Bản án số 1145/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1145/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1145/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1145/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Trần Văn H - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1145/2026/DS-PT Bản án số 1145/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1145/2026/DS-PT Bản án số 1145/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1145/2026/DS-PT
Ngày: 09-9-2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán: Phùng Thị Cẩm Hồng
Thị Bích Tuyền
- Thư phiên tòa: Ông Ngọc Khánh Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Trần Thị Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại tr sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ s 500/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm 2026
về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 82/2026/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 7 Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2026/QĐ-PT ngày 03/8/2026,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1938; Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh
Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của T: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1965;
Địa chỉ đăng thường trú: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh. Hiện trú tại: Ấp T, T,
tỉnh Tây Ninh, (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Trần Thị Phương T2, sinh năm
1983; Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh, (có mặt)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Trần Thị Phương T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh,
(có mặt)
2. Anh Trần Quốc T3, sinh năm 2011;
3. Chị Trần Thị Phương T4, sinh năm 2009;
Người đại diện theo pháp luật của anh T3, chị T4: Ông Trần Văn H bà Trần
Thị Phương T2.
Cùng địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh. (Chị T2 mặt)
4. Ông Trần Ngọc T5, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt)
5. Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt)
6. Ông Trần Văn H2, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình
bày nội dung:
Sau khi nhận Mảnh trích đo địa chính số 214-2025 do Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 14-12-2025, nguyên đơn xác định yêu cầu
khởi kiện như sau:
Yêu cầu Tòa án xác định phần đất diện tích 104m
2
thuộc một phần thửa đất
số 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp T, Đ, huyện C, tỉnh Long An, nay T, tỉnh
Tây Ninh thuộc quyền sử dụng của Nguyễn Thị T.
Buộc ông Trần Văn H tháo dỡ hàng rào, các công trình kiến trúc trên đất trả lại
cho T phần đất diện tích 104m
2
thuộc một phần thửa 1859, tờ bản đồ số 5, đất
tại ấp T, T, tỉnh Tây Ninh.
Phần đất tranh chấp vị trí tương ứng với khu A1 diện ch 10m
2
; khu A2
diện tích 94m
2
theo Mảnh trích đo địa chính số 214-2025 do Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 24-12-2025. Ngoài hai vị trí trên, trong vụ án
này nguyên đơn không tranh chấp với bị đơn các vị trí khác.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp của cha Nguyễn Thị T mua cho T từ bà
Phan Thị K vào năm 1973, làm giấy tay mua bán nhưng hiện không còn lưu giữ.
Đến năm 1975, T đổ đất cất nhà tại vị trí căn n 3 (thể hiện tại Mảnh trích đo số
214-2025). Quá trình ở, T cũng xây sửa n nhiều lần. Đến khoảng năm 2021,
được sự hỗ trợ của địa phương, T xây dựng căn nhà cấp 4 tại vị t nhà 2 (thể hiện
tại M trích đo số 214-2025).
Năm 1997, T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
số 1931, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m
2
, loại đất Thổ, đất tại ấp T, xã Đ, huyện C,
tỉnh Long An. Đến năm 2020, T phát hiện bị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhầm thửa, thực tế bà T sử dụng thửa 1859, không phải thửa 1931. Ngày 29-10-
3
2020, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 5999/QĐ-UBND thu hồi
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguyễn Thị T vào ngày 19-5-
1997 đối với thửa đất 1931. Đến nay, T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 1859, do tranh chấp với ông Trần Văn H.
Từ trước đến nay, T đổ đất cất nhà phần còn lại của thửa 1859, phần đất
đang tranh chấp T trồng dừa nước. T có đến Ủy ban nhân dân hỏi thì
được biết thửa 1859 của T tiếp giáp đường 826C, thửa đất của phía ông H các
thửa đất phía sau, không tiếp giáp đường. Phần đất tranh chấp tương ứng với các
khu A1 A2, trước thời điểm phía ông H xây nhà đất của T. Sau đó, ông
H về xây nhà, phía T ra Ủy ban nhân n trình báo thì được hướng dẫn
đất của T vẫn của T, việc người khác xây nhà không ảnh hưởng đến quyền
sử dụng đất của T, nên bà T không ý kiến tranh chấp. Sau khi Mảnh trích
đo, nguyên đơn biết được toàn bộ phần đất ông H đang cất nhà, xây rào thuộc
thửa 1859 thuộc quyền sử dụng của T. Do đó, T yêu cầu ông H phải tháo dỡ
nhà, tháo dỡ các công trình trên đất để trả lại phần đất trống cho T.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Hiệp đồng T6 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Phương T2 trình bày nội dung:
vợ của ông Trần Văn H. Vợ chồng không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, phần đất này là của mẹ chồng cho vợ chồng quản lý, sử
dụng. Mẹ chồng (là Nguyễn Thị N đã mất năm 2019) cất nhà vị t đất này
từ năm 1993, tính đến nay đã 33 năm. Sau đó, N cho lại v chồng bà, hiện gia
đình đang sinh sống trên phần đất này. Phần đất này gia đình chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trước đây cậu của ông H ông Nguyễn Văn L mua một phần đất ruộng
của Phan Thị K. Vào khoảng năm 1981, ông L đi nước ngoài định cư, nên mẹ
của ông L (bà Huỳnh Thị L1) bán lại phần đất của ông L cho T với diện tích
khoảng 10mx10m, hiện trạng đất gò. Còn phần đất tranh chấp hiện trạng đất
ruộng của N, không thuộc phần đất của T đã nhận chuyển nhượng từ L1.
Khi N đến phần đất tranh chấp xây nhà, đất hiện trạng đất lúa, không phải
đất như phía nguyên đơn trình bày.
Năm 2021, vợ chồng xây hàng rào theo ranh lang cang phía trước nhà kéo
thẳng ra phía sau, lúc này hai bên không tranh chấp. Thời điểm đó, hai bên tranh
chấp phần ranh đất phía sau nhà của T. Lý do như sau: Sau khi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của T bị thu hồi, T đi đăng cấp lại Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, T u cầu quan nhà ớc phải đo đủ diện tích đất đã
được cấp giấy trước đây như diện tích thửa 1931. Sau khi đo đạc, phần đất T thực
tế sử dụng, diện tích không bằng diện tích thửa 1931, nên T tranh chấp với ông H,
cho rằng phần đất của T nằm trong phần đất lúa của gia đình ông H (thửa 2384),
gia đình ông H không đồng ý. Do phần đất lúa phía sau khác thửa so với phần đất
T đang quản lý sử dụng, nên sau đó, phía T quay sang tranh chấp ranh phía
hàng rào, lúc này phía bà T cho rằng đất của chiều ngang 17m, sau khi đo đạc
17m thì lấn sang ½ căn nhà phía trước của vợ chồng bà. Lúc này, phía T xác định
chỉ tranh chấp từ nhà ra tới hàng rào, khoảng 1m. Sau khi nhận Mảnh trích đo
4
địa chính số 214-2025, T xác định tranh chấp toàn bộ phần nhà của gia đình
thuộc thửa đất 1859. Phần đất từ hàng rào sang phía nhà do gia đình sử
dụng ổn định từ trước đến nay, phía T không sử dụng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T5, ông Phạm Văn H1,
ông Trần Văn H2 thống nhất trình bày nội dung:
Các ông là anh của ông Trần Văn H, con của Nguyễn Thị N. N đã chết
năm 2019. N 04 người con Trần Ngọc T5, Phạm n H1, Trần Văn H2
Trần Văn H. Chồng cha mẹ của N đã chết trước N. Sau khi N chết, các
ông thống nhất giao n nhà đất cho ông H quản lý, sử dụng toàn quyền định
đoạt. Phần đất tranh chấp, N cất nhà, sinh sống từ năm 1993 đến nay, không
bất kỳ tranh chấp với ai. Các ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại Bản án dân sự thẩm số 82/2026/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị T về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Trần Văn H, cụ thể: yêu cầu ông Trần Văn
H tháo dỡ công trình, vật kiến trúc trả lại cho T phần đất diện tích 104m
2
thuộc một phần thửa đất số 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại T, tỉnh Tây Ninh vị trí
tương ứng với khu A1, A2 thuộc Mảnh trích đo địa chính s 214-2025 do Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 24-12-2025.
Xác định ranh giới giữa phần đất của ông Trần Văn H phần đất của
Nguyễn Thị T thuộc thửa đất số 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại T, tỉnh Tây Ninh
hàng rào chiều dài 12,95m một cạnh của khu A1 thuộc Mảnh trích đo địa
chính số 214-2025 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
24-12-2025.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền, thời hạn
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 28/4/2026, nguyên đơn Nguyễn Thị T kháng cáo yêu cầu Toà cấp
phúc thẩm huỷ bản án thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của T giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị T đủ điều
kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của Nguyễn Thị T. Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số 82/2026/DS-ST ngày
17 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bà Nguyễn Thị T thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271,
Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật T tụng dân sự. Nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự
thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn
Thị T khởi kiện: Yêu cầu Tòa án xác định phần đất diện tích 104m
2
thuộc một
phần thửa đất số 1859, tờ bản đồ s 5, đất tại ấp T, Đ, huyện C, tỉnh Long An,
nay T, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T; Buộc ông
Trần Văn H tháo dỡ hàng rào, các công trình kiến trúc trên đất trả lại cho T phần
đất diện tích 104m
2
thuộc một phần thửa 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp T, xã T,
tỉnh Tây Ninh. Tòa án cấp thẩm xác định vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
thụ giải quyết đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Việc xét xử vắng mặt đương sự: Những người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bao gồm các ông Trần Ngọc T5, Phạm Văn H1, Trần Văn H2 vắng mặt
nhưng đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[4]. Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị T, thấy rằng:
[4.1] Ngày 19-5-1997, Nguyễn Thị T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành K629017 đối với thửa 1931, diện
tích 527m
2
, tờ bản đồ s 5, đất tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
[4.2] Ngày 29-10-2020, y ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số
5999/QĐ-UBND v việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản gắn liền với đất số phát hành K 629017 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp ngày 19-5-1997 cho Nguyễn Thị T. Với do cấp Giấy chứng nhận
không đúng quy định pháp luật.
[4.3] Theo Kết luận về việc thẩm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
396/KL-TTr ngày 08-10-2020 của Thanh tra huyện C, kết luận: Việc Ủy ban nhân
dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T vào ngày 19-5-1997
thửa đất số 1931, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m
2
, mục đích sử dụng: đất thổ
không đúng với quy định của pháp luật. do không đúng số thửa diện tích sử
dụng đất.
[4.4] Qua hồ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho T đối
với thửa 1931 th hiện việc T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa 1931 không đúng đối tượng sử dụng đất, phần đất T thực tế quản
lý, sử dụng không phải vị trí, diện tích thửa 1931. Phần đất T hiện đang quản
lý, sử dụng thuộc một phần thửa đất số 1859, t bản đồ số 5, đất tại Đ, huyện C,
tỉnh Long An nay T, tỉnh Tây Ninh.
[4.5] Theo Công văn số 4841/CCTT.CN ngày 08-11-2024 của Chi nhánh Văn
6
phòng đăng đất đai tại huyện C về việc cung cấp thông tin địa chính, xác định
thửa đất số 1859, tờ bản đồ số 5, tỷ lệ 1/5000, xã Đ hiện chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Các đương sự thống nhất trình bày, hiện đang sử dụng
phần đất thuộc thửa số 1859, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ đó, sở xác định thửa đất 1859 hiện chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ai.
[4.6] Về vị trí phần đất tranh chấp: Căn cứ Mảnh trích đo địa chính số 214-
2025 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 24-12-2025
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định diện tích phần đất tranh chấp 104m
2
,
thuộc một phần thửa đất số 1859, tờ bản đ s 5, đất tại ấp T, T, tỉnh Tây Ninh,
vị trí tương ứng khu A1 khu A2 thuộc Mảnh trích đo. Thửa đất này hiện chưa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[4.7] Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất:
Về quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp:
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Toà án nhân dân Khu vực 7 Tây
Ninh lập theo Mảnh trích đo địa chính số 214-2025 thể hiện: Thửa đất 1859
diện tích đo đạc thực tế 259m
2
, hiện 02 chủ sử dụng bà Nguyễn Thị T và
ông Trần Văn H. Phần diện tích đất giữa 02 chủ sử dụng ranh giới hàng rào do
phía ông H xây dựng. Trên phần đất T đang sử dụng 02 căn nhà của bà T,
tương ứng với vị trí nhà 3 nhà 2, phần đất này có diện tích theo đo đạc thực tế
155m
2
. Trên phần còn lại của thửa 1859, diện tích 104m
2
, hiện do ông H sử dụng,
01 phần hàng rào 01 phần nhà của ông H tương ứng vị trí A2, diện tích 94m
2
.
Về nguồn gốc đất diện tích đất tranh chấp:
Phía ông H cho rằng: Diện tích đất tranh chấp hiện ông H đang sử dụng
nguồn gốc của Nguyễn Thị N mẹ ruột của ông H để lại cho ông H. Trên phần
đất này, căn nhà của N đã xây dựng từ năm 1993.
Phía bà T cho rằng: Toàn bộ thửa 1859 của cha T cho T, T bắt đầu
quản lý, sử dụng, xây dựng nhà trên đất từ năm 1975 cho đến nay. Thời điểm cha bà
T nhận chuyển nhượng vào khoảng năm 1973, diện tích 527m
2
.
Qua lời trình bày của đương sự, thấy rằng: T cho rằng thửa đất 1859
nguồn gốc do cha T nhận chuyển nhượng, sau đó để lại cho bà T sử dụng
diện tích 527m
2
nhưng T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh
cho lời trình bày của mình. Trong khi diện tích của thửa 1859 theo s mục
diện tích 355m
2
, theo đo đạc thực tế diện tích 259m
2
. T cho rằng phần đất
của T diện tích 527m
2
trước đây Nhà nước đã cấp cho T quyền sử dụng
đối với phần diện tích này. Ý kiến này của T không sở Ủy ban nhân
dân huyện C đã thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho T đối với
thửa đất 1931 có diện tích 527m
2
, với do sai thửa đất, sai diện tích đất. Theo
Mảnh trích đo địa chính số 214-2025, thửa đất 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp T,
T, diện tích là 335m
2
, tên chủ sử dụng đất được ghi nhận trong sổ mục
Nguyễn Thị N. Qua đó, sở xác định, tại thời điểm ghi nhận chủ sử dụng đất
vào sổ mục kê, Nguyễn Thị N sử dụng thửa đất số 1859. Như vậy, lời trình
7
bày của ông H về nguồn gốc của thửa đất số 1859 sở.
[4.8] Qua xem xét thẩm định tại chỗ, căn nhà của ông H toạ lạc trên 02 thửa đất,
trong đó có thửa 1859 đang tranh chấp. Theo hiện trạng lời trình bày của các
đương sự, tại thời điểm phía ông H xây dựng nhà ng rào trên phần đất tranh
chấp, phía T không tranh chấp. Sổ mục ghi nhận tên N chủ sử dụng đất
đối với thửa đất này. Từ những phân tích trên, sở xác định N đã quản lý, sử
dụng diện tích đất tranh chấp tại thời điểm ghi nhận sổ mục kê, cách đây khoảng 30
năm. T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ xác định phần đất tranh chấp từ
trước đến nay do phía T nhận chuyển nhượng bà T quản lý, sử dụng. Thực
tế, phía T chỉ sử dụng đất trong phạm vi các khu A, B thuộc Mảnh trích đo, phần
còn lại của thửa đất số 1859 từ trước đến nay T không quản lý, sử dụng.
Do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu xác
định phần đất thuộc các khu A1, A2 thuộc quyền sử dụng của bà T buộc ông H
tháo dỡ nhà, trả lại phần đất thuộc khu A, A2 căn cứ.
[5] Đối với các ông Trần Quốc T3, Trần Thị Phương T4, Trần Ngọc T5,
Phạm Văn H1 được xác định cách tham gia tố tụng trong vụ án này người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đến giai đoạn xét xử cấp thẩm mới đưa các
ông trên vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
các ông trên. Tuy nhiên, các ông trên ý kiến đồng ý tham gia tố tụng giai
xét xử, không ý kiến về vấn đề này sự thiếu sót trên của cấp thẩm không
làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết huỷ bản án thẩm để xét xử
lại. Cấp thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm đối với thiếu sót này.
[6] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T;
Chấp nhận quan điểm đ nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh
tại phiên tòa; Giữ nguyên bản án thẩm.
[7] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ p Tòa án: Do
kháng cáo của T không được chấp nhận nên T phải chịu án phí phúc thẩm
nhưng do T người cao tuổi được miễn nộp án phí phúc thẩm nên T không
phải nộp án phí phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị T.
8
3. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s 82/2026/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai năm 2013; Nghị
quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị T về việc
Tranh chấp quyền s dụng đất với ông Trần Văn H, cụ thể: yêu cầu ông Trần Văn
H tháo dỡ công trình, vật kiến trúc trả lại cho T phần đất diện tích 104m
2
thuộc một phần thửa đất số 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại T, tỉnh Tây Ninh vị trí
tương ứng với khu A1, A2 thuộc Mảnh trích đo địa chính s 214-2025 do Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 24-12-2025.
Xác định ranh giới giữa phần đất của ông Trần Văn H phần đất của
Nguyễn Thị T thuộc thửa đất số 1859, tờ bản đồ số 5, đất tại T, tỉnh Tây Ninh
hàng rào chiều dài 12,95m một cạnh của khu A1 thuộc Mảnh trích đo địa
chính số 214-2025 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
24-12-2025.
2. Về án phí: Nguyễn Thị T phải chịu án p dân sự thẩm nhưng thuộc
trường hợp được miễn nên không phải nộp.
3. Về chi p tố tụng khác: Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ 17.000.000
đồng, nguyên đơn phải chịu, đã nộp xong.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: T phải chịu án phí phúc thẩm nhưng do
T người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn nộp án phí phúc thẩm nên T
không phải nộp án phí phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 36 của Luật Thi hành án;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 34 của Luật Thi hành án
dân sự năm 2025.
9
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 7 Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1145/2026/DS-PT Bản án số 1145/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1145/2026/DS-PT Bản án số 1145/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất