Bản án số 13/2026/KDTM-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2026/KDTM-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 13/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 13/2026/KDTM-PT Bản án số 13/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/KDTM-PT Bản án số 13/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 13/2026/KDTM-PT
Ngày 25-8-2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang
Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư phiên toà: Trần Thị Thu ơng - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Thị Loan - Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ số 15/2026/TLPT-
KDTM ngày 30 tháng 6 năm 2026.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 03/2026/KDTM-ST ngày 15
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T2 (viết tắt là G); địa chỉ: SA Bà T, phường
C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thế K Trưởng bộ phận xử lý nợ
pháp lý Phòng thu hồi nợ và ông Nguyễn H Chuyên viên phòng thu hồi nợ
là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền lại số 688 ngày 24 tháng
8 năm 2026 của Trưởng phòng thu hồi nợ); ông H (có mặt), ông K (vắng mặt).
2. B đơn: Công ty TNHH T3 (viết tắt Công ty T3); địa chỉ: Ngách A, ngõ
F đường N, phường P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Huy T - Giám đốc, (vắng mặt).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2025 quá trình tố tụng, người đại diện
hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng G trình bày:
2
Ngày 16/05/2024, giữa Ngân hàng T4 Chi nhánh T5 (nay Ngân hàng
T2) Công ty TNHH T3 (viết tắt Công ty T3) đã Hợp đồng tín dụng số
0374/2024/TDO22/HDTD với tổng giá trị cho vay không vượt quá: 677.000.000
đồng (Sáu trăm bảy mươi bảy triệu đồng chẵn); thời gian vay vốn: 84 tháng (kể
từ ngày 17/05/2024 đến ngày 16/05/2031); lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất điều
chỉnh theo Chương trình “Vay ưu đãi – vững tương lai” theo Công văn số
657/2024/TGĐ-NHDK15+10+12+13 ngày 02/05/2024. Lãi suất ưu đãi cố định
trong 18 tháng đầu là 7.5%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo được xác định
theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm xác định lãi suất cho vay, tuân thủ
theo chính sách lãi suất của Ngân hàng tại từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng
150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm
trả lãi: Bên vay phải trả lãi chậm trả tính trên số lãi chậm trả tương ứng với
thời gian lãi chậm trả. Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Mục đích vay vốn: Thanh
toán tiền mua ô tải pickup cabin kép, nhãn hiệu NISSAN, số loại: NAVARA
VL, màu trắng, 05 chỗ ngồi, sản xuất tại Thái Lan. Hình thức trả nợ: Gốc, lãi trả
vào ngày 15 hàng tháng; ngày đầu tiên trả gốc, lãi ngày 15/06/2024. Trường
hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ sẽ không được áp dụng lãi suất vay theo chương trình
ưu đãi; Thực trạng giải ngân: Căn cứ Giấy nhận nợ số
0374/2024/TDO22/GNN001 ngày 16/05/2024, và Công ty TNHH T3 đã được G
giải ngân số tiền 667.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là 01 ô tải pickup cabin kép màu trắng,
nhãn hiệu: NISSAN, số loại: NAVARA VL, số chỗ ngồi: 05, số khung:
MNTCBND23Z0002154, số máy YS23472950A, biển kiểm soát: 88C-275.28
sản xuất tại Thái Lan theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai
số 0084/2024/HĐTC/GPB-TDO22 ngày 14/05/2024.
Quá trình giải quyết khoản nợ: Ngày 15/07/2024, khoản vay theo Hợp đồng tín
dụng trên của Công ty T3 chuyển nợ quá hạn. Kể từ thời điểm Công ty T3 phát
sinh nợ quá hạn, G đã nhiều lần làm việc và yêu cầu Công ty T3 người liên
quan thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và có biên bảnm việc kèm theo.
Công ty T3 đã rất nhiều lần cam kết về kế hoạch trả nợ. Tuy nhiên, đến nay Công
ty T3 không thực hiện đầy đnghĩa vụ đã cam kết, cố ý trốn tránh, không hợp tác
với Ngân hàng để hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Do đó Ngân hàng G yêu cầu Công ty TNHH T3 thanh toán cho Ngân hàng T2
tổng số tiền 698.511.536 đồng, trong đó nợ gốc 576.932.218 đồng; nợ lãi quá
hạn là 121.579.318 đồng.
Buộc Công ty TNHH T3 tiếp tục thanh toán lãi quá hạn theo thỏa thuận tại
Hợp đồng tín dụng đã kể từ ngày 16/5/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản
nợ.
Kể từ ngày Q định/Bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty TNHH T3 không
thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền
3
yêu cầu quan thi hành án tiến hành biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản
vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay, tài sản bảo đảm 01 ô tải pickup
cabin kép màu trắng, nhãn hiệu: NISSAN, sloại: NAVARA VL, số chỗ ngồi:
05, số khung: MNTCBND23Z0002154, số máy YS23472950A, biển kiểm soát:
88C-275.28 sản xuất tại Thái Lan.
Nếu số tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho
Ngân hàng thì Công ty TNHH T3 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
Ngân hàng T2 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH T3 - ông Nguyễn Huy
T1 trình bày: Công ty TNHH T3 ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng T4 (nay là
Ngân hàng T2) với số tiền vay là 667.000.000 đồng; mục đích là mua 01 xe ô
tải pickup kép màu trắng, nhãn hiệu NISSAN, loại NAVARA VL Biển kiểm soát
88C-275.28 để phục vụ hoạt động kinh doanh; thời hạn vay 84 tháng lãi suất ưu
đãi vay cố định trong 18 tháng đầu là 7,5%/năm lãi suất cho vay các kỳ tiếp
theo được xác định theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm xác định lãi suất
cho vay, tuân thủ theo chính sách lãi của ngân hàng tại từng thời kỳ; lãi suất phạt
quá hạn 150%/năm; lãi chậm trả tính trên nợ i chậm trả tương ứng với thời
gian chậm trả 10%/năm. Để đảm bảo khoản vay Công ty TNHH T3 thế chấp
01 ô ô tải pickup cabin kép màu trắng, nhãn hiệu: NISSAN, số loại:
NAVARA VL, số chỗ ngồi: 05, số khung: MNTCBND23Z0002154, số máy
YS23472950A, biển kiểm soát: 88C-275.28 sản xuất tại Thái Lan này để bảo lãnh
khoản vay. Quá trình công ty làm ăn thua lỗ nên công ty mới trả được một phần
tiền gốc tiền lãi. Do Công ty hiện tại gặp khó khăn nên không thể thanh toán
một lúc số tiền gốc và lãi trên được nên đề nghị Ngân hàng G cho Công ty T3 trả
toàn bộ số tiền trên vào ngày 03/5/2026 và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng
và giấy nhận nợ.
Với nội dung như trên, tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số
03/2026/KDTM-ST ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9
Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 39;
Khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 91; khoản 2 Điều
95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 299 Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lphí Tòa án; khoản
2, 3,4 Điều 8; điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2.
Buộc Công ty TNHH T3 trả nợ cho Ngân hàng T2 số tiền gốc, tiền lãi và
lãi phạt quá hạn, lãi chậm trả tính đến hết ny 15/5/2026 698.511.536 đồng
4
(Sáu trăm chín ơi tám triệu năm trăm mười một nghìn năm trăm ba ơi sáu
đồng) trong đó nợ gốc là 576.932.218 đồng; nợ lãi quá hạn 121.579.318 đồng
và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 16/5/2026 theo mức lãi suất quá hạn là 15,3%/ năm
trên số tiền nợ gốc cho đến khi thi hành án xong.
Trường hợp Công ty TNHH T3 không trả được số tiền nợ nêu trên thì Ngân
hàng T2 quyền yêu cầu quan Thi hành án dân sự phát mại xtài sản theo
Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 0084/2024/HĐTC/GPB-
TD022 ngày 14/5/2024, sau khi thu hồi được tài sản thế chấp là 01 ô tải pickup
cabin kép màu trắng, nhãn hiệu: NISSAN, sloại: NAVARA VL, số chỗ ngồi:
05, số khung: MNTCBND23Z0002154, số máy YS23472950A, biển kiểm soát:
88C-275.28 sản xuất tại Thái Lan để thu hồi nợ.
Trường hợp việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để Ngân hàng T2 thu
hồi nợ, Công ty TNHH T3 tiếp tục phải trả nợ cho Ngân hàng T2 cho đến khi
thanh toán hết nợ.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án theo quy
định của pháp luật cho các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 26/5/2026 nguyên đơn Ngân hàng G kháng cáo đề
nghị sửa một phần bản án thẩm về phần lãi suất quá hạn theo mức lãi suất
24%/năm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn sửa đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị Công ty
T3 phải chịu lãi suất quá hạn kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử thẩm cho đến
khi thanh toán xong với mức lãi suất quá hạn là 24%/năm trên số tiền ngốc theo
Thông báo số 324 ngày 22/4/2025 của Ngân hàng G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm khẳng
định trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm
phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố
tụng theo quy định; các đương sự chấpnh đúng quy định của pháp luật. Kiểm
sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo, áp dụng
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thtục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng G là hợp
lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 16/05/2024, giữa Ngân hàng T4 Chi nhánh T5 (Nay Ngân hàng T2)
Công ty TNHH T3 đã Hợp đồng tín dụng số 0374/2024/TDO22/HĐTD,
giấy nhận nợ số 0374/2024/TDO22/GNN001 theo đó Ngân hàng cho Công ty T3
vay số tiền 667.000.000 đồng; lãi suất cho vay cố định trong 18 tháng đầu
7,5%/năm; lãi suất cho vay các k tiếp theo được xác định theo thông báo của
Ngân hàng tại thời điểm xác định lãi suất cho vay, tuân thủ theo chính sách lãi
suất của Ngân hàng tại từng thời kỳ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay
5
trong hạn tại thời điểm chuyển nquá hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty
T3 đã trả được 90.067.782 đồng tiền gốc lãi. Do không trả được gốc và lãi theo
thỏa thuận nên Ngân hàng G khởi kiện yêu cầu Công ty T3 thanh toán cho Ngân
hàng tổng stiền là 698.511.536 đồng, trong đó nợ gốc 576.932.218 đồng
nợ lãi quá hạn là 121.579.318 đồng.
Với nội dung nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng G, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
Quá trình tố tụng tại cấp thẩm, đại diện Ngân hàng G căn cứ vào thỏa
thuận tại Hợp đồng n dụng để xác định lãi suất trong hạn 10,2% lãi suất
quá hạn 15,3% tương ứng với 150% của mức lãi suất trong hạn. Ngân hàng yêu
cầu Công ty T3 phải trả tổng stiền 698.511.536 đồng, trong đó ngốc
576.932.218 đồng nợ lãi qhạn 121.579.318 đồng. Yêu cầu của Ngân hàng
về mức lãi suất quá hạn 15,3% đúng với sự thỏa thuận của các bên trong hp
đồng tín dụng nên Tòa án cấp thẩm buộc Công ty T3 phải trả 121.579.318 đồng
tiền lãi quá hạn đến ngày xét xử thẩm căn cứ. Ngoài ra, tại phiên tòa
thẩm, đại diện Ngân hàng yêu cầu Công ty T3 chỉ phải trả lãi trên số nợ gốc theo
mức lãi suất 15,3% cho đến khi trả nợ xong. Đây là stự nguyện của nguyên đơn
không trái quy định của pháp luật nên Tòa án cấp thẩm buộc Công ty T3
còn phải nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 15,3% cho đến khi thi
hành án xong là đúng pháp luật.
vậy, Ngân hàng căn cứ vào Thông báo số 324 ngày 22/4/2025 để yêu
cầu Công ty T3 phải chịu lãi suất quá hạn với mức 24%/năm trên số nợ gc kể từ
ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong không
sở. Bởi lẽ, Ngân hàng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác việc
thay đổi yêu cầu về mức lãi suất quá hạn tại phiên tòa phúc thẩm không
do chính đáng nên không được chấp nhận.
Từ phân tích nêu trên thấy rằng, yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng không
có cơ sở nên không được chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị
của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Tại phần quyết định của Bản án thẩm tuyên Trường hợp việc phát
mại tài sản thế chấp không đủ để Ngân hàng T2 thu hồi nợ, Công ty TNHH T3
tiếp tục phải trả nợ cho Ngân hàng T2 cho đến khi thanh toán hết nợ” không
đúng, đây là quyền của đương sự tại cơ quan thi hành án, Tòa án cấp thẩm cần
rút kinh nghiệm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự; ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng T2 (Ngân hàng G); giữ
nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 03/2026/KDTM-ST ngày 15
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2 (Ngân hàng G).
Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng T2 tổng số tiền
698.511.536 đồng (Sáu trăm chín mươi tám triệu năm trăm mười một nghìn năm
trăm ba mươi sáu đồng), trong đó số tiền gốc là 576.932.218 đồng và tiền lãi quá
hạn là 121.579.318 đồng.
Kể tngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 16/5/2026, cho đến khi
thi hành xong, Công ty TNHH T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc
576.932.218 đồng (Năm trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm ba mươi hai nghìn hai
trăm mười tám đồng) theo mức lãi suất 15,3%/năm.
2. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
0084/2024/HĐTC/GPB-TD022 ngày 14/5/2024 giữa Ngân hàng G với Công ty
TNHH T3 có hiệu lực pháp luật.
Tài sản thế chấp 01 ô tải pickup cabin kép màu trắng, nhãn hiệu:
NISSAN, số loại: NAVARA VL, số chỗ ngồi: 05, số khung:
MNTCBND23Z0002154, số máy YS23472950A, biển kiểm soát: 88C-275.28
sản xuất tại Thái Lan.
3. Về án phí:
Ngân hàng T2 không phải chịu án pkinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả
lại Ngân hàng T2 số tiền 14.740.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005680 ngày 19/12/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh P Thọ.
Công ty TNHH T3 phải chịu 31.940.400 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm
bốn mươi nghìn bốn trăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng T2 phải chịu 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) án phí kinh doanh
thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng)
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0005146 ngày 02/6/2026. Xác
nhận đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 36 và 72 Luật thi
7
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật thi hành án dân sự năm 2025./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;
- Chi cục THADS khu vực 9 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thanh Danh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Vĩnh Thành Nguyễn Xuân Trọng
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Danh
8
Hơn nữa, Thông báo s324 ngày 22/4/2025 nội dung không phù hợp
với Quyết định số 1201/2024/QĐ-TGĐ ngày 12/12/2024 của Tổng giám đốc
Ngân hàng G về việc ban hành “các biểu lãi suất áp dụng tại các chi nhánh trong
hệ thống G”, theo đó sàn lãi suất cho vay là 10.2%/năm. Thông báo của Ngân
hàng G - Chi nhánh T5 không phải là căn cứ sửa đổi thỏa thuận về cách xác định
lãi suất quá hạn trong Hợp đồng tín dụng. Trong Hợp đồng tín dụng đã quy định
riêng về lãi suất quá hạn theo mốc thời gian cụ thể “Tại thời điểm chuyển
nhượng quá hạn”. Do đó không có căn cứ đHội đồng xét xchấp nhận nội dung
kháng cáo của Ngânng G về yêu cầu tính lãi suất quá hạn 24%/năm.
9
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 13/2026/KDTM-PT Bản án số 13/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/KDTM-PT Bản án số 13/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất