Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 222/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 222/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 222/2026/DS-PT
Ngày 20 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp ranh giới là quyền sử
dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và bà Phạm Thị Thúy Mai
- Thư phiên toà: Đào Thị Thanh Huyền - Thư Toà án nhân n
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 52/2026/TLPT-DS
ngày 10 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số: 57/2026/DS-ST ngày 30/12/2025 Thông báo
sửa chữa, bổ sung bản án số 01/2026 ngày 12/01/2026, số 04/2026/TB-TA ngày
15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ b kháng cáo. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 130/2026/QĐ-PT ngày 05/5/2026
của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thủy N, sinh năm 1990; số căn cước công
dân: ************;
Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thủy N: Ông Nguyễn Sơn D,
sinh năm 1962; scăn cước công dân: ************ người đại diện theo
ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/11/2023) (có mặt);
Đều trú tại: Thôn X, xã T, tỉnh Phú Thọ;
2. Bị đơn: Phạm Thị Bích H, sinh năm 1969; số căn cước công dân:
************;
Người đại diện hợp pháp của Phạm Thị Bích H: Ông Đỗ Đình Đ, sinh
năm 1966; số căn cước công dân: ************ người đại diện theo ủy
quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/11/2025) (có mặt);
Đều trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Phú Thọ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Ông Đỗ Đình Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, T, tỉnh Phú Thọ
(có mặt);
3.2. Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn L, T, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt);
3.3. Thị Bảo N1, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Đ, T, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt);
3.4. Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn X, T, tỉnh Phú
Thọ; số căn cước công dân: ************;
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị L: Ông Nguyễn Thiệu V,
sinh năm 1952; số căn cước công dân: ************; địa chỉ: Thôn V, L,
tỉnh Phú Thọ - người đại diện theo y quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày
18/11/2025) (có mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Sơn D là người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn; ông Đỗ Đình Đ người đại diện hợp pháp của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2024 các lời khai tiếp theo,
nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Năm 2016, chị
N được bố mẹ đẻ tặng cho thửa đất số 50, tờ bản đồ số 34; diện tích 99,75m
2
địa
chỉ thửa đất Cửa Đền, thôn M, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn M, xã
T, tỉnh Phú Thọ) với chiều rộng 5,7m; chiều dài 17,5m. Năm 2023, chị N có nhu
cầu làm nhà nên đã yêu cầu địa chính xã đến đo đạc cắm mốc giới thì phát hiện
thửa đất của chị N bị thiếu khoảng 7,85m
2
, do gia đình Phạm Thị Bích H lấn
sang 0,7m phía mặt tiền phía sau lấn 0,11m. Hiện tại đất của gia đình chị N
chỉ còn lại khoảng 92,66m
2
. Nay chị N đnghị Tòa án buộc H trả lại phần
diện tích đất đã lấn chiếm theo đo đạc hiện trạng là 7,85m
2
. Trường hợp gia đình
bà H không trả được bằng đất thì chị N nhất trí nhận giá trị bằng tiền theo giá thị
trường là 30.000.000 đồng/1m
2
.
Bị đơn Phạm Thị Bích H, người đại diện hợp pháp của H
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Đình Đ nhất trình bày: Năm
2004, nhà nước chủ trương cắt đất giãn dân, gia đình ông N2, được nhà nước
giao 01 thửa đất số 1052, tờ bản đồ s10 khu V, thôn M, X, huyện L đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) đứng tên
ông Phạm Văn N2. Thời điểm đó có 06 hộ gia đình được nhà nước giao đất gồm
hộ bà N1, hộ ông P, hộ ông N2, hộ ông D, hộ ông V, hộ ông G. Về diện tích
được giao của cả 06 hộ ban đầu đều 100m
2
, chiều rộng 5m; chiều dài 20m;
phía sau các thửa đất hành lang điện, khi các hộ được giao đất thì hành lang
điện đã có từ trước đó rồi. Sau khi đo đạc lại thì thấy một phần diện tích đất của
các hộ vào hành lang điện nên Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) đã
điều chỉnh lại diện tích đất của 06 hộ nêu trên 5,7m chiều rộng, 17,5m chiều
dài đến năm 2007 thộ ông N2 được cấp GCNQSDĐ (ngày 28/12/2007).
Năm 2008, ông N2 đã chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho H, ông Đ. Năm
2014, ông Đ H làm nhà trên đất và mời chính quyền địa phương ra cắm
3
mốc giới để xây dựng. Hộ ông Đ xây dựng đúng theo diện tích được cấp trong
GCNQSDĐ và theo ranh giới, mốc giới địa chính xác định.
Nay chị N đề nghị gia đình H, ông Đ trả lại cho chị N 7,85m
2
gia
đình H, ông Đ lấn chiếm. Quan điểm của bà H, ông Đ không đồng ý, đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với việc gia đình ông P lấn sang đất của gia đình H, ông Đ thì
gia đình sẽ tgiải quyết với gia đình ông P, trường hợp không giải quyết được
thì sẽ khởi kiện giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng P trình bày:
Năm 2004, nhà nước chủ trương cắt đất giãn dân, gia đình ông P được nhà
nước giao 01 thửa đất khu vực C, thôn M, X, huyện L đã được cấp
GCNQSDĐ đứng tên cụ Phan Thị N3 (mẹ ông P). Thửa đất của gia đình ông P
nằm ở ô số 2 giáp đất nhà N1 số 1) đất ông Đô H1 số 3). Năm 2010
thì ông P làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ đứng tên Nguyễn Hồng P. Khi nhà
nước giao đất gia đình ông được giao 5m mặt tiền chiều rộng, chiều dài 15m,
cách hành lang điện 5m, tổng chiều dài thì gia đình ông P được giao 20m nhưng
20m không liền nhau mà cách hành lang điện 5m, phía sau hành lang điện rồi
mới đến 5m đất ông P được giao. Thời điểm giao đất T chủ tịch UBND xã
anh H2 cán bộ địa chính đến giao đất cho ông P, không biên bản giao đất,
ra thực địa cắm mốc giới. Thời điểm được giao đất chiều dài 15m thì đường
điện cao thế không nằm trên đất nhà ông P. Đến cuối năm 2007 nhà nước thu lại
GCNQSDĐ để điều chỉnh lại quy hoạch giao đất 5,7m chiều rộng, chiều dài
17,5m. Đến năm 2008 ông P làm nhà và đề nghị chính quyền địa phương ra cắm
mốc giới thì xác định được diện tích đảm bảo làm nchỉ được 15m chiều dài,
nếu làm đủ 17m thì vi phạm hành lang điện (dưới gầm đường điện). Do đó gia
đình ông P làm nhà với chiều dài 16m (vẫn vi phạm hành lang điện 1m) yêu
cầu chính quyền địa phương giao đủ diện tích 100m bằng cách mở rộng chiều
rộng = 5,95m.
Diện tích hiện trạng gia đình ông P đang sử dụng 5,9m chiều rộng,
chiều dài là 16m. Trong GCNQSDĐ gia đình ông P được cấp lại năm 2010 diện
tích chiều rộng là 5,7m, chiều dài là 17m, tổng diện tích là 96,9m
2
. Khi được cấp
GCNQSDĐ nvậy về tổng diện tích thì ông P không ý kiến, ông P chỉ ý
kiến bằng miệng lên bà T chủ tịch anh H2 địa chính về việc chiều rộng bị
thiếu so với thực tế được giao. Anh H2 trả lời hiện tại điều chỉnh theo quy hoạch
đã làm GCNQSDĐ theo quy hoạch nên không điều chỉnh được đ diện tích
chiều rộng cho gia đình ông P được nói sẽ di chuyển cột điện nên hộ gia
đình ông P vẫn sẽ sử dụng phần diện tích đúng thực tế được giao, do đó ông P
không ý kiến nữa. Khi gia đình ông P làm nhà, Chi nhánh điện Lập Thạch
ra làm việc lập biên bản yêu cầu gia đình ông P dừng xây dựng, ông P yêu
cầu chủ tịch UBND (bà Trần Thị T) ra cam kết với ngành điện về việc vi
phạm hành lang điện, bà T ký. Sau đó năm 2013, Chi nhánh điện đã làm thủ
tục chuyển cột điện ra phần đất trống phía sau đất của các hộ dân, hiện nay
đường điện cao thế không ảnh hưởng đến đất của các hộ dân.
4
Nay chị N khởi kiện yêu cầu H1, ông Đ trả lại phần diện tích đất
chị N cho rằng ông Đ, bà H1 đã lấn chiếm, quan điểm của ông P đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị Bảo N1 trình bày: Năm
2004, gia đình N1 được Nhà nước giao 01 thửa đất tại khu vực C, thửa đất bà
được giao giáp thửa đất của gia đình ông P. Năm 2020, làm ngôi nhà cấp 4
trên đất, thời điểm bà xây dựng nhà thì gia đình ông P gia đình H1 đã xây
dựng nhà trên đất. Khi được nhà nước giao đất thì phía sau các thửa đất đã
hành lang điện, vướng vào hành lang điện nên UBND X đã điều chỉnh
lại, sau khi điều chỉnh lại tdiện tích đất của gia đình N1 được cấp giấy
100m
2
, trong đó 5,7m chiều rộng và 17,5m chiều dài, nhưng thực tế thì diện tích
cụ thể chỉ 99,75m
2
, gia đình N1 cũng nhất trí với phần diện tích đất
99,75m
2
sử dụng từ đó đến nay không ý kiến gì. Năm 2007 gia đình N1
được cấp GCNQSDĐ nhưng đến năm 2008 mới được nhận GCNQSDĐ. N1
khẳng định gia đình xây nhà năm 2020, xây sau gia đình ông P và bà H1, gia
đình bà không lấn chiếm đất của ai. Nay chị N khởi kiện yêu cầu H1, ông Đ
trả lại phần diện tích đất mà chị N cho rằng ông Đ, bà H1 đã lấn chiếm đất, quan
điểm của N1 là không lấn chiếm đất của chị N, đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L (đại diện theo ủy
quyền của L ông V) thống nhất trình bày: Năm 2008, L được giao đất
theo quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 28/12/2008, theo đó L được giao
100m
2
đất tại thửa đất số 1054 (lô quy hoạch số 15), tờ bản đồ số 10 khu vực
C, xã X và được cấp GCNQSDĐ theo quy định; thời điểm đó bà L được giao đất
theo tiêu chuẩn con Liệt sỹ, L không chồng con. L được giao diện tích
đất giáp đất hiện chị N đang quản lý, khi L được giao đất giao trực tiếp
trên thực địa, ông V người trực tiếp nhận cho bà L, quá trình sử dụng đất giữa
gia đình bà L với chị N không có tranh chấp gì, diện tích bà L được giao như thế
nào thì hiện gia đình bà L vẫn sử dụng như vậy, ông V không đề nghị gì khác.
Người m chứng Trần Thị T trình bày: Bà T Chủ tịch UBND X
cũ từ năm 2003 đến năm 2008 thì bà chuyển công tác. Trong thời gian bà là Chủ
tịch thì UBND xã rất nhiều lần thực hiện chủ trương của nhà nước cấp đất ở cho
người dân trong đó có khu vực C, thôn M, xã X gồm có các hộ bà N1, ông P,
C (mchị N), ông G, L, ông N2 (ông N2 chuyển nhượng cho H1 ông Đ).
Thời điểm cấp đất năm 2004 là cấp đồng loạt cho các hộ, mỗi hộ là 100m
2
trong
đó chiều rộng 5m, chiều dài 20m. m 2007 nhà nước điều chỉnh lại quy
hoạch và giao đất cho các hộ dân, diện tích cụ thể bao nhiêu T không nhớ, do
cán bộ chuyên môn địa chính thực hiện. Đến khoảng tháng 11/2008 T
chuyển công tác lên Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện L, các thủ tục cấp đất, điều
chỉnh đất từ thời điểm đó bà không nắm được.
Người làm chứng anh Mạnh H2 trình bày: Khu vực đất các hộ N1,
ông P, H1, C đất được nhà nước giao thu tiền sử dụng đất. Thời
điểm giao vào khoảng năm 2006, khi đó anh H2 chưa vcông tác tại UBND xã
X. Năm 2008, anh H2 về làm cán bộ địa chính tại xã X. Khi về làm tại UBND
5
xã, sau khi kiểm tra đất tại khu vực C thì thấy đất của các hộ được giao
vướng vào hành lang đường điện phía sau vậy UBND X thống nhất
cùng các hộ lập hồ điều chỉnh quy hoạch đất của các hộ từ dài 20m, rộng
5m thành dài 17,5m, rộng 5,7m. Sau khi điều chỉnh quy hoạch được phê duyệt,
UBND xã X có tổ chức giao đất tại thực địa cho các hộ và đề nghị UBND huyện
L cấp GCNQSDĐ cho các hộ. Sau khi các hộ được giao đất, khi xây dựng nhà
không làm đơn lên UBND để xác định lại mốc giới tại thực địa, vậy việc
các hộ tự ý xây dựng anh H2 không nắm rõ.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 57/2025/DS-ST ngày
30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn c Điều 164, 166, 175 B lut dân s năm 2015; Khoản 9 Điều 26;
Điu 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều
227; Điều 228 B lut t tng dân sự; Điều 26, 31, 236 Luật đất đai năm 2024
và Ngh Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thủy N.
Buộc Phạm Thị Bích H, ông Đỗ Đình Đ phải thanh toán cho chị
Nguyễn Thủy N số tiền 117.750.000 đồng (Một trăm ời bảy triệu bảy trăm
năm mươi nghìn đồng).
Phạm Thị Bích H, ông Đỗ Đình Đ được quyền sdụng phần đất
diện tích 7,85m
2
được giới hạn bởi các điểm (31, 32, 33, 35, 36, 31) (kèm theo
sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất theo quyết định của Tòa án).
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét
thẩm định định giá tài sản 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) (xác nhận
đã chi phí xong).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền yêu cầu thi hành án
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/01/2026, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo đề
nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn phải bồi thường
số tiền 235.500.000đồng là giá trị quyền sử dụng đất bị đơn đã lấn chiếm và
buộc bị đơn phải chịu chi phí thẩm định và định giá tài sản.
Ngày 12/01/2026, đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo đề nghị
cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm.
Quá trình xét xử phúc thẩm tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị đơn giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án phúc thẩm đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ,
quyết định đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ cho Viện kiểm sát tiến hành
giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Hủy Bản án dân sự thẩm 57/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 11 - PThọ giao hồ cho cấp thẩm giải quyết lại vụ án
theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm
sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nằm trong
thời hạn luật định. Việc thụ kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên được
xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn kiện đòi bị đơn trả diện tích đất là
7,85m
2
của thửa đất số 50 tờ bản đồ số 34 tiếp giáp với thửa đất của bị đơn thửa
đất số 1052 tờ bản đồ 10 tại thôn M, T, tỉnh Phú Thọ. vậy, quan hệ tranh
chấp trong vụ án là tranh chấp ranh giới là quyền sử dụng đất.
[3]. Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thủy N kiện đòi bị đơn
là bà Phạm Thị Bích H trả diện tích đất là 7,85m
2
của thửa đất số 50 tờ bản đồ số
34 tiếp giáp với thửa đất của bị đơn thửa đất số 1052 tờ bản đồ 10 tại thôn M,
T, tỉnh Phú Thọ. Trường hợp bị đơn không trả được bằng đất thì nguyên đơn
đồng ý nhận bằng giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường
30.000.000đ/m
2
. Sau khi xét xsơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn kháng cáo. Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[3.1]. Thửa đất số 1050, 1051, 1052, 1053 (nay thửa số 50 tờ bản đồ
34), 1054, 1055 tbản đồ 10 các thửa đất lần lượt tiếp giáp với nhau và
nguồn gốc đều do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất.
Hiện nay, thửa đất số 1050, 1051, 1052, 1055 tờ bản đồ số 10 đã được các
hộ gia đình xây dựng các công trình trên các thửa đất trên, còn thửa đất số 1054,
1053 (nay là thửa số 50 tờ bản đồ 34) chưa xây dựng công trình trên đất.
Ngày 23/4/2007, UBND huyện L (cũ) đã giao đất cho 06 hộ gia đình đối
với 06 thửa đất nêu trên và đã được UBND xã X (cũ) tiến hành lập biên bản giao
đất cho các hộ. Các thửa đất được giao đều diện tích 100m
2
, chiều rộng
mặt đường 5m, chiều dài thửa đất 20m. Tuy nhiên, tại ttrình về việc điều
chỉnh thiết kế mặt bằng khu vực giao đất tại X số 43/TTr-UBND ngày
04/11/2007 được UBND huyện L ban hành Quyết định số 2190/QĐ-UBND
ngày 21/11/2007 về việc điều chỉnh thiết kế mặt bằng khu vực giao đất tại
X đối với 06 thửa đất nêu trên (BL 177-179) với chiều rộng mặt đường 5,7m,
chiều dài 17,5m. Tại cấp phúc thẩm tiến hành xác minh thể hiện kèm theo Quyết
định 2190/QĐ-UBND là bản vẽ thiết kế mặt bằng của UBND xã X năm 2007
bản vẽ thiết kế mặt bằng của UBND X các năm 2004, 2006 2007 không
phải một. Đây tình tiết mới mà không thể làm tại cấp phúc thẩm về việc
ngày 23/4/2007, UBND X đã tiến hành giao đất tại thực địa cho 06 hộ gia
đình đối với 06 thửa đất trên (BL 147, 156, 161, 166, 171, 176) nhưng sau khi
điều chỉnh lại quy hoạch theo Quyết định 2190/-UBND thì địa phương đã
7
tiến hành xác định lại mốc giới, giao lại đất trên thực địa cho các hộ gia đình hay
chưa chiều rộng theo mặt đường của các thửa đất được điều chỉnh từ 5m
thành 5,7m. Khi xác định được các nội dung trên thì mới đủ căn cứ để giải
quyết vụ án mà tại cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Vì vậy, cần phải hủy
án sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[3.2]. Khi giải quyết lại vụ án, cấp thẩm cần làm những nội dung
sau: Sau khi UBND điều chỉnh lại quy hoạch thì địa phương đã xác định lại mốc
giới, giao lại đất trên thực địa cho các hộ gia đình chưa? Các thửa đất trên đều
được Nhà nước giao đất thu tiền nên địa phương cần phải xác định mốc
giới trên thực tế theo Quyết định 2190/QĐ-UBND. Trường hợp các hộ gia đình
chưa được giao đất trên thực tế hoặc đã được giao nhưng không giao đủ diện
tích theo quyết định giao đất thì có thể hướng dẫn các hộ gia đình trên để họ yêu
cầu giải quyết bằng một vụ việc khác đối với UBND về việc giao đất không đủ
diện tích, xác định mốc giới đối với các thửa đất hoặc yêu cầu bồi thường... Khi
kết quả giải quyết của các hộ gia đình trên với UBND thì mới căn cứ để
giải quyết vụ án này. Ngoài ra, cần đưa hộ gia đình ông Phạm Thanh G vào
tham gia ttụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án.
[4]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm
nên đnghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh PThọ tại phiên tòa căn c
được chấp nhận.
Do hủy án thẩm nên cấp phúc thẩm chưa xem xét đến các nội dung
kháng cáo khác của các đương sự.
[5]. Do hủy án thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Toà án;
[1]. Hủy Bản án dân sự thẩm s57/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ. Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân
khu vực 11 - Phú Thọ giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
[2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp. Hoàn trả lại
ông Đỗ Đình Đ, chị Nguyễn Thủy N mỗi người 300.000đồng tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu tương ứng số 0000332 ngày 15/01/2026, số 0000273
ngày 13/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 11 - Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 11 - Phú Thọ);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất