Bản án số 765/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 765/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 765/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 765/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tiền
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 765/2026/DS-PT Bản án số 765/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 765/2026/DS-PT Bản án số 765/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 765/2026/DS-PT
Ngày 25-8-2026
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Tôn Văn Thông
- Thư phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Thị Ngọc Hân
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 21 và 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long t xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 366/2026/TLPT-DS
ngày 08 tháng 6 năm 2026 về việc:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 75/2026/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 604/2026/QĐPT-DS
ngày 16 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 780/2026/QĐ-PT
ngày 13 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị P, sinh năm 1970. Số thẻ CCCD: ************,
ngày cấp 25/7/2024 nơi cấp Bộ Công an. Địa chỉ: Số A, tổ A, khóm T, phường
T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm
1984. Địa chỉ: Ấp P, xã Q, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bị đơn: Huỳnh Thị Kiều N, sinh năm 1975. Số thẻ CCCD:
************, ngày cấp 16/11/2022 nơi cấp Cục cảnh sát QLHC vTTXH.
Địa chỉ: Số B, khóm V, phường T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Trần Hoàng
T1 Văn phòng Luật sư Trần Bá T2 Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).
2
- Người kháng cáo:Huỳnh Thị Kiều N Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ lời khai của nguyên đơn trong
hồ sơ vụ án thể hiện: Do có quen biết với bà Huỳnh Thị Kiều N nên bà P có cho
N mượn số tiền 2.017.000.000 đồng theo giấy nợ ghi ngày 27/11/2023. Bà N
là người ký tên và giao giấy nợ này cho bà P. Bà N hứa sau 03 tháng sẽ trả đủ số
tiền này cho bà P nên bà P không tính lãi, đến hạn P yêu cầu N thanh toán
nợ thì N nói công việc chưa giải quyết xong nên cho nợ thêm vài tháng, khi
công việc giải quyết xong sẽ trả đủ tiền gốc và đóng lãi nên bà P đồng ý. Mặc dù
P nhiều lần yêu cầu N thanh toán số tiền trên nhưng bà N tránh không
thanh toán. Nay P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc N trả cho P số tiền
2.017.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt không do, không ý
kiến về thông báo về việc thụ lý vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 75/2025/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ các Điều 463, 464, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị P:
Buộc Huỳnh Thị Kiều N phải nghĩa vụ trả cho bà Thị P số tiền
2.017.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản
tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số
tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí thẩm, nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 06 tháng 4 năm 2026 bà Huỳnh Thị Kiều N có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
N trình bày: Giữ nguyên kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại thủ tục hòa giải niêm yết giấy triệu tập xét xử đối với bị đơn. Trường
hợp Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng thủ tục đảm bảo tyêu cầu sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giấy nợ ngày
3
27/11/2023 do con của N ghi trong sổ của N, chữ trong giấy nợ
của N nhưng những khoản nợ trong giấy nợ không phải N nợ bà P. Đây
những khoản tiền con của N ghi lại để theo dõi. do P tờ giấy này là
do P thường xuyên nhà N N bị mất quyển sổ này. Bà N không nợ
P số tiền 2.017.000.000 đồng, mặt khác cùng ngày 27/11/2023 P còn viết
biên nhận nợ P số tiền 6.627.000.000 đồng thì không thể nào bà N nợ bà P số
tiền trên vì nếu có thì các bên phải khấu trừ, hơn nữa số tiền bà P nợ N nhiều
hơn số tiền N ghi trong giấy nợ. Giấy nngày 27/11/2023 cũng không thể
hiện N nợ P, nếu nợ phải viết biên nhận nợ, trong khi trong giấy n
không ghi nợ ai, nợ bao nhiêu. Ngoài ra, các tài liệu chứng cứ N nộp tại
Tòa án cấp phúc thẩm chứng minh những khoản tiền ghi trong giấy nợ ngày
27/11/2023 bà N nợ người khác và cũng đã thanh toán xong.
Bà T là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Lê Thị P trình bày: Không
đồng ý toàn bộ lời trình bày của bà N. Giấy nợ ngày 27/12/2023 là bà N nợ bà P,
giấy nợ này ghi trong sổ nợ của P, không phải ghi sổ N như N trình
bày. Các tài liệu chứng cứ mà bà N nộp tại Tòa cấp phúc thẩm, P không thừa
nhận vì không liên quan đến khoản tiền nợ của N.
Luật Trần Hoàng T1 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
N trình bày: Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp thẩm mời hòa giải lần thứ nhất vào ngày
26/01/2026, cùng ngày Tòa án cấp sơ thẩm có quyết định đưa vụ án ra xét xử. B
đơn chỉ được Tòa án triệu tập một lần thì đưa vụ án ra xét xử là vi phạm nghiêm
trọng và ảnh hưởng quyền lợi của bị đơn. Ngày 26/01/2026, Tòa án đưa vụ án ra
xét x nhưng ngày 27/01/2026 nguyên đơn đơn đnghị không tiến hành hòa
giải. Tòa án cấp sơ thẩm niêm yết thủ tục xét xử không đúng quy định pháp luật,
ngày 27/01/2026 Tòa án niêm yết giấy triệu tập xét xử lần 1 đến ngày
11/02/2026 mở phiên tòa lần 1 là chỉ bắt đầu ngày thứ 15, như vậy về thời hạn tố
tụng là chưa đúng. Mặt khác, Tòa án triệu tập xét xử cả hai lần đều niêm yết văn
bản tố tụng với lý do N vắng mặt, trong khi gia đình N 12-13 người
đang sinh sống và kinh doanh tạp hóa nên lúc nào cũng có người ở nhà, nếu thời
điểm tống đạt N vắng mặt thì phải giao lại cho người thân của bà N để người
thân giao lại cho N mới phù hợp quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân
sự. Do Tòa án vi phạm thtục tố tụng làm cho N không thực hiện được
quyền nghĩa vụ của bđơn được phản tố yêu cầu khấu trừ số nợ P còn nợ
N ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản
án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu:
4
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người
tham gia tố tụng: Tất cđều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ
vụ án đến xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án plệ phí Tòa
án: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Huỳnh Thị Kiều N. Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số Bản án thẩm số: 75/2026/DS-ST ngày 09 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Huỳnh Thị Kiều N nộp
trong hạn luật định, phù hợp quy định Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự n
được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều N, Hội
đồng xét xử thấy rằng: Ngày 26/12/2026, Tòa án cấp thẩm Thông báo thụ
vụ án (bút lục 17), cùng với việc giao Thông báo thụ vụ án thì Tòa án cấp
thẩm còn giao cho nguyên đơn bị đơn Thông báo mở phiên họp công khai
chứng cứ và hòa giải theo đó ấn định thời gian mở phiên hòa giải vào lúc 14 giờ
00 phút ngày 26/01/2026 (bút lục 19). Tại phiên hòa giải ngày 26/01/2026 bị
đơn vắng mặt, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành lập biên bản không tiến hành
hòa giải được biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ. Cùng ngày, Tòa án cấp thẩm ban hành Quyết định số:
45/2026/QĐXXST-DS đưa vụ án ra xét xử (bút lục 27). Lẽ ra, tại phiên hòa giải
lần 1 ngày 26/01/2026 bị đơn vắng mặt không do thì a án cấp thẩm
phải hoãn phiên hòa giải và thông báo thời gian mở phiên hòa giải lần thứ 2 nếu
bị đơn vẫn vắng mặt thì mới tiến hành lập Biên bản không tiến hành hòa giải
được và Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ
theo quy định tại khoản 1 Điều 207 khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; ngay sau khi triệu tập hòa giải lần thứ nhất bị đơn vắng mặt không có lý
do, Tòa án cấp thẩm đưa vụ án ra xét xử chưa thực hiện đúng trình tự, thủ
tục tố tụng pháp luật quy định. Mặt khác, ngày 26/01/2026 Tòa án cấp
thẩm có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì ngày 27/01/2026 nguyên đơn mới có
5
đơn đề nghị không tiến hành hòa giải (bút lục 29).
[3] Về nội dung: Xét giấy nợ ngày 27/11/2023 do nguyên đơn cung cấp bị
đơn không thừa nhận. T người đại diện của nguyên đơn cho rằng giấy nợ
này ghi trong sổ nợ của nguyên đơn, còn bđơn cho rằng giấy nợ ghi trong sổ
của bị đơn để bị đơn theo dõi. Nội dung giấy nợ thể hiện nhiều khoản tiền, mỗi
khoản tiền đều ghi chú, số tiền trong giấy nợ cộng lại không đúng
2.017.000.000 đồng. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị đơn cung cấp tài liệu chứng
cứ thể hiện cùng ngày 27/11/2023 giữa nguyên đơn bị đơn còn xác lập một
giao dịch khác nội dung nguyên đơn nợ bị đơn số tiền 6.627.000.000 đồng.
Ngoài ra, bị đơn còn cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh các khoản tiền
100.000.000 đồng tiền thẻ P1 đã thanh toán chuyển khoản xong; số tiền
654.000.000đ đã chuyển khoản cho bà P trong số tiền 1.500.000.000 đồng chuộc
thửa đất số 19 tại khóm V, Phường T; số tiền 360.000.000 đồng tiền mua đất
của ông Văn C, bà N ông C thỏa thuận để N đứng tên thế chấp vay
ngân hàng nhưng sau đó thửa đất tranh chấp với người thứ ba vì vậy bà N trả lại
đất cho ông C thông qua hợp đồng với Trương Thị Dạ T3 y quyền cho
nguyên đơn Thị P nên không nợ tiền bà P; khoản tiền “480-400” là tiền N
làm ăn với bà K và ông Hồ Nhựt T4, ông T4 nhờ bà N cầm cố đất dùm bà K; về
khoản tiền 638.000.000 đồng bà N mua đất của ông N, không nợ bà P. Tại phiên
tòa phúc thẩmP vắng mặt, bà T là người đại diện ủy quyền củaP trình bày
không có ý kiến về các tài liệu chứng cứ bị đơn cung cấp nên không thể đối chất
làm rõ nội dung thanh toán trên.
[4] Căn cứ lời khai của các bên đương sự thể hiện khoản tiền nguyên đơn
khởi kiện bị đơn gồm nhiều khoản nợ khác nhau, trong đó nhiều khoản nợ
liên quan đến chuyển nhượng đất, cầm cố đất, tiền lãi, tiền hụi, tiền thẻ nhưng
chưa được đối chất m từng khoản tiền để xác định khoản tiền nào đã thanh
toán xong; khoản tiền nào được khấu trừ theo ghi chú tại giấy nợ; khoản tiền nào
thỏa thuận giao dịch liên quan với người khác. Giấy nợ ngày 27/11/2023 do
nguyên đơn cung cấp ghi: 100 (tiền thẻ P1), 100 (tiền hụi), tại phiên tòa phúc
thẩm bà T đại diện nguyên đơn cho rằng số nợ này N chưa thanh toán cho bà
P, giấy chuyển khoản ngày 28/11/2023 chuyển khoản số tiền nợ khác không
liên quan; phía N cho rằng ngày 28/11/2023 N đã chuyển khoản số tiền
200.000.000 đồng để thanh toán số tiền trên cho P ghi rõ nội dung chuyển
khoản tiền nên không còn nợ hai khoản tiền này. nhiều mâu thuẫn giữa lời
khai của các bên đương sự, cần phải đối chất làm stiền trong giấy nợ
khoản tiền nào đã thanh toán, khoản tiền nào chưa thanh toán; hay không số
nợ còn liên quan đến quyền lợi của người khác thể hiện qua các chứng từ
6
chuyển khoản giữa bà N, P, ông N, bà T3 để có cơ sở đưa đầy đủ người tham
gia tố tụng và c định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ chấp nhận
hay không căn cứ chấp nhận. Ngoài ra, cần làm giấy nợ ngày 27/11/2023
phải được lấy ra từ sổ nợ của nguyên đơn không, hay từ sổ nợ nào, giấy nợ
còn liên quan đến những khoản nợ nào khác không, giấy nợ thể hiện N còn nợ”
nợ ai nếu giấy nghi trong sổ nợ của nguyên đơn thì tờ giấy nợ ngày
27/11/2023 là khoản nợ gồm nhiều tờ và tờ giấy nợ này được lấy ra trong số các
tờ giấy nợ hay chỉ gồm duy nhất tờ giấy nợ ghi ngày 27/11/2023; giấy nợ ngày
27/11/2023 do nguyên đơn cung cấp có liên quan giấy nợ ngày 27/11/2023 về số
tiền 6.627.000.000 đồng do bị đơn cung cấp không; số tiền “480-400” ghi trong
giấy nợ ngày 27/11/2023 do nguyên đơn cung cấp cùng số tiền 480-400 ghi
trong giấy nợ do bị đơn cung cấp không cũng cần thiết phải thu thập chứng cứ
làm rõ.
[5] Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án cấp thẩm vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng chưa xác minh thu thập đầy đủ chứng cứ làm
ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự mà Tòa án cấp phúc
thẩm không khắc phục được nên Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất hủy Bản
án thẩm số: 75/2026/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 -Vĩnh Long. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 1- Vĩnh Long
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án: N không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long không
phù hợp với nhận định trên nên không có căn cứ chấp nhận.
[8] Quan điểm của Luật sư T1 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho N
phù hợp với nhận định trên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
7
1. Hủy Bản án dân sự thẩm số: 75/2026/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long. Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân
dân khu vực 1- Vĩnh Long thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí dân sự thẩm sẽ được giải quyết khi Tòa án nhân dân khu vực
1-Vĩnh Long xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Huỳnh Thị Kiều N không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
đã nộp ngày 06/4/2026 theo biên lai thu số 0006214 của Thi hành án dân sự tỉnh
Vĩnh Long.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II - TATC;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Chánh án TAND TVL;
- Phòng GĐKTNV&THA TAND TVL;
- TAND khu vực 1 - Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 765/2026/DS-PT Bản án số 765/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 765/2026/DS-PT Bản án số 765/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất