích 73,1m
2
; Thửa đất số 73.66, tờ bản đồ số 15, diện
tích 360m
2
(xứ đồng Cây Trâm đã bị Nhà nước thu hồi toàn bộ, tiền bồi thường
D đang sử dụng); Thửa đất số 233, tờ bản đồ số 22, diện tích 339m
2
; Thửa
đất số 640.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 108m
2
; Thửa đất số 913.2, tờ bản đs
16, diện tích 140,6m
2
; Thửa đất số 914, tờ bản đồ số 16, diện tích 80,3m
2
; Thửa
đất số 498.1, tờ bản đồ số 16, diện tích 360m
2
xứ đồng Nhà Sắn (đã bị Nhà nước
thu hồi 265,5m
2
tiền bồi thường D đang sử dụng, hiện còn 94,5m
2
); Thửa
đất số 272, tờ bản đồ s21, diện tích 264m
2
xứ đồng Đ; Thửa đất số 941, tờ
bản đồ số 22, diện tích 96m
2
xứ đồng Ngọc K; Thửa đất số 719.1, tờ bản đồ số
15 (thực tế thửa số 262, tờ bản đồ số 22), diện tích 264,8m
2
xứ đồng Nhà Sổ;
Thửa đất số 940, tờ bản đsố 22, diện tích 280,9m
2
xứ đồng Ngọc K; Thửa đất
số 216, tờ bản đồ số 22, diện tích 284m
2
xứ đồng Ngọc K. Địa chỉ các thửa đất
đều tại thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ theo Giấy CNQSD đất số R615498, số vào sổ
cấp Giấy CNQSD đất số 01314/QSDĐ/567/QĐUB, do UBND huyện L cấp
ngày 13/12/2000 mang tên bà Nguyễn Thị D. Đồng thời yêu cầu huỷ giấy chứng
12
nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Sau khi xét xử thẩm, vụ án kháng cáo
với nội dung sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị H kháng cáo với nội dung khi chia thửa đất số
1146 tờ bản đồ 15 cấp thẩm nh công sức cho bị đơn bằng 02 suất thừa kế
theo pháp luật không căn cứ khi chia đề nghị chia bằng hiện vật đối với
toàn bộ diện tích đất của thửa số 1146 tờ bản đồ 15 cho nguyên đơn và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không đồng ý nhận thanh toán theo giá trị đất.
Không đồng ý thanh toán giá trị tường rào bao loan cho bị đơn.
B đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn vì các thửa đất trên đã được bố mẹ cho bị đơn.
[5]. Cấp phúc thẩm thấy rằng:
[5.1]. Về hàng thừa kế: Qua xác minh tại địa phương các đương sự
thừa nhận: Cụ Nguyễn Văn S cụ Trần Thị Tác S2 được 04 người con chung
gồm: Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thanh T và Nguyễn
Thị H. Ngoài ra, cụ S và cụ T6 không người con đẻ và con nuôi nào khác. Bố
mẹ cụ S cụ T6 đã chết trước thời điểm hai cụ chết. Do vậy xác định hàng
thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn S cụ Trần Thị T6 gồm: Nguyễn Thị
D, bà Nguyễn Thị D2, bà Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H.
[5.2]. Về thời hiệu chia di sản thừa kế: Cụ Nguyễn Văn S chết năm 2011
và cụ Trần Thị T6 chết năm 2007. Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất
động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. vậy, thời hiệu chia di sản thừa kế của
hai cụ là vẫn còn.
[5.3]. Về di sản thừa kế:
[5.3.1]. Đối với các tài sản đang tranh chấp:
- Thửa đất số 1146, tờ bản đồ số 15, diện tích thực tế 1257,1m
2
(trong đó: 200m
2
đất trị giá 2.500.000đ/1m
2
; 1057,1m
2
đất trồng cây lâu năm
trị giá 1.200.000đ/1m
2
), trên đất các tài sản: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói 85m
2
trị giá 81.260.000đ; 01 nhà bếp mái lợp tôn 18m
2
trị giá 11.721.600đ; lán tôn
20m
2
trị giá 2.000.000đ; sân gạch 124m
2
trị giá 9.920.000đ; bể nước 2,5m
2
trị
giá 1.000.000đ; giếng đào trị giá 10.509.188đ; nhà vệ sinh 3,0m
2
trị giá
1.100.000đ, 42,51m tường rào xây gạch chỉ cao 1,6m trị giá 11.640.555đ + gắn
lưới B40 cao 0,9m trị giá 3.240.000đ; 20m tường rào xây gạch chỉ, cao 1,6m trị
giá 5.476.620đ; 17,33m tường rào xây gạch xi cao 1,6m tr giá 5.113.407đ;
20,38m tường rào xây gạch xi, cao 2,0m trị giá 6.013.353đ; 41,17m tường rào
xây gạch xi giáp đất nhà ông Nguyễn Văn T8 trị giá 12.145.000đ; 99m
2
lối đi đổ
bê tông trị giá 12.046.320đ; 02 trụ cổng trị giá 2.888.350đ + 02 cánh cổng sắt trị
giá 2.240.000đ; 08 cây cau trị giá 800.000đ; 04 cây mít đường kính thân dưới
9cm trị giá 1.200.000đ; 01 cây mít đường kính thân trên 40cm trị giá
1.500.000đ; 03 cây nhãn trị giá 6.300.000đ; 02 cây vải đường kính thân trên
30cm trị giá 4.800.000đ; 01 cây vải đường kính thân dưới 30cm trị g
13
2.100.000đ; 01 cây trám trị giá 840.000; 01 cây ổi trị giá 330.000đ; 01 cây tranh
trị giá 150.000đ.
Đối với phần diện tích tăng thêm (Theo giấy CNQSD đất diện tích thửa
đất 1056m
2
, diện tích thực tế 1257,1m
2
): Qua xác minh tại địa phương thì
phần diện tích tăng thêm do sai số do đạc, đất sử dụng ổn định, phù hợp với
quy hoạch của địa phương, không tranh chấp với các hộ liền kề đã được
đăng ký biến động theo Bản đồ hệ toạ độ VN2000.
- Đối với thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15, diện tích được cấp giấy CNQSD
đất 352m
2
, đất vườn; diện tích thực tế 265,8m
2
trị giá 1.200.000đ/1m
2
, trên
đất không tài sản gì. Đối với phần diện tích giảm (Theo giấy CNQSD đất
diện tích thửa đất 352m
2
, diện tích thực tế 265,8m
2
): Qua xác minh tại địa
phương xác nhận của các đương sự thì phần diện tích bị giảm do gia đình
đã hiến đất để làm mương thoát nước và thửa đất hiện nay bị mương thoát nước
tách ra làm 2 phần: 01 phần diện tích 59,2m
2
01 phần diện tích
206,6m
2
).
- Đối với thửa 205, tờ bản đồ số 22, có diện tích là 200m
2
đất vườn (CLN)
trị giá 1.200.000đ/1m
2
. Diện tích đo hiện trạng do đương sự chdẫn 200m
2
.
Trên đất bà D xây dựng: 21,41m tường rào xây gạch xi, cao trung bình 2,4m
và 15,22m tường xây gạch xi, cao 1,6m.
- Đối với các thửa đất nông nghiệp:
+ Thửa 1135.3, tờ bản đồ số 15, diện tích 192m
2
, đất lúa (LUC), xứ đồng
Bóng Chám. Diện tích đo hiện trạng do đương sự chỉ dẫn 196m
2
, trị giá
60.000đ/1m
2
. Trên đất không có tài sản gì.
+ Thửa 941, tờ bản đồ số 15, diện tích 96m
2
, đất lúa (LUC), xứ đồng Nhà
Sổ, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không có tài sản gì.
+ Thửa 233, tờ bản đồ số 22, diện tích 339m
2
, đất lúa (LUC), xứ đồng
Nhà Sổ, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không có tài sản gì.
+ Thửa 216, tờ bản đồ số 22, diện tích 284m
2
, đất lúa (LUC), xứ đồng
Nhà Sổ, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không có tài sản gì.
+ Thửa 940, tờ bản đồ số 15, diện tích 120m
2
, đất lúa (LUC). Diện tích đo
hiện trạng theo bản đồ 299 280,9m
2
, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không
tài sản gì. Qua xác minh tại địa phương thì phần diện tích tăng thêm do sai
số do đạc, đất sử dụng ổn định, phù hợp với quy hoạch của địa phương, không
có tranh chấp với các hộ liền kề.
+ Thửa 719.1, tờ bản đồ số 15, do các đương sự chỉ dẫn, diện tích được
cấp giấy CNQSD đất là 192m
2
, đất lúa (LUC). Diện tích đo hiện trạng là
264,8m
2
, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không cói sản gì. Qua xác minh tại địa
phương thì phần diện tích tăng thêm do sai số do đạc, đất sử dụng ổn định,
phù hợp với quy hoạch của địa phương, không tranh chấp với các hộ liền kề
do cán bộ địa chính vào sổ nhầm dẫn đến ghi nhầm số thửa tờ bản đồ.
Thực tế thửa đất gia đình D sử dụng là thửa 262, tờ bản đồ số 22 đã được
14
đăng ký biến động theo Bản đồ hệ toạ độ VN2000.
+ Thửa 1143, tbản đsố 15, diện tích thực tế 73m
2
, đất ĐRM, trị giá
60.000đ/1m
2
. Trên đất có 55m
2
nhà xưởng lợp tôn.
+ Thửa 1144, tờ bản đồ số 15, diện tích thực tế 73,1m
2
, đất ĐRM, trị g
60.000đ/1m
2
. Trên đất có 72.9m
2
nhà xưởng lợp tôn.
+ Thửa 914, tờ bản đồ số 16, diện tích thực tế 80,3m
2
, đất ĐRM, trị giá
60.000đ/1m
2
. Trên đất có 42m
2
sân bê tông.
+ Thửa 913.2, tờ bản đồ số 16, diện tích thực tế 140,6m
2
, đất ĐRM trị giá
60.000đ/1m
2
. Trên đất có 9m
2
phần nhà tạm lợp tôn và 5m
2
bể nước.
+ Thửa 498.1, tờ bản đồ số 16, diện tích được cấp GCNQSD đất là 360m
2
;
diện tích thực tế 94,5m
2
, đất LUC, xứ đồng Nhà Sắn, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên
đất không tài sản gì. Đối với phần diện tích giảm (Theo giấy CNQSD đất
diện tích thửa đất 360m
2
, diện tích thực tế 94,5m
2
): Qua xác minh tại địa
phương và xác nhận của các đương sự thì phần diện tích bị giảm là do Nhà nước
thu hồi để làm dự án đường từ nút giao thông lập thể đường C - Lào Cai đến
trung tâm H5 cũ. Tại phiên toà thẩm, T, H, D2 đều đồng ý để cho D
được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế (số tiền được Nhà nước đềntại thửa
đất này) của cT6, cụ S n cần được chấp nhận.
+ Thửa 272, tờ bản đồ số 21, diện tích 264m
2
, đất ĐRM, xứ đồng Ông H4.
Diện tích đo hiện trạng sử dụng 264m
2
, trị giá 60.000đ/1m
2
. Trên đất không
có tài sản gì.
+ Thửa 73.66, tờ bản đồ số 15, diện tích được cấp GCNQSD đất là 360m
2
:
Qua xác minh tại địa phương xác nhận của các đương sự thì thửa đất này đã
bị Nhà nước thu hồi để làm dự án khu tái định khu công nghiệp S 2 theo
Quyết định số 563/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 của UBND S, tỉnh Phú Thọ
và bà D là người đang quản lý số tiền bồi thường đất.
+ Thửa 640.1, tờ bản đồ số 15, diện tích được cấp GCNQSD đất là 108m
2
.
Các đương sự xác nhận Nhà nước đã thu hồi làm khu tái định cư giải phóng mặt
bằng đường dây 500KV Sơn La - H, tiền bồi thường về đất 4.644.000đ (bà D
người nhận tiền bồi thường) theo Quyết đnh số 1001/QĐ-UBND ngày
28/6/2012 của UBND huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại phiên toà thẩm, T, H,
D2 đều đồng ý để cho D được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế (số tiền
được Nhà nước đền tại thửa đất này) của cụ T6, cS nên cần được chấp
nhận.
+ Đối với thửa đất số 981.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 72m
2
, đất LUC, các
đương sự xác nhận trên thực tế không có, không sử dụng thửa đất này không
đề nghị Toà án xem xét giải quyết nên cấp thẩm không xem xét giải quyết
phù hợp.
Các đương sự đều thừa nhận đồ hiện trạng các thửa đất các tài sản
trên đất kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân khu
vực 11- Phú Thọ được tả nêu trên là đúng với thực tế, quá trình sử dụng
15
không mua thêm đất của các hộ liên kế và nhất trí với giá trị tài sản do Hội đồng
định giá quyết định. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng diện tích theo hiện trạng và giá
trị các tài sản như trên đlàm căn cứ giải quyết vụ án phù hợp. Tại cấp phúc
thẩm các đương sđều thống nhất đối với sliệu, giá trị các tài sản trên
không có ý kiến gì.
[5.3.2]. Về di sản thừa kế:
Qua xác minh tại địa phương sự thừa nhận của các đương sự thì các
thửa đất đang tranh chấp gồm: Thửa đất số 1146, 1142.1 tờ bản đồ 25 và thửa số
205 tờ bản đồ 22 tại thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ có nguồn gốc của hai cụ Nguyễn
Văn STrần Thị T6 tạo dựng được.
Các thửa đất nông nghiệp: Tại thời điểm chia đất nông nghiệp là chia theo
Nghị định 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 xác định thời điểm đó vợ chồng
cụ S, bà D các con D cùng sinh sống nên hộ gia đình được chia đất nông
nghiệp gồm cụ S, cT6, bà D, chị H3, chị H2 và chị H1.
Các thửa đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp được UBND huyện L (cũ) cấp
giấy chứng quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Thị D ngày 13/12/2000, như
vậy giấy chứng nhận quyền sdụng đất được cấp khi cụ S cụ T6 vẫn còn
sống (cụ S chết năm 2011, cụ T6 chết năm 2007). Qua xác minh thì địa phương
không cung cấp được hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. D
trình bày khi bố mẹ cho đất thì các cụ chỉ nói bằng miệng không văn bản gì.
Ngoài ra, bà D cũng không cung cấp được tài liệu gì thể hiện việc khi cụ S và cụ
T6 còn sống đã tặng cho bà D các thửa đất trên và các cụ đã biết việc D được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không ý kiến gì. Ngoài ra,
khi còn sống các cụ S, cụ T6 vẫn quản lý các thửa đất trên. Vì vậy, không có căn
cứ nào khẳng định D được cụ S cụ T6 tặng cho các thửa đất trên việc
UBND huyện L (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/12/2000
cho bà D đối với các thửa đất trên không đúng đối tượng. Cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất trên là có căn cứ và kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận.
Đối với việc bị đơn đề nghị áp dụng Án lệ số 03/2016 ngày 06/4/2016 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án Tối cao, Hội đồng xét xử thấy rằng: Án lệ quy
định: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất vợ
chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi
vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ những người khác trong gia
đình không ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên
tục, công khai, ổn định đã tiến hành việc khai đất, được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho
quyền sử dụng đất”. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa
nhận trước khi cụ T6 và cụ S chết thì các cụ bà D vẫn trên ngôi nhà 5 gian
do các cụ xây dựng từ trước. Đến năm 2023 (sau khi các cụ chết) thì bà D mới
tháo dỡ nhà của các cụ để xây dựng nhà mới. Do vậy, cấp thẩm không áp
dụng Án lệ trên là có căn cứ.
Qua xác minh tại địa phương và các đương sự thừa nhận, tại thời điểm
16
chia đất nông nghiệp năm 1993, gia đình cụ S cụ T6 gồm: Cụ S, cụ T6, bà D, chị
H3, chị H2, chị H1. Định mức đất màu thời điểm đó 48m
2
/01 nhân khẩu, đất
lúa được giao 336m
2
/01 nhân khẩu (theo định mức tối thiểu, còn diện tích
giao cụ thể thì căn cứ vào quỹ đất của từng thôn), việc giao đất nông nghiệp tại
thời điểm đó chỉ thể hiện tổng diện tích theo ruộng được chia mà không thể hiện
từng nhân khẩu trong hộ được chia ruộng nào, diện tích bao nhiêu; chị H1 được
chia 2 thước đất màu (48m
2
), còn đất lúa chị H1 đã chuyển về nhà chồng từ năm
1995.
Đối với thửa đất 73.66 tờ bản đồ 15 đã bị Nhà nước thu hồi với tổng diện
tích 360m
2
, số tiền bồi thường D người trực tiếp nhận sử dụng (khi
giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, nhưng đến cuối
năm 2025 thì thửa đất đã bị Nhà nước thu hồi toàn bộ). Do vậy, cần xác định
phần diện tích đất đã bị thu hồi này vào tiêu chuẩn đất nông nghiệp của D
được chia.
Các đương sự không yêu cầu chia đối với thửa 640.1, diện tích 108m
2
1 phần đã bị thu hồi tại thửa 498.1, diện tích 265,5m
2
. Như vậy, tổng diện tích
đất nông nghiệp còn lại 2546,2m
2
được xác định của cụ S, cụ T6, D, chị
H2, chị H3 và 48m
2
của chị H1, tiêu chuẩn của mỗi người là (2546,2m
2
-
48m
2
)/5 = 499,64m
2
. Do đó, diện tích đất nông nghiệp của cụ S, cụ T6 đlại
499,64m
2
x 2 = 999,28m
2
, được chia cho các hàng thừa kế.
Như vậy, cấp sơ thẩm xác định di sản của S và cụ T6 để lại là Thửa đất số
1146, 1142.1 tờ bản đồ 25, thửa số 205 tờ bản đồ 22 999,28m
2
đất nông
nghiệp là có căn cứ.
[5.3.3]. Về ng sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự
đều thừa nhận D lấy chồng về nhà chồng từ năm 1973, đến năm 1984 thì
về chung cùng với các cụ cho đến khi các cụ chết. Trong quá trình cùng các
cụ, D công trực tiếp chăm lo, chăm sóc các cụ khi già yếu; công tôn
tạo, duy trì (đổ đất, xây tường rào) quản , trông nom các thửa đất 1146,
1142.1, 205 và nộp thuế sử dụng đất hàng năm để làm tăng giá trị quyền sử dụng
đất nên trước khi chia di sản, cấp thẩm xem xét trích một phần công sức cho
D bằng 02 suất thừa kế được hưởng tại thửa 1146 và bằng 01 suất thừa kế tại
thửa 1142.1 và thửa 205 là phù hợp. Nên kháng cáo của nguyên đơn và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận.
Đối với diện tích đất nông nghiệp: Những người sử dụng đất hàng năm
đều canh tác thu hoạch cây trồng, hiện trạng các thửa đất không ai tôn tạo
gì. Do vậy, không có công sức, quản lý, tôn tạo khối di sản là diện tích đất nông
nghiệp.
[5.3.4]. Về cách chia và hình thức chia di sản:
- T, D2, H đề nghị nếu các bà được chia di sản thì các bà đều đề
nghị được sdụng chung, đề nghị này của bà T, bà D2, H phù hợp quy
định của pháp luật nên được chấp nhận.
- Thửa đất 1146, tờ bản đồ số 15 diện ch 1257,1m
2
(trong đó 200m
2
17
đất thổ cư và 1057,1m
2
đất trồng cây lâu năm) được chia làm 6 phần: Bà D được
chia 3 phần (1 phần hưởng di sản và 2 phần được tính công sức), gồm 100m
2
đất
thổ và 528,5m
2
đất trồng cây lâu năm. T, H, D2 được chia chung 3
phần gồm 100m
2
đất thổ 528,5m
2
đất trồng cây lâu năm. Cấp thẩm căn
cứ vào nhu cầu, hiện trạng các công trình trên đất, diện tích đất các hàng thừa kế
được chia để chia cho bà D được chia đất nhiều hơn T, H, bà D2 D
phải thanh toán giá trị tương ứng để không làm ảnh hưởng đến các công trình
chính trên đất phù hợp. Tuy nhiên, tại phúc thẩm phía T, H, bà D2 đề
nghị được chia bằng đất, không đồng ý để D thanh toán bằng giá trị đối với
diện tích đất chênh lệch nếu chia đất thửa đất sau khi chia không được
vuông vắn, khó khăn trong quá trình sử dụng đất thì các ng đồng ý nhận
đất, đây tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên cấp phúc thẩm sẽ chia bằng hiện
vật cho các hàng thừa kế đối với diện tích đất họ được hưởng. Nên kháng
cáo này của nguyên đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp
nhận.
- Thửa 1142.1, tờ bản đồ số 15, diện tích 265,8m
2
đất trồng cây lâu năm
thửa 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 200m
2
đất trồng cây lâu năm được chia
làm 5 phần: D được chia 2 phần (1 phần hưởng di sản 1 phần được tính
công sức) 186,32m
2
. T, H, bà D2 được chia, mỗi 1 phần 93,16m
2
và để đảm bảo diện tích theo hạn mức quy định tại Quyết định số 116/2025/QĐ-
UBND ngày 01/12/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh P, cấp sơ thẩm chia cho D sử
dụng toàn bộ thửa 205; T, H, D2 sử dụng chung thửa 1142.1. Sau khi
cân đối D sử dụng diện tích chênh lệch 13,68m
2
. Do đó, D trách
nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho bà T, bà H và bà D2, mỗi là 13,68m
2
/3
= 4.56m
2
x 1.200.000đ/1m
2
= 5.472.000đ là phù hợp.
- Về đất nông nghiệp:
Phần của H được hưởng di sản do cụ S cụ T6 để lại 249,82m
2
trị
giá 14.989.200 đồng. Tuy nhiên, Hợp đồng Ý để cho T, D2 sử dụng
toàn bộ nên cần giao cho T, D2 quản lý, sử dụng diện tích này và T, bà
D2 thanh toán giá trị tương ứng cho H bằng tiền.
Phần của T, D2 được hưởng di sản do cụ S cụ T6 để lại, mỗi
người 249,82m
2
trị giá 14.989.200 đồng. Trong quá trình giải quyết, T,
D2 đề nghị giao cho các được sử dụng chung. Xét yêu cầu này hoàn toàn
tự nguyện nên cần chấp nhận. Nvậy, tổng diện tích đất nông nghiệp T,
D2 được chia bao gồm: 2 suất của 2 bà là 499,64m
2
+ 1 suất sử dụng của bà H là
249,82m
2
= 749,46m
2
. Do đó, giao cho T, bà D2 được sử dụng, quản các
thửa đất 233, tờ bản đsố 22, diện tích 339m
2
; thửa đất 1135.3, tờ bản đồ 15,
diện tích 196m
2
; thửa đất 913.2, tờ bản đồ số 16, diện tích 140,6m
2
và Thửa 914,
tờ bản đồ số 16, diện tích 80,3m
2
. Tổng cộng 755,9m
2
(sử dụng chênh lệch
tăng so với phần được hưởng là 6,44m
2
).
Phần của bà D, chị H3, chị H2, chị H1 được giao theo nhân khẩu
499,64m
2
x 3 + 48m
2
của chị H1 = 1546,92m
2
D được hưởng di sản
249,82m
2
. Tổng diện tích được giao và được hưởng là 1796,74m
2
và giao cho bà
18
D quản lý, sử dụng các diện tích đất nông nghiệp gồm: Thửa 73.66, tờ bản đồ số
15, diện tích 360m
2
(thửa đất đã bị thu hồi toàn bộ diện tích vào tháng 12/2025);
thửa 498.1, tbản đồ số 16, diện tích 94,5m
2
; Thửa đất s262, tbản đồ số 22,
diện tích 264,8m
2
; Thửa đất số 1143, tbản đồ số 15, diện tích 73m
2
; Thửa đất
số 1144, tờ bản đsố 15, diện tích 73,1m
2
; Thửa đất số 272, tờ bản đồ số 21,
diện tích 264m
2
; Thửa đất số 940, tờ bản đồ số 22, diện tích 280,9m
2
; Thửa đất
số 216, tờ bản đồ số 22, diện tích 284m
2
; thửa 941, tbản đồ số 22, diện tích
96m
2
. Tổng diện ch D được giao được hưởng 1790,3m
2
(sử dụng
chênh lệch giảm so với phần được giao và được hưởng là 6,44m
2
).
T D2 được giao sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp lớn hơn
phần diện tích được hưởng 6,44m
2
(sử dụng vào phần diện tích của bà D). Do
vậy, T, D2 trách nhiệm thanh toán chênh lệch diện tích bằng tiền cho
D 6,44m
2
x 60.000đ/1m
2
= 386.400đ (kỷ phần của mỗi người phải thanh
toán cho bà D 193.200đ).
- Đối với phần di sản của cụ T6, cụ S là số tiền được Nhà nước bồi thường
do thu hồi tại thửa đất nông nghiệp số 640.1, tờ bản đồ số 15; thửa đất số 498.1,
tờ bản đồ số 16 (diện tích thu hổi 265,5m
2
) D người nhận tiền bồi
thường và bà T, bà D2, bà H tự nguyện để lại cho bà D được quyền sử dụng toàn
bộ phần di sản đó nên cần chấp nhận; thửa đất s981.1 được ghi trong Giấy
CNQSD đất nhưng thực tế thì không đất các đương sự không yêu cầu nên
cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp.
- Đối với giếng đào trị giá 10.509.188đ: Tại phiên toà thẩm, các đương
sự đều xác nhận giếng do cụ T6 cụ S để lại đều thống nhất: nếu trường
hợp bà T, D2, H sử dụng giếng thì sthanh toán cho D giá trị ½ chiếc
giếng ngược lại D sử dụng giếng thì sthanh toán cho T, D2, H
giá trị ½ chiếc giếng. Xét, thoả thuận của các bên hoàn toàn tự nguyện nên
cần chấp nhận.
- Đối với các tài sản trên thửa đất 1146, tờ bản đồ số 15, các đương sự đều
xác định là tài sản do D xây dựng. Khi D xây dựng, không ai ý kiến
phản đối hoặc đơn tkhiếu nại, đề nghị tạm dừng. Do vậy, khi chia di sản
của các cụ để lại là đất mà người thừa kế nào được hưởng phần đất có các tài sản
trên đất của D thì cần phải trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản cho
D là phù hợp.
- Đối với cây cối lâm lộc trên đất của các cụ để lại: Các đương sự đều
thống nhất không yêu cầu chia, sau này ai được hưởng phần đất cây cối lâm
lộc thì trách nhiệm tự thu hoạch. Xét các yêu cầu này của các bên hoàn
toàn tự nguyện nên cần chấp nhận.
Như vậy, bà T, D2, H được quản lý, sdụng thửa đất s1142.1 tờ
bản đồ 15 diện tích 265,8m
2
(đất trồng cây lâu năm); 628,55m
2
(trong đó
100m
2
đất thổ cư, 528,55m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 1146 tờ
bản đồ 15 các tài sản trên đất gồm: 12,63m tường rào xây gạch xi trị giá
3.725.850đ; 23,05m tường rào xây gạch chỉ gắn lưới B40 trị giá 8.067.500đ; bể
nước trị giá 1.000.000đ; giếng trị giá 10.509.188đ; nhà vệ sinh trị giá
19
1.100.000đ; 41.17m tường rào xây gạch xi giáp đất nhà ông Nguyễn Văn T8 trị
giá 12.145.000đ; sân gạch 10,8m
2
trị giá 864.000đ, 2,3m
2
lán tôn trị giá
230.000đ. Tổng giá trị công trình trên đất 37.641.538đ. T, D2, bà H phải
thanh toán gtrị tài sản trên đất cho bà D 37.641.538đ ½ x 10.509.188đ =
32.386.944đ. Kỷ phần của mỗi bà phải thanh toán chênh lệch tài sản cho bà D là
32.386.944đ/3 = 10.795.648đ.
Tại phiên tòa, bà T đồng ý thanh toán toàn bộ giá trị còn lại của lán tôn
cho D vì khi chia 2,3m
2
mái tôn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn blán tôn, việc
tự nguyện của T phù hợp với quy định, T sẽ phải thanh toán thêm cho
bà D 1.770.000đồng (2.000.000đ – 230.000đ) giá trị lán tôn còn lại.
T phải thanh toán chênh lệch cho D số tiền là: 10.795.648đ -
5.472.000đ - 193.200đ + 1.770.000đ = 6.900.000đ (Làm tròn).
D2 phải thanh toán chênh lệch cho D số tiền là: 10.795.648đ -
5.472.000đ - 193.200đ = 5.130.000đ (Làm tròn).
H phải thanh toán chênh lệch cho D số tiền là: 10.795.648đ -
5.472.000đ = 5.323.000đ (làm tròn).
T, D2 mỗi bà phải thanh toán chênh lệch tài sản cho H là:
14.989.200đ/2 = 7.494.600đ.
[5.3.5]. Đối với việc xây dựng nhà xưởng của anh Nguyễn Mạnh Chí T5
trên các thửa đất nông nghiệp 1143, 1144, 914 913.2 do anh mượn đất của
D để tý xây dựng, anh sẽ tự nguyện tháo dỡ nếu ai yêu cầu. Quá trình
giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu giải quyết đối với các công trình
anh T5 đã xây dựng nên cấp thẩm không xem xét giải quyết phù hợp,
sau này các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ việc khác. Tuy
nhiên, việc xây dựng nhà xưởng trên đất sản xuất nông nghiệp việc sử dụng
đất trái mục đích cấp thẩm kiến nghị UBND xã S ra Quyết định xử hành
chính đối với hành vi xây dựng trái phép trên đất sản xuất nông nghiệp chưa
đủ căn cứ trong hchưa đtài liệu để ra Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với anh T5. Trong trường hợp này chỉ cần kiến nghị UBND xã S
xem xét xử theo quy định của pháp luật đối với hành vi trên. Cấp phúc thẩm
sẽ điều chỉnh lại kiến nghị này cho phù hợp.
[6]. Trong phần quyết định của bản án thẩm nội dung xác nhận thời
gian chết, xác nhận di sản của hai cụ, xác định hàng thừa kế của cụ S, cụ T6;
công nhận việc tự nguyện cho phần di sản của các bên; xác nhận các đương sự
không yêu cầu chia tài sản trên đất cây cối lâm lộc... Đây những nội dung
đã được nhận định trong phần nhận định của Tòa án, không cần thiết phải quyết
định trong quyết định của bản án. vậy, cấp phúc thẩm sẽ điều chỉnh lại cách
tuyên cho phù hợp.
[7]. Về chi phí tố tụng: Số tiền xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài
sản 37.000.000đ, T đã tạm ứng. Do vậy, Buộc D, D2, H phải
thanh toán trả bà T số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá
i sản T đã nộp tạm ứng tương ứng với phần diện tích được chia (trừ
20
phần T phải chịu), cụ thể nsau: Buộc D2, H, mỗi người phải thanh
toán trả T số tiền 6.512.000đ; D phải thanh toán trả bà T số tiền
17.464.000đ.
[8]. Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan D2, H nên đề nghị của Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa căn cứ được chấp nhận,
Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo phân tích ở trên.
[9]. Không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm theo quy định, do D người cao tuổi đơn xin miễn án
phí dân sự phúc thẩm nên D không phải chịu; các đương sự khác không phải
chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là bị đơn;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D2, bà Nguyễn Thị H.
Sửa Bản án dân sự thẩm 11/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ.
Căn cứ vào các Điều 612, 613, 649, 650, 651, 660, 357 Bộ luật dân sự
năm 2015; Điều 34, 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 31
Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số 01314 QSDĐ/567
QĐUB ngày 13/12/2000 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị D.
- Chia cho Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị H,
được quản lý, sử dụng 628,55m
2
đất (trong đó 100m
2
đất thổ cư; 528,55m
2
đất
trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 1146 tờ bản đồ 15 các tài sản trên đất,
địa chỉ: thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ, thửa đất được giới hạn bởi các điểm 1A-1B-
11A-12-13-14-15-16-1-1A thửa đất số 1142.1 t bản đồ số 15 diện tích
265,8m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ, thửa đất
được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-20-21-1 và các điểm từ 38 đến 46.
- Chia cho Nguyễn Thị D được quản lý, sử dụng 628,55m
2
đất (trong
đó 100m
2
đất thổ cư; 528,55m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 1146 tờ
bản đồ 15 các tài sản trên đất, địa chỉ: thôn H, S, tỉnh Phú Thọ, thửa đất
được giới hạn bởi các điểm 1A-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-11A-1B-A thửa đất
thửa số 205, tờ bản đồ số 22, diện tích 200m
2
đất trồng cây lâu năm cùng tài sản
21
trên đất, địa chỉ: thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ, thửa đất được giới hạn bởi các điểm
37-38-39-40-41-42-43-45-60-37.
(Có sơ đồ kèm theo).
- Về đất nông nghiệp:
+ Chia cho bà T, bà D2 được quản lý, sử dụng: Thửa đất 233, tờ bản đồ số
22, diện tích 339m
2
; thửa 913.2, tờ bản đồ số 16, diện tích 140,6m
2
; thửa 914, tờ
bản đồ số 16, diện tích 80,3m
2
; thửa 1135.3, tờ bản đồ số 15 diện tích 196m
2
.
+ Chia cho D quản lý, sử dụng: Thửa đất số 498.1, tờ bản đồ số 16,
diện tích 94,5m
2
; Thửa đất số 262, tờ bản đồ số 22, diện tích 264,8m
2
; Thửa đt
số 1143, tờ bản đồ số 15, diện tích 73m
2
; Thửa đất số 1144, tờ bản đsố 15,
diện tích 73,1m
2
; Thửa đất số 272, tờ bản đồ số 21, diện tích 264m
2
; Thửa đất số
940, tbản đồ số 22, diện tích 280,9m
2
; Thửa đất số 216, tờ bản đsố 22, diện
tích 284m
2
; thửa 941, tờ bản đồ số 22, diện tích 96m
2
.
(Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc bà T phải thanh toán chênh lệch cho bà D: 6.900.000đ.
Buộc bà D2 phải thanh toán chênh lệch cho bà D: 5.130.000đ;
Buộc bà H phải thanh toán chênh lệch cho D: 5.323.000đ.
Buộc bà T, D2 mỗi bà phải thanh toán chênh lệch cho bà H là:
7.494.600đ.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà D2, bà H, mỗi người phải thanh toán trả bà
T số tiền 6.512.000đ; bà D phải thanh toán trả bà T số tiền là 17.464.000đ.
3. Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án đơn yêu cầu thi hành án
số tiền nêu trên, người phi thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải
trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh
toán.
4. Các đương sự quyền, nghĩa vụ liên hệ với quan Nhà nước
thẩm quyền, thực hiện các quyền nghĩa vụ của người sử dụng đất, để được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5. Kiến nghị UBND S, tỉnh Phú Thọ xem xét xử theo quy định của
pháp luật đối với hành vi vi phạm về sử dụng đất của anh Nguyễn Mạnh Chí T5
trên các thửa đất nông nghiệp 1143, 1144 tờ bản đồ 15 914, 913.2 tờ bản đồ
16.
6. Về án phí: Các đương sự được miễn án phí dân sthẩm án phí
dân sự phúc thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân s quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
22
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 11 - Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 11 - Phú Thọ);
- UBND xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, VP.NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 236/2026/DS-PT Bản án số 236/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 236/2026/DS-PT Bản án số 236/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất