Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 34/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, chia sản chung khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 34/2026/HNGĐ-PT
Ngày 18 - 8 - 2026
V/v Ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư phiên toà: Đào Thị Thanh Huyền - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ
- Địa diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh PThọ tham gia phiên toà:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ sở
2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 24/2026/TLPT-HNGĐ ngày 08
tháng 6 năm 2026 về việc Ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn”. Do bản án
hôn nhân và gia đình thẩm số 19/2026/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa
vụ án ra t xử phúc thẩm số 24/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 7 năm 2026, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; số căn cước công
n: ************; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T:
Nguyễn Thị H Trợ giúp viên pháp thuộc Chi nhánh số 1 Trung tâm trợ
giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt);
2. Bị đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; số n cước ng dân:
************; địa chỉ: Thôn A, xã V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
3.2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú
Thọ;
3.3. Ông n Đ, sinh năm 1975 (là chồng bà T1); số căn cước công
dân: ************; địa chỉ: Thôn A, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn L ông Văn Đ:
Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn A, V, tỉnh Phú Thọ - người
2
đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2025 và ngày
01/02/2026) (có mặt).
3.4. Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; số căn cước công dân:
************ (có mặt) ông Thanh S, sinh năm 1970; số căn cước công
dân: ************;
Người đại diện hợp pháp của ông Thanh S: Nguyễn Thị C, sinh
năm 1974 người đại diện theo y quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày
01/02/2006) (có mặt);
Đếu trú tại: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ;
3.5. Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1993 (con trai ông T, N); Nơi
đăng ký cư trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ; Hiện đang lao động tại Nhật Bản.
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T2: Nguyễn Thị N,
sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ (Ủy quyền khi N gọi điện
thoại trực tiếp cho anh T2 bằng Video trực tiếp tại phiên hòa giải của Tòa án,
tại phiên tòa ngày 05/3/2026 và phiên tòa phúc thẩm anh T2 N tiếp tục đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc ủy quyền, nhận ủy quyền) (có mặt).
3.6. Ông Thế T3, sinh năm 1984; số căn cước ng dân:
************ (có mặt) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986; số căn cước công
dân: ************ (vợ ông T3);
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị H1: Ông Thế T3, sinh
năm 1984 người đại diện theo y quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày
01/02/2026) (có mặt)
Đều trú tại: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ;
3.7. Ngân hàng N1; Địa chỉ: Địa chỉ: Số B đường L, phường G, thành phố
Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Toàn V- Ông Trần Ngọc T4;
Chức vụ: Giám đốc Phòng G Chi nhánh V1 Ngân hàng N1; địa chỉ: Địa chỉ:
V, tỉnh Phú Thọ - người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền
số: 2665/QĐ – NHNN PT, ngày 01/12/2022) (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Nguyễn Thị N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 3 năm 2025 và những lời khai tiếp
theo, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T bày: Ông Nguyễn Thị N kết n
với nhau ngày 17/7/1992 được Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh
Phúc (cũ) đăng cấp giấy chứng nhận theo quy định, không thuộc trường
hợp bđe dọa hay cưỡng ép kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại
thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ (hiện tại) từ đó đến nay. Ông N chung sống
hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do
sau khi ông bị tai biến thì N ruồng rẫy không quan tâm, chăm c ông. Toàn
3
bộ việc sinh hoạt nhân (bao gồm cả vệ sinh) của ông thì đều do chị gái của
ông Nguyễn Thị Q thực hiện. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, ông
đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Mạnh T2, sinh ngày
03/5/1993 và Nguyễn Anh T5, sinh ngày 02/01/1995. Hiện đều đã trưởng thành,
trên 18 tuổi không bị nhược điểm gì về thể chất hoặc tâm thần nên không đề
nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tài sản chung quyền sử dụng đất 262m
2
(theo hiện trạng là 255,1m
2
) tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A thuộc thôn Đ, xã
V, tỉnh Phú Thọ. Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên
ông Nguyễn Văn T. Trên đất các tài sản là 01 ngôi nhà 02 tầng khép kín
(thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T2); 01 ngôi nhà cấp bốn
(đã xuống cấp), vật kiến trúc khác trên đất. Đối với phần diện tích ngôi nhà
02 tầng của anh T2 phần diện tích có ngôi nhà cấp bốn thì đã được phân định
thành 02 phần riêng biệt, có lối đi, cổng riêng. Ly hôn ông bà N đều thống
nhất thỏa thuận để N được quản lý phần diện tích đất có ngôi nhà 02 tầng của
anh T2 ông được quản lý, sử dụng phần diện tích đất ngôi nhà cấp bốn.
Ông được sở hữu ngôi nhà cấp bốn, vật kiến trúc trên đất, ông hay N không
phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho nhau.
Ông xác định toàn bộ 03 thửa đất theo lời tình bày của của N tài sản
riêng của ông, được mẹ ông (cụ Nguyễn Thị S1) cho riêng ông nên ông không
đồng ý phân chia theo yêu cầu của N. Đối với việc N rút yêu cầu phân
chia 10 thước đất nông nghiệp thuộc thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ, ông đồng ý,
ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn, Nguyễn Thị N, đồng thời người đại diện theo y quyền của
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Mạnh T2) trình bày:
thừa nhận lời tình bày của ông T về thời gian kết n, việc đăng kết n
đúng. Tuy nhiên xác định vợ chồng không mâu thuẫn (vẫn bình thường).
Sau khi ông T bị tai biến năm 2016 thì bà người chăm sóc ông T. Bản thân
các chị, em của ông T vu khống cho bà, đã bỏ không chăm sóc ông T súi
giục ông T ly hôn với bà. Nay xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, xin
đoàn tụ và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T.
Về con chung: Như ông T trình bày, bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tài sản chung quyền sử dụng đất 262m
2
(theo hiện trạng là 255,1m
2
) tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A thuộc thôn Đ, xã
V, tỉnh Phú Thọ. Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên
ông Nguyễn Văn T. Trên đất các tài sản là 01 ngôi nhà 02 tầng khép kín
(thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T2); 01 ngôi nhà cấp bốn
(đã xuống cấp), vật kiến trúc khác trên đất. Đối với phần diện tích ngôi nhà
02 tầng của anh T2 phần diện tích có ngôi nhà cấp bốn thì đã được phân định
thành 02 phần riêng biệt, có lối đi, cổng riêng. Ly hôn ông T đều thống
nhất thỏa thuận để được quản phần diện tích đất ngôi nhà 02 tầng của
4
anh T2 ông T được quản lý, sử dụng phần diện tích đất ngôi nhà cấp bốn.
Ông T được sở hữu ngôi nhà cấp bốn, vật kiến trúc trên đất, ông T hay bà không
phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho nhau.
Ngoài ra, bà N xác định vợ chồng còn tài sản chung là quyền sử dụng
đất diện tích 460,9m
2
thuộc thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ. Đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn T. Nguồn gốc thửa
đất là của bố mẹ chồng cho. Quyền sử dụng đất đã được ông T tách làm 03 thửa,
01 thửa mang tên ông T, 01 thửa ông T đã chuyển nhượng cho vợ chồng
Nguyễn Thị T1, ông Văn Đ; 01 thửa chuyển nhượng cho vợ chồng
Nguyễn Thị C, ông Lê Thanh S. Ly hôn bà đề nghị Tòa án phân chia tài sản trên
theo quy định.
Đối với 10 thước đất ng nghiệp tại xđồng C, thôn Đ, xã V, tỉnh Phú
Thọ (đất do ông Nguyễn Văn L đang quản lý, sdụng) xác định đất tiêu
chuẩn của ông T anh Nguyễn Văn T6. vậy xin rút yêu cầu, không đề
nghị Tòa án giải quyết.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đồng thời người đại diện theo
ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Văn Đ),
Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà là em gái của ông Nguyễn Văn T. Nguồn gốc thửa
đất ông T đã chuyển nhượng cho vợ chồng là do mẹ của cho riêng ông T
chứ không phải tài sản chung của ông T N theo lời trình bày của N.
Do không có tiền để chữa bệnh nên ông T đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho vợ chồng bà. Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng đã sử dụng đất,
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị T1
ông Vũ Văn Đ. Nay bà N cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông T
và bà N, đề nghị Tòa án phân chia, vợ chồng bà không đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đồng thời người đại diện theo
ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Thanh S),
Nguyễn Thị C trình bày: em gái của ông Nguyễn Văn T. Nguồn gốc thửa
đất ông T đã chuyển nhượng cho vợ chồng là do mẹ của cho riêng ông T
chứ không phải tài sản chung của ông T và N theo lời trình bày của N.
Do không có tiền để chữa bênh nên ông T đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho vợ chồng bà. Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng đã sử dụng đất,
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị C
ông Thanh S. Toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông T thì vợ
chồng đã chuyển nhượng cho ông Thế T3 và Nguyễn Thị H1. Nay bà
N cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông T N, đề nghị Tòa
án phân chia, vợ chồng bà không đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đồng thời là người đại diện theo
ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vliên quan, Nguyễn Thị H1), ông
Vũ Thế T3 trình bày: Năm 2025 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thửa số 821, tờ bản đồ số 30 thuộc thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ) của bà
Nguyễn Thị C và ông Thanh S. Khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng thì đất
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà C và ông S, không
5
tranh chấp với ai. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì vợ chồng
ông đã sử dụng đất, thế chấp tại Phòng G Ngân hàng N1 để vay vốn. Ngân
hàng đã thực hiện việc thẩm định đối với quyền sử dụng đất, không tranh chấp
với nhân nào. Nay bà N cho rằng quyền sử dụng đất tài sản chung của ông
T và bà N, đề nghị Tòa án phân chia, vợ chồng ông không đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng N1 trình bày: Ngân
hàng N1 Chi nhánh V1 - Phòng G xác lập Hợp đồng tín dụng số: 2806 LAV
- 202501400 với ông Thế T3. Quy trình thẩm định, thế chấp đúng quy
định của pháp luật. Tại thời điểm ông T3, H1 thế chấp tài sản thì không
tranh chấp với bất cứ tổ chức hay nhân nào. Ngân hàng không tranh chấp
đến việc tranh chấp giữa N với ông T với thửa đất trên, việc xác lập hợp
đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông T3, bà H1 là công khai minh bạch. Ngân
hàng không có ý kiến, yêu cầu gì về việc xử lý hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu
trong vụ án (nếu có).
Với nội dung trên, tại bản án thẩm số 19/2026/HNGĐ-ST ngày 11
tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 43, 51, 56, 62 của Luật hôn nhân gia đình năm
2014; Các Điều 166, 357 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:
1. Cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
2. Về tài sản chung: Công nhận sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn TNguyễn Thị N.
2.1. Ông Nguyễn Văn T được quản lý, sử dụng diện tích đất 120,1m
2
tại
thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A (theo Bản đồ đo đạc VN2000 thửa số 406, tờ
bản đồ số 30) thuộc thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Đã được Ủy ban nhân dân
huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 28/10/1996 mang tên ông Nguyễn Văn
T. Ông T được sở hữu toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trên đất (có đồ chi tiết
kèm theo).
2.2. Nguyễn Thị N được quản lý, sử dụng diện tích đất 135m
2
tại thửa
đất số 42, tờ bản đsố 4A (theo Bản đồ đo đạc VN2000 thửa số 406, tbản
đồ số 30) thuộc thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Đã được Ủy ban nhân dân huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 28/10/1996 mang tên ông Nguyễn Văn T. Trên đất
có 01 ngôi nhà 02 tầng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T2,
vật kiến trúc trên đất (bà N được tạm sử dụng, trông nom) (có sơ đồ chi tiết kèm
theo).
3. Không chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị N về việc phân chia tài
sản đối với thửa đất số 821, tờ bản đồ số 30, diện tích 120,5m
2
được Chi nhánh
Văn phòng Đăng đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 26/09/2024 cho ông Thanh S Nguyễn Thị C,
đã được chuyển nhượng cho ông Thế T3, Nguyễn Thị H1, được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp Giấy chứng
6
nhận quyền sử dụng đất ngày 03/6/2025 mang tên ông Vũ Thế T3 và bà Nguyễn
Thị H1, diện tích 120,5m
2
, tại thửa số 821, tbản đồ số 30 thuộc thôn Đ, V,
tỉnh Phú Thọ (theo kết quả đo đạc là 120,2m
2
); Thửa đất số 822, tờ bản đồ số 30,
diện tích 120,1m
2
được Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/09/2024 mang
tên Nguyễn Thị T1 ông n Đ; Thửa đất số 823, tờ bản đồ số 30, diện
tích 220,3m
2
được Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh
Phúc (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/09/2024 cho ông
Nguyễn Văn T.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Ngày 23/3/2026 Nguyễn Thị N đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thông qua việc giải quyết ván từ khi thụ vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thấy: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, T
đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bluật
Tố tụng dân sự; Về phía các đương sự cũng đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền
hạn của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đnghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N, Áp dụng khoản 1
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ginguyên Bản án hôn nhân và gia đình
sơ thẩm số 19/2026/HNGĐ-ST ngày 11/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10
- Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của Nguyễn Thị N không
được chấp nhận do N người cao tuổi đơn xin miễn án phí phúc thẩm
nên bà N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án
trên cơ sở thẩm tra, xem xét tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ
sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời khai của các đương sự, ý kiến của địa diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị N làm trong
thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng
xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn, bị đơn đề
nghị chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nên quan hệ pháp luật trong vụ
7
án là ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo quy định tại khoản
1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm chưa làm ông T thuộc
diện trợ giúp pháp hay không. Tại cấp phúc thẩm ông T xuất trình hộ nhận
tiền trợ cấp qua xác minh tại địa phương ông T người khuyết tật nặng nên
thuộc diện trợ giúp pháp lý. Cấp phúc thẩm đã có văn bản và Trung tâm trợ giúp
pháp tỉnh P đã cử Trợ giúp viên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông T và
đã được ông T đồng ý. Như vậy, quyền lợi của ông T vẫn được đảm bảo nên
không cần thiết hủy án thẩm, đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh
nghiệm.
[4]. Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T xin ly hôn với bà
Nguyễn Thị N cho rằng sau khi ông bị tai biến năm 2016 thì N không
chăm sóc ông, ruồng rẫy ông. Bị đơn Nguyễn Thị T7 không đồng ý ly hôn
cho rằng sau khi ông T7 bị tai biến năm 2016 thì vẫn chăm sóc ông T7. Ông
T7 và các chị em của ông T7 vu khống cho bỏ không chăm sóc T7.
Trường hợp ly hôn bà đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thửa
đất số 42 tờ bản đồ số 4A, thửa s821, 822, 823 tbản đồ số 30 đều địa chỉ
tại: thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi xét xử thẩm, bđơn Nguyễn Thị
N kháng o với nội dung không đồng ý ly hôn, nếu ly n đề nghị chia tài
sản chung các thửa đất số số 821, 822, 823 tờ bản đồ số 30 theo quy định của
pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông T7 N đăng kết hôn ngày
17/7/1992 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) trên cơ sở tự
nguyện. Sau khi kết hôn ông T7 Nguyên sinh S2 tại thôn Đ, Y, huyện
V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ). Do đó quan hệ hôn nhân giữa ông T7 bà N hợp
pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng, ban đầu hai vợ chồng sống hòa thuận
nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông T7 thì năm 2016
sau khi ông bị tai biến thì N ruồng rẫy ông, không chăm sóc ông, đến năm
2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Bà N cho rằng không có việc bà ruồng rẫy
ông T7.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa bà N thừa nhận ông T7 không
đồng ý để bà chăm sóc, sinh hoạt cá nhân cho ông T7. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà
Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ (chị gái của
ông T7), Q khẳng định mình là người trực tiếp chăm c, sinh hoạt nhân
cho ông T7. Bản thân ông T7 khẳng định sau khi ông bị bệnh dẫn đến không thể
chủ động, tự thực hiện việc chăm sóc cho bản thân thì N đã ruồng rẫy không
chăm sóc cho ông được những người hàng xóm xác nhận (BL 56). Tại phiên
tòa thẩm ngày 05/3/2026 N khẳng định trong thời gian đón tết Bính Ngọ
2026 thì ông T7 không đồng ý để N chăm sóc việc sinh hoạt cá nhân của ông
T7. Tại phiên tòa phúc thẩm, N ông T7 đều xác nhận hiện nay ông T7
sống trên ngôi nhà cấp bốn của hai vợ chồng xây dựng được, còn bà N sống trên
ngôi nhai tầng của anh T2 (là con trai) xây dựng, ngôi nhà cấp bốn ngôi
nhà hai tầng nằm tách biệt nhau cùng nằm trên thửa đất số 42 tờ bản đồ 4A
8
của hai vợ chồng. Căn cứ tình trạng sức khỏe thực tế của ông T7 thì toàn bộ việc
sinh hoạt nhân của bản thân, ông T7 không tự mình thực hiện được nên lẽ ra
tất cả sinh hoạt nhân của ông T7 phải do N thực hiện nhưng ông T7 phải
nhờ người thân khác và hai vợ chồng cũng không cùng chung sống với nhau. Từ
đó, đủ căn cứ để xác định ông T7 N đã không thực hiện tình nghĩa vợ
chồng quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Nay ông T7 xin ly hôn, N không đồng ý nhưng N cũng không tài liệu,
chứng cứ để chứng minh ông T7 xin ly hôn mục đích khác. Xét thấy,
cuộc sống hai vợ chồng ông T7, bà N đã không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn
nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đó
nguyên nhân của những mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh ngày càng trầm trọng
không thể giải quyết được. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa ông T7 và bà N đã
u thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được. Nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T7
đối với bà N căn cứ. Kháng cáo xin đoàn tụ của N không được Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4.2]. Về con chung: Qua xác minh tại địa phương c đương sthừa
nhận thì xác định ông T7 N 02 con chung Nguyễn Mạnh T2 sinh ngày
03/05/1993 Nguyễn Anh T5, sinh ngày 02/01/1995. Hiện anh T2 anh T5
đều đã trên 18 tuổi, không bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nên ông
T7, N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp thẩm không xem xét giải
quyết là phù hợp.
[4.3]. Về tài sản chung:
[4.3.1]. Ông T7 N đều thống nhất v chồng tài sản chung
quyền sử dụng đất diện tích 262m
2
tại thửa số 42, tờ bản đồ số 4A thuộc thôn Đ,
xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), nay là thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, được Ủy
ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 28/10/1996 cho ông
Nguyễn Văn T. vậy đây các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo
quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thì hiện thửa đất
thửa, diện tích 255,1m
2
, ít hơn diện tích theo Giấy chứng nhận 4,9m
2
. Quyền
sử dụng đất không tranh chấp với các hộ liền kề về mốc giới, về diện tích,
các chiều cạnh của thửa đất, phần diện tích đất ít hơn so với giấy chứng nhận
ông T và N không bất kỳ ý kiến đồng ý chia tài sản chung theo diện
tích thực tế. Theo kết quả định giá tài sản thì thửa đất trên giá 5.000.000
đồng/1m
2
, các đương sự đồng ý với giá trên và không có ý kiến gì. Cấp thẩm
xác định thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A diện tích thực tế 255,1m
2
giá là 5.000.000đồng/1m
2
để tiến hành chia tài sản chung của vợ chồng là có căn
cứ.
Hiện nay, thửa đất s42, tờ bản đồ số 4A chia thành 02 phần riêng biệt,
có lối đi, có cổng đi riêng biệt. Cụ thể:
9
Phần thứ nhất diện tích 135m
2
, trên đất 01 ngôi nhà hai tầng khép kín;
sân gạch đỏ trước nhà cổng inox. Tất cả các tài sản trên diện tích đất 135m
2
thì ông T, bà N đều xác định là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh T2 (là con
trai của vchồng). Hiện phần diện tích đất này tài sản trên đất đang do N
quản lý, sử dụng.
Phần thứ hai diện tích 120,1m
2
, trên đất 03 gian nhà cấp bốn, tường
bao loan xây dựng khoảng năm 1998 (đã xuống cấp), nhà cấp 4 được lát gạch
hoa, sân gạch, mái tôn khung thép diện tích 25,6m
2
, cổng sắt. Tất cả tài sản trên
đất thì đều thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông T, N. Hiện phần diện tích
đất này và tài sản trên đất đang do ông T quản lý, sử dụng.
Anh Tú, N khẳng định anh T2 gửi một phần tiền vđể sửa chữa tài
sản nhưng anh T2 không yêu cầu ông T hay N phải thanh toán bất cứ khoản
tiền nào. Anh Nguyễn Anh T5 chị Hoàng Thị M (là con trai con dâu của
ông T bà N) thì đều khẳng định không bất cứ đóng góp trong khối tài sản
chung của ông T, bà N.
Tại cấp thẩm, ông T N đều thống nhất thỏa thuận để ông T được sử
dụng phần diện tích đất 120,1m
2
(cùng toàn bộ tài sản trên đất) N được sử
dụng phần diện tích đất 135m
2
. Xét thấy, việc thỏa thuận phân chia tài sản
diện tích đất và tài sản trên đất nêu trên của ông T, bà N tự nguyện, không trái
pháp luật. Cấp thẩm đã giao diện tích đất N được sử dụng 135m
2
diện tích đất ông T được quản lý, sử dụng 120,1m
2
phù hợp với quy định
của pháp luật.
Đối với tài sản trên đất thì N không yêu cầu ông T phải thanh toán giá
trị chênh lệch đối với các công trình tài sản chung của vợ chồng trên phần
diện tích đất mà ông T được chia. Ông T không đề nghị bà N phải thanh toán giá
trị quyền sử dụng đất chênh lệch N được chia nhiều hơn. Việc các đương
sự thể hiện ý trí như trên là hoàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật.
Cấp thẩm không xem xét thanh toán chênh lệch tài sản giữa các bên hoàn
toàn phù hợp.
Đối với ngôi nhà 02 tầng được xây dựng trên thửa đất số 42 tờ bản đồ 4A:
Các đương sự đều thừa nhận ngôi nhà 02 tầng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
anh T2, tại cấp thẩm anh T2 đề nghị Tòa án tạm giao cho N được quản
diện tích đất có ngôi nhà trên. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà N và ông T
liên hệ với anh T2 qua việc gọi video anh T2 cũng quan điểm như ông
T, N không đề nghị giải quyết đối với ngôi n02 tầng trên trong vụ án
này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối ngôi nhà 02 tầng của
anh T2, sau này các đương syêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vviệc
khác.
[4.3.2]. Đối yêu cầu của Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án phân chia tài
sản chung là các thửa đất số 821, 822, 823 tờ bản đồ số 30.
Qua xác minh tại địa phương thì thửa đất số 700, tờ bản đồ số 30 được
tách thành 03 thửa 821, 822 823 tờ bản đồ 30. Thửa đất s700 tờ bản đồ
10
30 được N nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông
Nguyễn Văn T ngày 28/09/2020. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì ông T đã tách thửa đất số 700, tờ bản đồ số 30 thành 03 thửa lần
lượt là 821, 822 và 823 tờ bản đồ 30.
Đối với các thửa đất số 821, 822 ông T đã chuyển nhượng cho vợ chồng
Nguyễn Thị C, ông Thanh S bà Nguyễn Thị T1, ông Văn Đ; Thửa
đất số 821 tờ bản đồ số 30 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
26/09/2024 cho ông Thanh S và Nguyễn Thị C. Đến đầu năm 2025 vợ
chồng bà C, ông S đã chuyển nhượng thửa đất số 821 cho vợ chồng ông Vũ Thế
T3 và bà Nguyễn Thị H1. Ông T3 và bà H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thế chấp để vay vốn tại Phòng G Ngân hàng N1 chi nhánh V1.
Thửa đất số 822 tờ bản đồ số 30 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 26/09/2024 mang tên Nguyễn Thị T1 ông Văn Đ. Thửa đất số
823, tờ bản đồ số 30 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
26/09/2024 cho ông Nguyễn Văn T.
Xét thấy, nguồn gốc thửa đất số 700, tờ bản đồ số 30 tại thôn Đ, xã V, tỉnh
Phú Thọ của bà Nguyễn Thị S1 (mẹ ông T) tặng cho riêng ông T theo hợp
đồng tặng cho số 31 ngày 22/07/2020 được Ủy ban nhân dân Y, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) chứng nhận. Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì thửa đất trên
chưa xây dựng công trình gì, vchồng ông T N cũng chưa kiến thiết, xây
dựng tài sản trên đất. Việc N cho rằng đất cụ S1 đã cho vợ chồng từ năm
1992 nhưng không bất cứ tài liệu, chứng cứ để chứng minh, N cũng
không tài liệu, chứng cứ thể hiện việc ông T đã tnguyện sáp nhập các tài
sản trên thành tài sản chung của vợ chồng ông T và bà N. Như vậy, mặc dù thửa
đất số 700 tờ bản đồ 30 ông T được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nhưng việc
tặng cho cho riêng ông T, ông T cũng không đưa o để vợ chồng sử dụng
chung nên cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 700 tờ bản đồ 30 là tài sản riêng của
ông T không tiến hành chia căn cứ. Kháng cáo của bị đơn về việc đề
nghị chia các thửa đất trên không được chấp nhận.
[4.4]. Đối với tài sản quyền sử dụng đất đối với 10 thước đất nông
nghiệp tại xứ đồng C, Thôn Đ, V hiện đang do ông L (em trai ông T quản
sử dụng). Quá trình giải quyết vụ án N cho rằng đây là tài sản chung của bà
ông T trong thời kỳ hôn nhân đề nghị phân chia theo pháp luật nhưng tại
cấp sơ thẩm bà N khẳng định không phải là tài sản chung. Đây là tài sản của ông
T anh T2, tiêu chuẩn đất nông nghiệp của hiện vẫn B, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), bà không đề nghị Tòa án phân chia, nên cấp sơ thẩm không
xem xét giải quyết là phù hợp.
[4.5]. Theo đơn yêu cầu của Nguyễn Thị N về việc đề nghị chia tài sản
chung đối với các thửa đất số 823, 821, 822 tờ bản đồ 30. Nhưng hiện nay thửa
đất số số 821 tờ bản đồ 30, ông T đã chuyển nhượng cho vchồng Nguyễn
Thị C, ông Thanh S, đến đầu năm 2025 vợ chồng C, ông S đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông Vũ Thế T3 Nguyễn Thị H1. Ông T3 bà H1
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất thế chấp để vay vốn tại
11
Ngân hàng N1; Còn thửa đất số 822 tờ bản đồ số 30, ông T đã chuyển nhượng
cho Nguyễn Thị T1 ông Văn Đ ông Đ, T1 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Lẽ ra để giải quyết được yêu cầu chia tài sản
chung đối với các thửa đất số 821, 822 tờ bản đồ 30 thì cấp sơ thẩm phải hướng
dẫn bà N về việc để nghị giải quyết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 821 tờ bản đồ 30 giữa ông T với vợ chồng ông S, C,
giữa ông S, C với ông T3, H1 hợp đồng thế chấp giữa ông T3, H1
với Ngân hàng đối với thửa đất số 821 tờ bản đ 30 và Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T với T1, ông Đ đối với thửa đất 822 t
bản đồ 30. Từ đó mới đủ căn cứ để giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của
bà N đối với các thửa đất số 821, 822 tờ bản đồ 30. Tuy nhiên, theo phân tích tại
mục [4.3.2] xác định các thửa đất số 821, 822 tờ bản đồ 30 tài sản riêng của
ông T nên ông T quyền một mình chuyển nhượng các thửa đất trên. Mặc
cấp sơ thẩm sai xót trên nhưng về bản chất vụ việc không thay đổi, không
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự nên không cần thiết phải
hủy án sơ thẩm nhưng đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[5]. Về điều luật áp dụng: Cấp thẩm áp dụng Điều 166, 357 và 468 Bộ
luật Dân sự quy định vquyền đòi lại tài sản, trách nhiệm do chậm thực hiện
nghĩa vụ lãi suất. Tuy nhiên, đây ván ly hôn, chia tài sản chung của v
chồng khi ly hôn tại phần quyết định của bản án không quyết định việc các
đương sự phải thực hiện nghĩa vụ dân sự với nhau nên cấp thẩm áp dụng các
điều luật trên không đúng. Ngoài ra, cần áp dụng các điều luật về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn. Cấp phúc thẩm sẽ điều chỉnh lại điều luật áp
dụng cho phù hợp.
[6]. Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy
kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
tại phiên tòa căn cứ cần được chấp nhận. Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
[7]. Về án phí phúc thẩm: Kháng o của Nguyễn Thị N không được
chấp nhận do N là người cao tuổi đơn xin miễn án phí phúc thẩm nên
bà N không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N;
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 19/2026/HNGĐ-ST
ngày 11/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Căn cứ vào các Điều 33, 43, 51, 56, 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án. Xử:
12
1. Cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
2. Về tài sản chung: Công nhận sự tự thỏa thuận phân chia i sản chung
trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn TNguyễn Thị N.
2.1. Chia cho ông Nguyễn Văn T được quản lý, sử dụng diện tích đất
120,1m
2
tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A (theo Bản đồ đo đạc VN2000 là thửa
số 406, tờ bản đồ số 30) thuộc thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ. Đã được Ủy ban
nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 28/10/1996 đứng tên ông
Nguyễn Văn T. Ông T được sở hữu toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trên đất (có
đồ chi tiết kèm theo).
2.2. Chia cho Nguyễn Thị N được quản lý, sử dụng diện tích đất
135m
2
tại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4A (theo Bản đồ đo đạc VN2000 thửa
số 406, tờ bản đồ số 30) thuộc thôn Đ, V, tỉnh Phú Thọ. Đã được Ủy ban
nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 28/10/1996 đứng tên ông
Nguyễn Văn T. Tạm giao cho bà N quản lý 01 ngôi nhà 02 tầng (thuộc quyền sở
hữu hợp pháp của anh Nguyễn Mạnh T2) được xây dựng trên phần đất N
được chia (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
3. Không chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị N về việc phân chia tài
sản đối với các thửa đất sau: Thửa đất số 821, tờ bản đồ số 30, diện tích 120,5m
2
được Chi nhánh n phòng Đăng đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/09/2024 cho ông Lê Thanh S và
Nguyễn Thị C. Đã được chuyển nhượng cho ông Thế T3, bà Nguyễn Thị
H1. Đã được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
(cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/6/2025 mang tên ông
Thế T3 Nguyễn Thị H1, diện tích 120,5m
2
, tại thửa số 821, tờ bản đồ số
30 thuộc thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ (theo kết quả đo đạc là 120,2m
2
); Thửa đất
số 822, tờ bản đồ số 30, diện tích 120,1m
2
được Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 26/09/2024 mang tên Nguyễn Thị T1 ông Văn Đ; Thửa đất số
823, tờ bản đồ số 30, diện tích 220,3m
2
được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
26/09/2024 cho ông Nguyễn Văn T.
4. Án phí thẩm, phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T Nguyễn Thị N
không phải chịu.
5. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Phú Th;
- VKSND khu vc 10 - Phú Th;
- TAND khu vc 10 - Phú Th;
- THADS tnh Phú Th (Phòng THADS
khu vc 10 - Phú Th);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT Bản án số 34/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất