Bản án số 122/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 122/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 122/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 70/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, danh dự bị xâm phạm”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 122/2026/DS - PT
Ngày: 18/8/2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; đòi bồi
thường thiệt hại về tài sản, danh
dự bị xâm phạm.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn, bà Nguyễn Thị Thuỷ.
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Lao Thị Hồng Hoài - Thư
Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 70/2026/TLPT-DS ngày
11 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, danh dự bị
xâm phạm”. Do Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 7
năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hoàng Thị E, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn K (nay
thôn Đ), xã N, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
2. Bị đơn:
- Hoàng Thị T, sinh năm 1963 (Có mặt)
- Ông Lương Văn L, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân N, tỉnh Thái Nguyên; Địa chỉ: Thôn K, N,
tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo ủy quyền: Sơn M - Chuyên viên
Phòng Kinh tế UBND xã N, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
2
- Ông Lâm Minh K, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn K (nay là thôn Đ), N,
tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Anh Lương Thế V, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn B, N, tỉnh Thái
Nguyên. (Vắng mặt)
- Chị Lương Thị P, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
- Chị Lương Thị H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn P, V, tỉnh Thanh Hóa.
(Có mặt)
4. Người làm chứng:
- Ông Chu Văn Q (Vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Thái Nguyên.
- Hoàng Thị T2, sinh năm 1945. Địa chỉ: Thôn K (nay thôn Đ), N,
tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hoàng Thị E.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án thẩm các tài liệu trong hồ vụ án, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn bà Hoàng Thị E trình bày:
Bà tranh chấp bậc 233 thuộc thửa đất 234 nguyên vẹn có địa chỉ: N, thuộc xứ
đồng N, thôn Bản Súng, xã N, tỉnh Thái Nguyên với các bị đơn. Các cạnh tiếp
giáp của thửa đất: Phía Đông giáp đất ruộng ông Nguyễn Quang H1 (thửa số 274,
tờ Bản đồ 63, đo đạc năm 2010); Phía Tây giáp đất ruộng ông Nguyễn Văn T3
(thửa số 251, tờ bản đồ 63, đo đạc năm 2010); Phía Bắc giáp thửa số 252, tbản
đồ 63, đo đạc 2010 (của gia đình E); Phía Nam giáp suối N. Ông H1, ông T3
đều cư trú tại thôn B, xã N, tỉnh Thái Nguyên.
Nguồn gốc: Thửa đất được E nhận thừa kế từ bố của E ông Hoàng
Văn S. Trước thời điểm E nhận thừa kế từ bố: Theo đo đạc năm 1995, 1996,
bản đồ số 9 xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn: Thửa đất 234 nguyên vẹn do mưa to,
lớn nhiều năm, bề mặt thửa ruộng bị cắt xẻ, rạn nứt tạo thành nhiều bậc cao
thấp khác nhau (bậc 232, 233, 234) ở cuối thửa 238 của E do dùng sức trâu cày
bừa không thể cải tạo mặt bằng để canh tác. Riêng thửa đất số 234 đã tạo thành 02
phần đất có diện tích khác nhau, đó là bậc 233 (diện tích 117,0m
2
) và thửa 234 còn
lại diện tích 106m
2
. Diện tích cả bậc 233 và thửa số 234 còn lại là 223m
2
.
Năm 1960, bố mẹ E cổ phần vào hợp tác xã. Năm 1985, 1986, Hợp tác
giải thể khoán sản phẩm cho hộ gia đình, UBND V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã
giao lại diện tích đất này cho bố mẹ E tiếp tục quản lý, canh tác đến năm 1992,
sử dụng đúng mục đích, ổn định, không lấn chiếm, tranh chấp, ranh giới không
thay đổi, nghĩa vụ tài chính đầy đủ. Do bố mẹ E không canh tác được nên
Hoàng Thị T2 (chị gái E) canh tác sử dụng, năm 1989 bố ông L ông Lương
3
Văn T4 sang hỏi mượn đất của ông Hoàng Văn C - chồng bà T2 để canh tác hết v
thì trả. Tuy nhiên, sau đó mặc dù bà T2 đã nhiều lần yêu cầu nhưng gia đình ông L
không trả lại đất. Năm 1993, bố bà E cho bà E thừa kế diện tích đất này.
Năm 1996, E khai, đăng diện tích 223m
2
của thửa 234 xin cấp giấy
CNQSD đất nhưng đến nay chưa được cấp. E không biết ông Lương Văn L
Hoàng Thị T đã tự ý khai, đăng ký bậc 233, diện tích 117m
2
nằm trong thửa
234 để xin cấp Giấy CNQSD đất. Năm 1998, chồng bà E ông Lâm Minh K được
cấp Giấy CNQSD đất, khi cấp đổi Giấy CNQSD đất, ông K mới phát hiện đất
trong Giấy CNQSD đất của ông L, bà T trùng lên một phần đất thửa 234.
Giấy CNQSD đất của ông L, T cấp ngày 18/12/1998, cấp đổi năm 2013,
cấp đổi lần 2 năm 2015 do UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp. Nghĩa khi cấp
đổi năm 2013 (bản đồ 63, bản đồ địa chính xã V) thì bậc 233 là thửa 263, diện tích
144,5m
2
, thửa 234 còn lại thửa 272, diện tích 163,1m
2
. Tổng diện tích thửa 263
và thửa 272 còn lại là 307,6m
2
. Ông L, T đã lấy thửa 263, diện tích 144,5m
2
kê
khai cấp Giấy CNQSD đất trùng lên một phần diện tích của thửa 272 nguyên vẹn,
diện ch 307,6m
2
. Cùng thời điểm năm 1998, ông L, ông K đều được cấp Giấy
CNQSD đất, nhưng lại cấp 2 thời điểm khác nhau, ông K cấp ngày 04/12/1998,
ông L cấp ngày 18/12/1998. Nvậy 02 ông Giấy CNQSD đất trùng nhau
vào diện tích đất của bà E được thừa kế.
Nguyên đơn yêu cầu các bị đơn phải bồi thường thiệt hại về tài sản với tổng
số tiền 19.773.000 đ (Mười chín triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng), trong
đó, bồi thường thiệt hại về hoa màu với số tiền 15.317.000 đồng do nguyên đơn
không canh tác được trên diện tích đất tranh chấp từ năm 1994 đến năm 2000
(theo biên lai thu thuế). Bồi thường chi phí khác với số tiền 4.456.000 đồng gồm
có: Cây vầu cắm cọc ranh giới giữa các thửa đất 2.100.000 đồng (21 cây vầu);
bút viết (03 chiếc x 4.000 đồng) = 12.000 đồng; Giấy viết (02 quyển vx 16.000
đồng) = 32.000 đồng; phô các loại giấy tờ biên bản chứng thực các tài liệu
812.000 đồng; tiền xe tnhà E đến trụ sTòa án để làm việc (04 lần x
200.000 đồng) = 800.000 đồng; tiền thuê taxi từ nhà bà E đến trụ sở Tòa án để làm
việc (01 lần) = 700.000 đồng.
Quá trình xảy ra tranh chấp, Hoàng Thị T đã hành vi sai đối với E,
cụ thể:
- Lập biên bản sai sự thật đối với các giấy tờ, chứng cứ so với thực địa hợp
pháp theo quy định của pháp luật và Luật Đất đai gây ra mâu thuẫn ngày càng tăng
giữa 02 gia đình tranh chấp, xúc phạm bản thân và gia đình bà E.
- Nhổ các cây cọc cắm mốc ranh giới, mốc giới giữa các thửa ruộng.
- Thông qua biên bản hòa giải tại 2 tiểu khu, biên bản xác minh thửa đất tranh
chấp, biên bản hòa giải tại UBND thị trấn V với trưởng thôn, văn bản số 07 của
Phòng Tài nguyên Môi trường huyện N ngày 17/12/2024 bị vu oan, vu
khống, lập biên bản sai sự thật, xúc phạm danh dự cá nhân trong biên bản có nêu:
4
+ Sử dụng không đúng ranh giới, mốc giới thửa đất.
+ Tự ý đổ đất trên đất ông L làm mất hiện trạng thửa đất.
+ Tự ý hợp thửa, lấn chiếm đất, diện tích đất tăng 211,8m
2
+ Không khai, đăng sử dụng đất, không danh sách trong sổ mục
không kê khai, đăng ký biến động đất đai, sử dụng đất sai mục đích.
- T thắp hương lên thửa đất 263 252 đo đạc năm 2010, nguyền rủa
E.
- Viết đơn thư nhiều lần, gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh địa phương.
- Bắt buộc phải thực hiện theo yêu cầu của cán bộ công chức địa chính
sự chỉ đạo của UBND thị trấn, phòng đăng ký đất đai.
- T gây sự, ngày 16/3/2025 khi bà đang cuốc hố trồng ngô trên thửa 233
thì T hoán gọi công an, trưởng thôn Bản Súng, Công an viên Bản Súng
UBND thị trấn Vân Tùng đến khu đất tranh chấp, gọi điện, quay video, chụp ảnh
minh họa. Công an có lập biên bản sự việc nhưng không gửi cho bà.
- Trong các buổi hòa giải, khi bà đề nghị T cung cấp các giấy tờ, chứng cứ
để cán bộ địa chính kiểm tra thì T không giấy tờ, chỉ Giấy CNQSD đất
ngày 15/12/2015.
- T xúi giục, thông đồng với địa chính thị trấn V, trưởng thôn Bản Súng
làm nhục bà bằng hình thức:
+ Cán bộ địa chính hạnh họe, những nhiễu không nhận đơn giải quyết tranh
chấp 04 lần
+ Khi đề nghị trưởng thôn Bản Súng nơi đất để đổ đất cải tạo mặt bằng
ruộng thì bị từ chối, không xác nhận.
+ Theo biên bản hòa giải của tiểu khu ngày 25/11/2024, yêu cầu T2
E trả lại hiện trạng đất của thửa đất số 263, tờ bản đồ 63, diện tích 144,5m
2
đã
được cấp Giấy CNQSD đất.
+ Yêu cầu E bồi thường cho gia đình T mỗi năm 2.500.000 đồng thiệt
hại do không canh tác được trong biên bản hòa giải ngày 25/9/2025 tại UBND
N, tỉnh Thái Nguyên.
* Số tiền cụ thể bà E yêu cầu bồi thường:
- Ngày 16/3/2025 báo công an, trưởng thôn, UBND xã: 10.000.000 đồng
- T thắp hương trên thửa đất thừa kế bị tranh chấp, nguyền rủa E:
3.000.000 đồng.
- Xúi giục cán bộ địa chính làm sai giấy tờ: 1.000.000 đồng
- Tuyên truyền, bêu xấu, xúc phạm E, chồng và các con của bà E:
2.000.000 đồng
- Gây cản trở tới việc cấp Giấy CNQD đất: 2.000.000 đồng.
- Cản trở không cho tôi gửi đơn giải quyết tranh chấp đất: 2.000.000 đồng.
5
Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn Hoàng Thị T phải bồi thường thiệt hại về
danh dự cho nguyên đơn.
Các yêu cầu của nguyên đơn:
1. Công nhận phần đất diện tích 144,5m
2
thuộc thửa đất số 263 tbản đồ
số 63 - Bản đồ địa chính V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn của bị đơn ông Lương Văn
L Hoàng Thị T của nguyên đơn Hoàng Thị E. Yêu cầu các bị đơn trả lại
đất cho nguyên đơn.
2. Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 263, tờ bản đồ
63, số phát hành CD 740221, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH08771 diện tích
144,5m
2
do UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 15/12/2015 cho ông Lương
Văn L và bà Hoàng Thị T.
3. Yêu cầu Hoàng Thị T bồi thường danh dự cho nguyên đơn với số tiền
20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
4. Yêu cầu các bị đơn bồi thường thiệt hại về tài sản với tổng số tiền
19.773.000đ (mười chín triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Hoàng Thị T, nguyên đơn không nhất trí
toàn bộ yêu cầu.
* Bị đơn bà Hoàng Thị T trình bày:
Đất tranh chấp giữa bà Hoàng Thị E vợ chồng bà - ông Lương Văn L và
Hoàng Thị T có diện tích 144,5m
2
thuộc thửa đất số 263 tại vị trí Cốc Lót, cánh
đồng N, thôn Bản Súng, N, tỉnh Thái Nguyên (Tiểu khu B, thị trấn V, huyện N,
tỉnh Bắc Kạn cũ). Phần diện tích đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của
vợ chồng theo Giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CD 740221, số vào sổ
cấp GCN: CH 08771/QĐ số 2660/QĐ-UBND ngày 15/12/2015 của UBND huyện
N (cũ).
Diện tích đất tranh chấp giáp với đất của bà Hoàng Thị E (nguyên đơn) và đất
của ông Hoàng Văn T1 (người cùng thôn).
Về nguồn gốc: Tnăm 1966, bố chồng (ông Lương Văn L) là ông Lương
Văn T4 khai phá, sử dụng diện tích đất. Đến năm 1989, khi vợ chồng bà xây nhà
ra riêng thì được mẹ chồng chia thửa đất này cho canh tác, sử dụng. Năm 1996,
vợ chồng được cấp Giấy CNQSD đất thửa đất s233 trong Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số N263209 ngày 18/12/1998 mang tên ông Lương Văn
L; Năm 2015, được đổi sang Giấy CNQSD đất số phát hành CD 740221, số vào sổ
cấp GCN: CH 08771/QĐ số 2660/QĐ-UBND ngày 15/12/2015 của UBND huyện
N (cũ) cho vợ chồng Lương Văn L Hoàng Thị T. Gia đình sử dụng ổn
định, liên tục, không xảy ra tranh chấp với ai. khẳng định không việc
mượn đất của gia đình bà Hoàng Thị T2, ông Hoàng Văn C hay bà E.
Đầu năm 2024, gia đình phát hiện E tự ý đổ đất xuống ruộng. Tđó,
hai bên xảy ra mâu thuẫn. Sau khi E đổ đất, đã ý kiến với E yêu cầu
không được đổ đất nhưng E vẫn tiếp tục đổ đất. Tháng 3 năm 2024, E thuê
6
máy xúc để san phẳng cả thửa đất của ngang bằng với thửa đất của E khiến
bà không thể canh tác thửa đất được nữa. Hai bên tranh chấp, E đơn đề nghị
hòa giải tranh chấp đất gửi thôn, xã, sau nhiều lần hòa giải không thành nên E
khởi kiện đến Tòa án. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho vợ
chồng bà là đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của E, T, ông L không
nhất trí với toàn bộ các khoản yêu cầu. Do đây đất của gia đình ông L, T,
E đã hành vi xâm phạm nay còn yêu cầu bồi thường không đúng. Hơn nữa,
việc bà E khởi kiện cũng làm ông bà phải đi lại nhiều lần.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự: Ông L, T không nhất trí
với toàn bộ các khoản E yêu cầu. Khi bà E đổ đất làm mất hiện trạng thửa đất
tự ý đến trồng ngô trên thửa đất của gia đình bà, báo với chính quyền
thôn, đến để giải quyết. T không biết các cây cọc cắm ranh giới đất khi
nào không hành vi nhổ các này, không được thắp hương trên phần đất tranh
chấp, nguyền rủa E. Đối với việc giải quyết tranh chấp đất đai, chính quyền
thôn, xã, công an đã giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục, T, ông L không
có quyền can thiệp, xúi giục.
Ngày 29/10/2025, bà đã có đơn phản tố với các nội dung:
- Yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại hoa màu do sự việc tranh chấp
nên không canh tác được trên diện tích đất từ năm 2024 đến tháng 11 năm 2025
với số tiền 5.412.500đ (Năm triệu bốn trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
- Yêu cầu bị đơn khôi phục lại hiện trạng thửa đất tranh chấp.
Ngày 15/01/2026, bị đơn Hoàng Thị T đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản
tố.
* Bị đơn ông Lương Văn L trình bày:
Nguồn gốc khu đất do bố đẻ ông L Lương Văn T4 khai phá sử dụng.
Đến năm 1989 khi ông lập gia đình ra riêng thì được chia cho (hiện là thửa đất
263) canh tác sử dụng. Quá trình sử dụng đất: Gia đình ông canh tác thường
xuyên, liên tục. Năm 1996 gia đình ông được cấp GCNQSDĐ, đến năm 2015 thì
cấp đổi sang GCNQSDĐ số CD 790221 ngày 15/12/2025 do UBND huyện N cấp
cho vợ chồng ông.
Sự việc tranh chấp giữa gia đình ông và E bắt nguồn từ cuối năm 2023 đầu
năm 2024, gia đình ông phát hiện E đổ đất xuống ruộng của ông, gia đình ông
đã yêu cầu bà E không được đổ đất nhưng bà E tiếp tục đổ đất. Tháng 3/2024 bà E
thuê máy xúc san phẳng cả thửa đất của ông ngang bằng với thửa đất của E
khiến gia đình ông không thể canh tác thửa đất được nữa.
Ông L không nhất trí với toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người đại diện theo uỷ quyền của Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chủ tịch UBND xã N, tỉnh Thái Nguyên bà Tá Sơn M trình bày:
7
Theo tờ bản đồ giải thửa 299 tờ số 9 đo vẽ năm 1996, xác định vị trí tranh
chấp nằm tại thửa 233 vị trí tiếp giáp: Phía Bắc giáp thửa 232 không thể hiện
tên chủ sử dụng đất, thửa 231 kê khai ông Hoàng Văn T1; Phía Nam giáp thửa 234
không thể hiện tên chủ sử dụng (đã cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 1998 cho
ông Lâm Minh K); Phía Đông giáp thửa 237 không thể hiện tên chủ sử dụng (đã
cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 1998 cho ông Lâm Minh K); Phía Tây giáp
suối.
Theo tờ bản đồ 63 bản đồ địa chính đo đạc năm 2010; bản đồ địa chính sau
đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 xã V, thửa số 233
thửa 263 có vị trí tiếp giáp: Phía Bắc giáp thửa 251 ông Hoàng Văn T1; Phía Nam
giáp thửa 272 khai Hoàng Thị E (vợ ông K); Phía Đông giáp thửa 252
khai bà Hoàng Thị E (vợ ông K); Phía Tây giáp suối.
Theo bản đồ giải thửa 299 tờ số 9 năm 1996, thửa số 233 diện tích 117,0m
2
mục đích sử dụng đất trồng lúa đã được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số N263209 ngày 18/12/1998 mang tên ông Lương Văn L.
Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2010, bản đồ địa chính sau đăng cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 V (nay xã N) thửa đất số 263
diện tích 144,5m
2
tờ bản đsố 63, đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CD740221 ngày 15/12/2015 cho hộ ông Lương Văn L
Hoàng Thị T (cấp đổi).
2. Qua các hồ liên quan lưu tại UBND sổ mục những thửa đất
trên theo bản đồ tờ số 9 năm 1996 đối chiếu với sổ mục kê đất đai năm 1996 trang
133 số thửa 234 diện tích 106m
2
không kê khai tên chủ sử dụng đất, thửa 237 diện
tích 783m
2
không kê khai tên chủ sử dụng đất thửa 238 diện tích 234m
2
không
khai tên chủ sử dụng đất nhưng đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số N 263617, ngày 04/12/1998 mang tên m Minh K (chồng
bà E) thời điểm năm 1998.
- UBND nhận được đơn đề nghị của Hoàng Thị E đề nghị giải quyết
tranh chấp, UBND thị trấn V (nay UBND N) đã xem xét thụ giải quyết
theo đúng trình tự và thời gian quy định của Luật Đất đai hiện hành (có hồ sơ kèm
theo).
UBND xã chưa nhận được đơn đính chính của ông Lâm Minh K mà chỉ được
phối hợp cùng Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện N (nay Chi nhánh
Văn phòng Đ) để kiểm tra thửa đất xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
vào thời điểm năm 2024.
Kiểm tra các hồ lưu tại UBND thời điểm năm 1996 không tài liệu
thể hiện Hoàng Thị E khai thửa đất 233 trong sổ mục năm 1996 và bản
đồ năm 1996.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thế V, Lương Thị P, Lương
Thị H trình bày:
8
Thời điểm cấp Giấy CNQSD đất năm 1998, anh V, chị P, chị H là thành viên
trong hộ gia đình ông Lương Văn L, Hoàng Thị T, trong gia đình bố mẹ
03 anh chị em. Về nguồn gốc tha đất, quá trình canh tác, sử dụng: Do ông để
lại cho bố mẹ là ông Lương Văn L bà Hoàng Thị T. Gia đình ông L, T vẫn
canh tác, sử dụng ổn định, lâu dài, không xảy ra tranh chấp với ai từ những năm
2000 cho đến khi phát sinh tranh chấp với Hoàng Thị E. Từ khi n nhỏ tuổi
sống cùng bmẹ, anh V, chị P, chị H vẫn thường xuyên được phụ giúp bmẹ
canh tác, trồng cây trên thửa đất này hằng năm cho đến khi lập gia đình tách
khẩu. E thửa đất ngay sát bên cạnh thửa đất tranh chấp, hai gia đình đều
đồng thời canh tác, sử dụng hai thửa đất của mình, bà E cũng chưa từng ý kiến
tranh chấp đất với gia đình anh chị. Đầu năm 2024, gia đình anh chị phát hiện E
tự ý đổ đất xuống ruộng của gia đình và tranh chấp thửa đất. Mặc đất được cấp
cho hộ gia đình nhưng từ trước đây cấp cho bố mẹ anh chị (năm 1996, cấp lại
năm 2015). Anh, chị chỉ được canh tác, sử dụng đất, không có đóng góp gì đối với
thửa đất này. Anh, chị không yêu cầu đối với diện tích đất tranh chấp. Đề
nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của ông L, bà T. Đề nghị không triệu tập tham
gia tố tụng tại Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Minh K trình bày:
Năm 1993 bố vợ ông K ông Hoàng Văn S chia tài sản thừa kế cho con
gái là E 03 thửa 234, 237, 238, tổng diện tích 1.123m
2
. Năm 1994 được UBND
V giao cho làm tờ khai với di chúc của bố đẻ diện ch 1.123m
2
. Năm 1996 địa
phương tổ chức triển khai làm GCNQSDĐ, khi đó bà E đã trực tiếp đến UBND
khai, đăng ký diện tích đất được ban thuế cấp sổ thu thuế diện tích 1.150m
2
.
Năm 1998 nhận được GCNQSDĐ mang tên ông K, ông đã ra xã trình bày yêu cầu
đính chính lại tên Hoàng Thị E cho khớp với di chúc để lại tông Phạm Ngọc
S1 (Trưởng phòng) Hoàng Bế B (cán bộ) Phòng T huyện trả lời việc sai sót
do cấp xã chuyển lên phòng, sau này đến đợt đổi bìa sẽ chỉnh sửa lại cho khớp.
Năm 1995 ông K canh tác thì thấy ông L làm một phần thửa 234, ông K
hỏi ông C chồng T2 thì được biết ông L mượn với ông C, T2 cho đến nay
ông L vẫn chưa trả cho T2. Năm 1996 ông L tự ý đi khai đăng làm bìa
đỏ, sau E 14 ngày nên mới chuyện một thửa đất 02 bìa cấp trùng lên
nhau.
Đề nghị Tòa án thu hồi hủy bìa đỏ của ông L, hoàn trả lại diện tích đất
mượn cho bà T2 để giao lại diện tích đất cho Hoàng Thị E cho đúng khớp
với di chúc của bố Hoàng Văn S để lại; Đnghị quan thẩm quyền cấp lại
GCN lấy tên Hoàng Thị E cho khớp với di chúc người thừa kế hồ khi làm
bìa đỏ ban đầu.
* Những người làm chứng:
- Ông Chu Văn Q: Trưởng thôn Bản Súng, N, tỉnh Thái Nguyên: Diện
tích đất tranh chấp thuộc khu N, C, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (cũ) giáp với
đất ông Hoàng Văn T1 (thôn Bản Súng). T khi còn nhỏ, sinh sống tại địa
9
phương, ông đã thấy ông Lương Văn T4 bố của ông Lương Văn L canh tác sử
dụng diện tích đất tranh chấp. Năm 1977, ông Q làm đội trưởng đội sản xuất của
Hợp tác xã B1, từ năm 1982- 1984, ông làm chủ nhiệm Hợp tác xã khoán 1, khoán
100 vẫn thấy ông T4 canh tác, sử dụng diện tích đất, do diện tích đất của ông T4
quá ít nên không đưa vào Hợp tác xã. Năm 1984, ông T4 chết, vợ ông T4
Trần Thị H2 vẫn canh tác, sử dụng đất. Đến năm 1988, giải thể Hợp tác xã, vợ ông
T4 đã chia diện tích đất này cho con trai Lương Văn L. Vợ chồng ông L. T
canh tác, sử dụng diện tích đất này ổn định, không xảy ra tranh chấp với ai, hằng
năm làm ruộng 02 vụ. E chưa từng canh tác, sử dụng diện tích đất này. Năm
2024, chương trình xây dựng đường nội thị của thị trấn V, E đã đồng ý cho
đơn vị thi công đổ đất xuống các thửa đất của E gần đó cả thửa đất tranh
chấp. Gia đình ông L, bà T đề nghị thôn, xã đến giải quyết, yêu cầu bà E không
được canh tác nhưng bà E vẫn cố tình trồng ngô.
- Ông Hoàng Văn T1: Ông Trần C1 đất giáp với diện tích đất tranh chấp giữa
bà E với ông L, bà T. Quá trình canh tác, sử dụng diện tích đất của mình, ông thấy
gia đình ông L, T canh tác, sử dụng diện tích đất tranh chấp ổn định, thường
xuyên, liên tục, không xảy ra tranh chấp với ai.
- Hoàng Thị T2: T2 chị gái của Hoàng Thị E. Diện tích đất tranh
chấp T2 không được canh tác, sử dụng. Theo T2, diện tích đất tranh chấp
trước đây là của Hợp tác xã, sau khi giải thể Hợp tác xã chia đất cho các hộ gia
đình sử dụng, bà T2 không biết ai là người sử dụng diện tích đất này. Bà T2 không
có yêu cầu gì đối với diện tích đất tranh chấp.
Tại bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 157, 158, 227, 228,
229, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm
2025); Điều 31, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi bổ
sung năm 2025); Điều 584; 585, 589, 592 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 2, 42, 73 Luật đất đai năm 1993;
Căn cứ Điều 97, 100, 166, 203 luật đất đai 2013;
Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị
E, gồm:
1.1. Yêu cầu công nhận phần đất diện tích 144,5m
2
được giới hạn bởi các
điểm toạ độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-1 (bản trích đo địa chính thửa đất) thuộc
thửa đất số 263, tờ bản đồ số 63 bản đồ địa chính xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn của
các bị đơn ông Lương Văn L Hoàng Thị T của nguyên đơn Hoàng Thị E.
10
Yêu cầu các bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn.
Hiện trạng đất được tả trên Bản trích đo địa chính thửa đất kèm theo
bản án.
1.2. Yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số CD740221, thửa đất số 263, tờ bản đồ
63, diện tích 144,5m
2
do UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 15/12/2015 cho
hộ ông Lương Văn L và bà Hoàng Thị T.
1.3. Yêu cầu bị đơn Hoàng Thị T bồi thường danh dự cho nguyên đơn với số
tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
1.4. Yêu cầu các bị đơn bồi thường thiệt hại về tài sản với tổng số tiền
19.773.000đ (Mười chín triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tcủa bị đơn Hoàng Thị T về
việc yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại hoa màu do sviệc tranh chấp
nên không canh tác được trên diện tích đất từ năm 2024 đến tháng 11 năm 2025
với số tiền 5.412.500đ (Năm triệu bốn trăm mười hai nghìn năm trăm đồng)
yêu cầu bị đơn khôi phục lại hiện trạng thửa đất tranh chấp.
Bị đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu phản
tố trên theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về án phí thẩm, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21/5/2026, nguyên đơn Hoàng Thị E kháng cáo toàn bbản án
thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 05/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 Thái
Nguyên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị E vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện giữ
nguyên nội dung kháng cáo.
Bị đơn Hoàng Thị T, ông Lương Văn L không đồng ý với kháng cáo của
nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến quan
điểm như sau:
- V s tuân theo pháp luật: Những người tiến hành tố tụng, những người
tham gia tố tụng từ khi th lý v án cho đến trước khi ngh án đã thc hiện đúng
các quy định ca B luật tố tụng dân s;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
tố Tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 05/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8
- Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
11
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và quan điểm của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị E đảm bảo về hình thức và
làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên toà phúc
thẩm, bị đơn ông Lương Văn L; một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
những người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ
hai không do. Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án những
người này đã lời trình bày đầy đủ, ràng được lưu trong hồ vụ án. Việc
vắng mặt họ không ảnh hưởng tới việc giải quyết ván, Hội đồng xét xử căn cứ
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt những người trên.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị E,
Hội đồng xét xử thấy:
[3] Về yêu cầu công nhận phần đất diện tích 144,5m
2
thuộc thửa đất số
263, tờ bản đồ s63 bản đồ địa chính V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn của bà
Hoàng Thị E:
E cho rằng diện tích đất tranh chấp nguồn gốc do được cha là ông
Hoàng Văn S để lại theo di chúc, là một phần thửa đất số 234 đã khai đăng
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 233 từ năm 1996;
đồng thời cho rằng gia đình ông L, T quản lý, sử dụng diện tích đất này do
bố ông L mượn của ông C, T2. Tuy nhiên, những nội dung E trình y
không được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ hợp pháp cũng không phù
hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình giải quyết ván, lời khai của E về việc quản lý, sử dụng diện
tích đất tranh chấp không thống nhất. thời điểm khai được cha chia trực
tiếp sử dụng đất tnăm 1993 (bút lục số 02, 257); thời điểm lại khai bà Hoàng
Thị T2 là người canh tác (bút lục 322); khi khác lại cho rằng không biết ai sử dụng
diện tích đất này trong nhiều năm hoặc cho rằng hằng năm gia đình ông L, T
đều tranh canh tác trước nên bà không thể sử dụng (bút lục số 87). Những lời khai
này mâu thuẫn với chính lời khai của T2 khi xác nhận không trực tiếp quản
lý, sử dụng và cũng không biết ai là người sử dụng diện tích đất tranh chấp. Do đó,
không sở xác định E đã trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định đối với diện
tích đất đang tranh chấp như bà trình bày.
Đối với các tài liệu về nguồn gốc đất, V1 khế đất ruộng Cốc L1 Di
chúc của ông Hoàng Văn S cùng lập ngày 25/11/1993 đều thể hiện phần đất để lại
12
cho E chỉ gồm các thửa số 237, 238 234 với tổng diện tích 1.150m². Nội
dung này phù hợp với Tờ khai đăng ruộng đất tháng 11/1994 Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cấp năm 1998 mang tên ông Lâm Minh K, trong đó cũng
chỉ ghi nhận ba thửa đất nêu trên, không thửa đất số 233. Đối với đơn khai
đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 233 do E
xuất trình chỉ là bản phôtô, không xác nhận của quan thẩm quyền; đồng
thời UBND xác nhận không tài liệu lưu trữ thể hiện bà E khai, đăng
thửa đất s233 trong sổ mục bản đồ giải thửa năm 1996. Các biên lai thu
thuế đất nông nghiệp cũng không thể hiện việc E thực hiện nghĩa vụ tài chính
đối với chính diện tích đất đang tranh chấp. vậy, c tài liệu này không đủ giá
trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà E.
Đối với nội dung cho rằng bố ông L mượn đất của ông C, bà T2 rồi không trả
lại, ngoài lời trình bày của E thì không bất kỳ tài liệu, chứng cứ hoặc lời
khai của người làm chứng nào xác nhận; trong khi ông L, bà T không thừa nhận sự
việc này. Do đó, không căn cứ xác định đã tồn tại quan hệ mượn đất như
nguyên đơn trình bày.
Ngược lại, lời khai của ông L, bà T về việc được bố mẹ giao đất từ năm 1989,
quản lý, sử dụng ổn định, liên tục cho đến khi phát sinh tranh chấp phù hợp với
các tài liệu địa chính gồm sổ mục kê năm 1996, bản đồ giải thửa năm 1996, bản đồ
địa chính đo đạc năm 2010, bản đồ địa chính sau đăng cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất năm 2014, đồng thời phù hợp với lời khai của người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Hồ vụ án ng thể hiện
trước đây diện tích đất tranh chấp thuộc quỹ đất do Hợp tác quản lý, sau khi
Hợp tác giải thể giao cho các hộ gia đình sử dụng, nhưng không tài liệu nào
xác định diện tích đất này được giao cho bà E hoặc hộ gia đình E.
Như vậy, đcăn cứ xác định gia đình ông L, bà T người trực tiếp quản
lý, sử dụng ổn định, liên tục diện tích đất tranh chấp tnăm 1989 đến khi phát
sinh tranh chấp vào cuối năm 2023; việc tranh chấp chỉ phát sinh sau khi hiện
trạng thửa đất bị thay đổi do quá trình thi công E đến trồng ngô trên diện
tích đất này. Trong khi đó, bà E không chứng minh được mình đã từng quản lý, sử
dụng hợp pháp hoặc căn cứ xác lập quyền sử dụng đối với thửa đất số 263, tờ
bản đồ số 63. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị
E về việc công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp căn cứ,
đúng quy định pháp luật.
[4] Về yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số CD 740221 do UBND huyện N, tỉnh
Bắc Kạn cấp ngày 15/12/2015 cho hộ ông Lương Văn L, bà Hoàng Thị T:
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, hồ sơ địa chính và tài liệu do cơ quan có
thẩm quyền cung cấp đều thể hiện diện tích đất đang tranh chấp đã được Nhà nước
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lương Văn L từ năm 1998 tại
13
thửa đất số 233, diện tích 117m². Đến năm 2015, sau khi đo đạc, chỉnh lý hồ sơ địa
chính, thửa đất được cấp đổi thành thửa số 263, diện tích 144,5m² đứng tên ông
Lương Văn L Hoàng Thị T. Việc diện tích tăng so với Giấy chứng nhận đã
cấp được xác định do quá trình sdụng, khai phá hoặc mở rộng sang phần đất
liền kề chưa được cấp Giấy chứng nhận cho bất kỳ tổ chức, nhân nào, không
phải do chồng lấn lên diện tích đất đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng
cho bà Hoàng Thị E.
Mặt khác, không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh thửa đất số 233 trước
đây hoặc thửa đất số 263 hiện nay là một phần của thửa đất số 234 E cho
rằng được thừa kế từ ông Hoàng Văn S. Ngược lại, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ
đều xác định đây các thửa đất độc lập, vị trí, ranh giới quá trình quản lý,
sử dụng riêng biệt.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và đại diện quan quản đất đai đều
thống nhất xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Lương Văn L, bà Hoàng Thị T được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định
của pháp luật tại thời điểm cấp. Kết quả kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cũng
không thể hiện có vi phạm về điều kiện, thẩm quyền hoặc trình tự cấp giấy.
Do đó, Tòa án cấp thẩm kết luận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
N263209 cấp ngày 18/12/1998 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD
740221 cấp đổi ngày 15/12/2015 được cấp đúng quy định pháp luật; đồng thời
không chấp nhận yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận này của Hoàng Thị E
căn cứ, đúng pháp luật.
[5]. Về các yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng không căn cứ chấp nhận. E
không chứng minh được Hoàng Thị T có hành vi trái pháp luật xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín hoặc cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất của bà E; kết
quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền cũng không có căn cứ xác định các hành
vi này. Mặt khác, như đã phân tích, diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sdụng
hợp pháp của ông Lương Văn L Hoàng Thị T nên E không sở yêu
cầu bồi thường thiệt hại về hoa màu. Đối với các khoản chi phí khác, đây các
chi phí phát sinh trong quá trình bà E thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện để bảo vệ
quyền lợi của mình, đồng thời bà cũng không chứng minh được bị đơn có lỗi hoặc
có hành vi làm phát sinh các thiệt hại này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp
nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại của E căn cứ, đúng quy định của
pháp luật.
[6]. Tại cấp phúc thẩm, bà E không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm
thay đổi bản chất vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà E.
[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa là có căn cứ chấp nhận.
14
[8]. Về án phí: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do Hội đồng xét
xử phúc thẩm giữ nguyên bản án thẩm nên người kháng cáo Hoàng Thị E
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do bà E người cao tuổi nên được
miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 293, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Thị E. Giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 07/2026/DSST ngày 05 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thái Nguyên.
2. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn Hoàng Thị E được miễn án phí dân
sự phúc thẩm; hoàn lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số 0002163 ngày 21/5/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thái
Nguyên cho bà Hoàng Thị E.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 và 36 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 8 - Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 8 - Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hà Quang Huy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất