Bản án số 675/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 675/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 675/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 675/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Theo hồ sơ vụ án thể hiện, khu vực có đất tranh chấp, các phần đất có thứ tự tiếp giáp như sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 675/2026/DS-PT Bản án số 675/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 675/2026/DS-PT Bản án số 675/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 675/2026/DS-PT
Ngày 08 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Vũ Thị Thu ;
Ông Nguyễn Văn Nhân.
- Thư phiên tòa: Trần Phương Thảo - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 265/2026/TLPT-DS ngày 06
tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự thẩm số: 02/2026/DS-ST ngày 12-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai có kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 435/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1965; Căn cước công dân số:
***********X; địa chỉ: Số C, Khu phố A, phường T, thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày
02/02/2026): Hải Thị L, sinh năm 1987; Căn cước công dân số:
***********X; nơi thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ; địa chỉ liên
hệ: Số A, đường T, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa.
2
- Bị đơn: Thị Hồng L1, sinh năm 1967; Căn cước công dân số:
***********X; nơi đăng ký thường trú: Tổ F, Khu phố A, phường T, thành phố
Đ, nơi cư trú: Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị Hồng L1 (văn bản ủy
quyền ngày 15/5/2026): Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 2000; Căn cước số:
***********X; nơi làm việc: Công ty L5 - Chi nhánh Đ1; địa chỉ: Số B, đường
N, Khu phố C, phường T, thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Thị Hồng L1:
Ông Phạm Quốc V, Thẻ LS: 13846/LS, Luật thuộc Đoàn Luật tỉnh L; nơi
làm việc: Công ty L5 - Chi nhánh Đ1; địa chỉ: Số B, đường N, Khu phố C, phường
T, thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn Thị T, sinh năm 1962; Căn cước công dân số: ***********X;
địa chỉ: Số C, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa;
2. Ông Văn S, sinh năm 1949; Căn cước công dân số: ***********X;
địa chỉ: Tổ C, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; vắng mặt tại phiên tòa;
3. Ông Quang T1, sinh năm 1956; Căn cước công dân số:
***********X; địa chỉ: Số A, Khu phố A, phường L, thành phố Đ; vắng mặt tại
phiên tòa;
4. Ông Văn M, sinh năm 1959; Căn cước công dân số: ***********X;
nơi đăng thường trú: Số H, Khu phố E, phường T, thành phố Đ, địa chỉ liên hệ:
Đường số A, ấp S, xã B, thành phố Đ; vắng mặt tại phiên tòa;
5. Ông Lê Văn L2, sinh năm 1964; Căn cước công dân số: ***********X;
địa chỉ: Tổ C, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa;
6. Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1973; Căn cước công dân số: ***********X;
7. Anh Thanh T2, sinh năm 1984; Căn cước công dân số:
***********X;
Cùng địa chỉ: Tổ B, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; đề nghị vắng mặt
tại phiên tòa.
8. Chị Thị Thanh T3, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố A, phường T,
thành phố Đ; đề nghị vắng mặt tại phiên tòa;
3
9. Chị Thùy T4, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, Khu phố C, phường T,
thành phố Đ; đề nghị vắng mặt tại phiên tòa;
10. Bà Vi Thị L3, sinh năm 1964;
11. Anh Lê Hữu P, sinh năm 1995;
12. Bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1951 (đã chết);
Người kế thừa quyền nghĩa vụ của Nguyễn Thị L4: Ông Lê Văn S,
sinh năm 1949 và anh Lê Huy H1, sinh năm 1977.
13. Anh Lê Huy H1, sinh năm 1977;
14. Chị Trần Thị Hồng H2, sinh năm 1981;
15. Cháu Lê Trần Ngọc C, sinh năm 2012;
16. Cháu Lê Trần Ngọc B, sinh năm 2018;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Ngọc C, cháu Trần
Ngọc B: Anh Huy H1, sinh năm 1977 chị Trần Thị Hồng H2, sinh năm
1981 (cha mẹ ruột của các cháu);
Cùng địa chỉ: Tổ C, Khu phố A, phường T, thành phố Đ; vắng mặt tại phiên
tòa.
- Người kháng cáo:Lê Thị Hồng L1 - bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn ông Đoàn Văn H có yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngày 21/7/2017, ông nhận chuyển nhượng thửa đất số 738, tờ bản đồ số
29, S, huyện T, tỉnh Đ, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(sau đây, viết tắt giấy chứng nhận) cho chị Lê Thùy T4 và anh Tiến D1. Sau
đó, ông làm thủ tục và đã được cấp giấy chứng nhận.
Cho đến nay, gia đình ông và bên chuyển nhượng đều thống nhất ranh giới,
có xác định cột mốc với nhau (phần ranh trước và sau đều có cột sắt chữ V đã có
sẵn từ trước, lúc sang nhượng, cả hai bên xác định đây cột mốc giáp ranh). Thời
gian gần đây, gia đình ông phát hiện có sự dời đổi cột mốc phía giáp ranh đất hộ
ông C1, ông có liên hệ với các con ông C1 là bà Lê Thị Hồng L1, ông
Văn L2, ông Lê Văn S, ông Quang T1 và ông Văn M nhưng không ai đồng
ý trả lại đất cho ông.
Ông khởi kiện yêu cầu bà L1, ông L2, ông S, ông M và ông T1 phải trả lại
4
cho ông diện tích đất là 49,8 m
2
thuc mt phn thửa đất s 738, t bản đồ s 29,
xã T (xã S cũ), tỉnh Đồng Nai, được gii hn bởi các điểm (19,20,23,24,19) theo
Trích lục đo vẽ thửa đất s 2915 ngày 08/8/2024 ca Văn phòng Đăng ký đất đai
tỉnh Đ - Chi nhánh T7.
2. Bị đơn bà Lê Thị Hồng L1 trình bày:
Thửa đất số 28, 19, tờ bản đồ số 501, 299 xã T (xã S cũ), tỉnh Đồng Nai
của cha mẹ bà (cụ ông Lê C1 (Lê Bá C1), sinh năm 1926, chết năm 2015 và cụ bà
Phan Thị H3, sinh năm 1926, chết năm 2012) nhận chuyển nhượng tngười khác;
sau đó, 02 cụ đi đăng khai được cấp giấy chứng nhận, nên xác định
đây đất cha mẹ để lại chưa chia thừa kế chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng
nhận cho ai. Khi chung sng, cha m có 06 người con là: Ông Lê Văn S, sinh
năm 1949, bà Lê Th N, sinh năm 1952 (chết năm 2022), ông Lê Quang T1, sinh
năm 1956, ông Văn M, sinh năm 1959, ông Văn L2, sinh năm 1964
ngưi con th 6 là bà (Lê Th Hng L1).
Đối với thửa đất ông Đoàn Văn H đang quản lý, sử dụng thì có nguồn gốc
từ đất cha mẹ chuyển nhượng cho ông G (ông G đã chết); sau đó, chuyển
nhượng qua nhiều người hiện tại ông H đang quản lý, sử dụng đất. Thửa đất
của cha mẹ thửa đất ông H hàng ranh thẳng từ đầu đến cuối thửa đất (đầu
thửa cuối thửa cọc sắt, giữa hàng cây gai khoảng hơn 30 năm tuổi
nhưng quá trình sử dụng ông H đã phá cây, nên hiện nay không còn (nhưng còn
gốc cháy đen). Hiện trạng 02 thửa đất là đất trống, không cây trồng lâu năm và
nhà cửa.
Đất cha mẹ đất ông H sử dụng hàng ranh cha mẹ cũng không
lấn đất, nên yêu cầu khởi kiện của ông H không đúng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Bà Văn Thị T:
vợ ông Đoàn Văn H thống nhất với trình bày của ông Đoàn Văn
H. Bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
3.2. Ông Lê Văn S:
Ông thống nhất với trình bày của bà Thị Hồng L1. Đối với yêu cầu khởi
kiện của ông H, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào giấy chứng nhận, để giải quyết
theo quy định của pháp luật.
3.3. Ông Lê Quang T1:
5
Cha mẹ ông cụ ông C1 (Lê C1) cụ Phan Thị H3 (02 cụ đã
chết), cha mẹ ông 06 người con là: Ông Văn S, sinh năm 1949, bà Thị
N, sinh năm: 1952 (chết năm 2022), ông Quang T1, sinh năm 1956, ông
Văn M, sinh năm 1959, ông Văn L2, sinh năm 1964 Thị Hồng L1,
sinh năm 1967.
Thửa đất số 299, tờ bản đồ số 29, T của cha mẹ ông đi làm thủ tục
đăng khai và được cấp giấy chứng nhận. Thửa đất này, trước khi cha mẹ
mất chưa chia thừa kế; hiện nay, ông L2 người trực tiếp quản lý, sử dụng giữ
giấy chứng nhận. Vào tháng 9/2007, anh em trong gia đình đã hợp đồng với Công
ty Trách nhiệm hữu hạn H5 được Phòng Tài nguyên Môi trường huyện T
xác nhận, để tách thành 14 thửa đất như hiện nay, nhưng các thửa đất này chưa
ai làm thủ tục để cấp đổi giấy chứng nhận.
Đối với ranh thửa đất thì ông không biết vì ông không trực tiếp quản lý, sử
dụng. Thửa đất hiện nay để trống, chỉ cây cỏ (đất còn nguyên hiện trạng như
lúc cha mẹ ông đang còn sống).
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn H thì ông thống nhất với trình
bày của ông L2, L1, ông S ông M, đề nghị Tòa án giải quyết theo bản đồ
địa chính quốc gia đã cập nhập mới nhất.
3.4. Ông Lê Văn M:
Ông thống nhất với trình bày của bà Lê Thị Hồng L1, không đồng ý trả lại
đất theo yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn H.
3.5. Ông Lê Văn L2:
Ông thống nhất với trình bày của Thị Hồng L1 về nguồn gốc đất;
hiện nay, gia đình ông và gia đình ông S những người đang sinh sống trên thửa
đất số 299, tờ bản đồ số 29, xã S. Nguồn gốc thửa đất số 738 đã cấp giấy chứng
nhận cho ông H được tách từ thửa đất của cha mẹ ông để lại; khi tách thửa, đã
xác định ranh đất với phần diện tích đất còn lại, cụ thể là cọc sắt trước đất, cọc bê
tông sau đất; sau đó, bà L1 đóng thêm cọc sắt phía sau đất; ngoài ra, còn hàng
ranh cây gai nhưng ông H đã đốt cháy hết hàng cây; như vậy, ranh mốc vẫn còn
nguyên. Ông H trước đây tranh chấp có 6,8 m
2
nhưng nay lại tranh chấp 49,8 m
2
đất, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.
3.6. Anh Tuấn A, anh Thanh T2, chị Thị Thanh T3, chị Thùy
T4:
6
Các anh chị con của Thị N, sinh năm: 1952 (chết năm 2022)
ông Khắc T5, sinh năm: 1949 (chết năn 2010), cha mẹ anh chị 04 người con
là anh Lê Tuấn A, sinh năm: 1973, anh Lê Thanh T2, sinh năm: 1984, chị Lê Thị
Thanh T3, sinh năm: 1975, chị Lê Thùy T4, sinh năm: 1982.
Thửa đất số 738, tờ bản đồ số 29, của cha mẹ các anh chị cho chị Thùy
T4; sau đó, chị T4 chuyển nhượng thửa đất này cho ông Đoàn Văn H. Còn thửa
đất số 299, tờ bản đồ số 29, xã T là di sản thừa kế của cụ C1 - bà Phan Thị H3
để lại chưa chia.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì trường hợp có lấn đất các anh chị
đồng ý trả lại theo quy định; các anh chị không có tranh chấp trong vụ án này và
xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
3.7. Anh Lê Huy H1:
Anh không tranh chấp hay có ý kiến gì trong vụ án này, vì thửa số 299, tờ
bản đồ số 29 là di sản thừa kế của cụ Lê C1 - Phan Thị H3 để lại cho cha anh
và các cô chú nên anh không có liên quan.
3.8. Bà Vi Thị L3, anh Lê Hữu P, bà Nguyễn Thị L4 và chị Trần Thị Hồng
H2: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã được Tòa án triệu tập làm việc
nhưng vắng mặt nên không có trình bày trong hồ sơ vụ án.
4. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án dân sthẩm số: 02/2026/DS-ST ngày 12-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn H về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất” với bà Lê Thị Hồng L1.
- Buộc bà Lê Thị Hồng L1, ông Văn S, ông Văn L2, ông Lê Văn M
và ông Lê Quang T1 phải trả lại diện tích đất 49,8m
2
là một phần thuộc thửa đất
số 738, tbản đồ số 29, S (nay là T, tỉnh Đồng Nai) được giới hạn bởi
các điểm (19,20,23,24,19) cho ông Đoàn Văn H, theo Trích lục đo vẽ thửa đất số:
2915 ngày 08/8/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T7.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí
quyền kháng cáo.
5. Kháng cáo:
Bị đơn bà Lê Thị Hồng L1 kháng cáo, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
7
6. Phần phát biểu của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn
Thị Hồng L1 tại phiên tòa phúc thẩm:
Trong hồ vụ án, không bất cứ tài liệu nào chứng minh bị đơn bà
Thị Hồng L1 người “chiếm đất, lấn đất” đối với thửa đất số 738 nguyên đơn
khởi kiện; đồng thời, L1 không phải chủ sử dụng của thửa đất số 299. Nguyên
đơn tự cho rằng bà L1 cùng 04 anh chị em khác đương nhiên là chủ thửa đất 299
được Tòa án chấp nhận; điều này cho thấy đã tước bỏ quyền thừa kế của một
người con khác của cụ C1 (Lê Bá C1) - Phan Thị H3 (bà Thị N, chết năm
2022, chết sau 02 cụ C1 - H4).
Tòa án cấp thẩm căn cứ Trích lục đo vẽ thửa đất số: 2915/2024 ngày
08/8/2024 để xác định bị đơn lấn đất là không phù hợp thực tế; bởi vì, thửa đất
737 và 738 của ông Đoàn Văn H là được tách ra từ 01 thửa đất cũ; mặt tiền cả 02
thửa đã hơn 15 năm, với chiều ngang giáp đường 10m. Thực tế, nếu đo từ
tường nhà ông Từ Đức B1 (thửa 539) ra 10m mới chính xác ranh cố định.
Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đo đạc thực tế thửa đất số 737, nên không có
cơ sở xác định đất nguyên đơn đủ hay thiếu.
Ngoài ra, cấpthẩm buộc bà Lê Thị Hồng L1 phải chịu chi phí tố tụng
không đúng; bởi vì, Tòa án tuyên cả 05 người phải trả lại đất nhưng chỉ có bà L1
phải chịu chi phí này.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án
thẩm để giải quyết lại vụ án.
7. Phần phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
7.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc cấp tống
đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng
cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa thực hiện đúng các quy định
của Bộ lut T tng dân sự, đảm bảo đúng thành phần, tư, khách quan không
có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án
cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại
các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7.2. Quan điểm đối với kháng cáo:
8
Kiểm sát viên đã phát biểu, đánh giá về vụ án; kết luận cấp thẩm giải
quyết là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguồn gốc và sử dụng đất của nguyên đơn:
Thửa đất số 738, tờ bản đồ số 29, S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, thành phố Đ) diện tích 169m
2
, được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận số CC 720009 cho anh Lê Tiến D1 - chLê Thùy T4.
Ngày 21/4/2017, anh Tiến D1 - chị Thùy T4 chuyển nhượng lại trọn thửa
đất này cho ông Đoàn Văn H - Văn Thị T. Ngày 04/5/2017, ông H - bà T được
Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T7 cập nhật biến động sang tên
trên mục IV của giấy chứng nhận. Thửa đất này, chiều ngang trước và sau đều
5m (bút lục 04).
Ngoài ra, thửa đất s737 (giáp ranh thửa số 738 nêu trên), tờ bản đồ s29,
S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ) diện tích
169m
2
, được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận số CC
720008 cho ông Thành D2 - Thị Thanh T3; ông D2 - T3 chuyển
nhượng lại trọn thửa đất này cho ông Đoàn Văn H - Văn Thị T. Ngày
04/5/2017, ông H - bà T được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T7
cập nhật biến động sang tên trên mục IV của giấy chứng nhận. Thửa đất này,
chiều ngang trước và sau đều 5m (bút lục 03).
[2] Nguồn gốc sử dụng đất của bị đơn một số người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan:
Thửa đất số 299, tbản đồ số 29, phường T (xã S cũ), thành phố Đ diện
tích 4.803 m
2
đã được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp Giấy chứng nhận số
S063826 ngày 03/7/2001 đứng tên hộ ông Chất . Theo bản đđịa chính đo
chỉnh lý năm 2017 thửa đất số 299, tờ bản đồ số 29, được tách thành các thửa số
467, 468, 469, 470, 471, 472, 473, 474, 475, 476, 477, 478, 479 và 480 tờ bản đ
số 29, nhưng chưa được cấp đổi giấy chứng nhận. Theo trình bày của bị đơn
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đây là di sản của cụ ông C1 (Lê
C1) và cụ bà Phan Thị H3 để lại, chưa chia thừa kế và chưa làm thủ tục sang tên
giấy chứng nhận cho ai.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
9
Theo hồ sơ vụ án thể hiện, khu vực đất tranh chấp, các phần đất có thứ
tự tiếp giáp như sau: Thửa đất số 539 (theo đương sự trình bày ông Từ Đức B1
đang sử dụng), thửa 737, thửa 738 và thửa 299 nêu trên. Nguyên đơn sử dụng 02
thửa có tổng chiều ngang trước ngang sau 10m; đồng thời, nguyên đơn cũng
cho rằng phần tiếp giáp thửa đất số 539 đúng hiện trạng sử dụng đất (đã xây
nhà kiên cố).
Tại đơn khởi kiện ngày 10-8-2023 (bút lục số 24), nguyên đơn cho rằng khi
nhận chuyển nhượng đất có xác nhận ranh giới, cột mốc với bên chuyển nhượng;
do phát hiện cột mốc bdi dời, nên yêu cầu buộc bị đơn trả lại diện ch 6,8m
2
(chiều dài khoảng 34m, rộng khoảng 10cm phần đầu khoảng 30cm phần đuôi),
thuộc một phần thửa đất số 378.
Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thtục, để đo vhiện trạng. Theo chỉ dẫn
của ông Đoàn Văn H bà Thị Hồng L1, Trích lục Đ vẽ thửa đất bản đồ
địa chính số: 5538/2023 ngày 26/12/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ
- Chi nhánh T7 (bút lục số 103), thể hiện phần đất tranh chấp có diện tích 5,1m
2
.
Nguyên đơn yêu cầu đo vẽ lại, theo chỉ dẫn của ông Đoàn Văn H và ông Lê Văn
L2 (anh ruột bị đơn), Trích lục đo vẽ thửa đất số: 2915/2024 ngày 08/8/2024 của
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T7 (bút lục số 132), thể hiện diện
tích đất tranh chấp 49,8 m
2
.
Trong quá trình giải quyết thẩm, nguyên đơn nhiều lần khởi kiện bổ sung
theo hướng khởi kiện tăng diện tích tranh chấp được Tòa án cấp thẩm thụ
lý; trong đó, có lần sau khi đã tiến hành công khai chứng cứ, hòa giải. Về vấn đề
này, nguyên đơn cho rằng do có kết quả đo vẽ nêu trên (lần 2), nên mới khởi kiện
bổ sung.
[4] Về tình tiết mới tại cấp phúc thẩm và nhận định của Tòa án:
Tại phiên tòa ngày 06-8-2026, thể hiện:
- Bị đơn cung cấp bản tường trình, hình ảnh chụp, bản phác họa viết tay,
cho rằng ông H nhận chuyển nhượng 02 thửa đất, tổng chiều ngang mặt đường là
10m (mỗi thửa 05m); phần giáp thửa đất số 539 (do ông Từ Đức B1 đang sử dụng
và xây tường kiên cố đã lâu) đo ra tới cọc sắt làm ranh vẫn đủ 10m; cho rằng đất
ông H sử dụng là không thiếu.
- Nguyên đơn ông Đoàn Văn H xác nhận việc nhận chuyển nhượng 02 thửa
đất, tổng chiều ngang mặt đường 10m (mỗi thửa 05m); phần giáp thửa đất số
539 (do ông Từ Đức B1 đang sử dụng) là cố định từ lâu và tới cọc sắt hàng rào
10
đủ 10m; tuy nhiên, theo kết quả đo vẽ, nên ông xác định, ông được sử dụng thêm
chiều ngang hơn 01m nữa.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn cung cấp xác nhận của 02 người tên Từ Đức
B1 - Trần Thị Thùy D3 và hình ảnh kèm theo, xác nhận 02 người là chủ sử dụng
đất thửa 539, xác định ranh giới cố định tường nhà, hàng rào đã nhận chuyển
nhượng từ năm 2013.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ của cấp sơ thẩm và các bản ảnh bị đơn nộp
tại cấp phúc thẩm (được nguyên đơn xác nhận), thể hiện thửa 737, thửa 738
phần giáp thửa 299 nêu trên là đất trống, không có ai sinh sống trên các phần đất
này; nguyên đơn cũng xác nhận, từ khi nhận chuyển nhượng 02 thửa đất cho đến
nay, không sử dụng đất (để dành sau này cho con). Các bên đương sự đều xác
định phần ranh giáp thửa đất số 539 cố định, chính xác không thay đổi; do
đó, cần phải được sử dụng làm mốc, để đo hiện trạng. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ
Trích lục đo vẽ thửa đất số: 2915/2024 ngày 08/8/2024, để quyết định phần đất
tranh chấp 49,8 m
2
thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn, có thể sẽ phát sinh vấn
đề nguyên đơn được công nhận diện tích nhiều hơn 02 thửa đất đã nhận chuyển
nhượng nêu trên. Ngoài ra, cũng cần xác định lại chính xác những người thuộc
hàng thừa kế của 02 cụ Lê C1 - Phan Thị H3, để giải quyết triệt để vụ án.
Từ những tình tiết mới nêu trên do đương sự cung cấp, cần phải xác minh,
làm hiện trạng sử dụng đất so với bản đồ địa chính không thể bổ sung tại
phiên tòa phúc thẩm; do đó, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án thẩm
để giải quyết lại; trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.
[5] Án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án; người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Không chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên. Chấp nhận quan điểm
của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
11
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số: 02/2026/DS-ST ngày 12-01-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.
2. Chuyển toàn bộ hồvụ án đến Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai,
để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án nhân dân khu vực 3
- Đồng Nai quyết định khi giải quyết lại vụ án.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả lại Thị Hồng L1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai T6 tạm ứng án phí, lệ pTòa án số: 0002301
ngày 26-01-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai
(kèm hồ sơ vụ án);
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng
Nai;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3;
- Thi hành án dân sự thành phố Đồng Nai;
- Văn phòng Đăng đất đai thành phố
Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân phường Trảng Bom;
- Lưu: Hồ sơ vụ án và Văn phòng (14).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng du)
Nguyễn Văn Thành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 675/2026/DS-PT Bản án số 675/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 675/2026/DS-PT Bản án số 675/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất