Bản án số 1277/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1277/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1277/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1277/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu C, ông Huỳnh Trường V, bà Huỳnh Thị Thu H và bà Huỳnh Thị Thu V1; - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Hồng N, ông Lê Hồng T1, ông Phạm Minh N1, bà Đào Thiên K1 và ông Phạm Nhựt M; - Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N3.Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1277/2026/DS-PT Bản án số 1277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1277/2026/DS-PT Bản án số 1277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1277/2026/DS-PT
Ngày: 09 - 9 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm
Các thẩm phán: Ông Bùi Thanh Quốc
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông Thư Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Sơn Cươl -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Vào các ngày 07, 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1207/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 7 năm 2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 04/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1647/2026/-PT ngày
28 tháng 7 năm 2026. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Huỳnh Thị Thu C, sinh năm 1959;
2. Ông Huỳnh Trường V, sinh năm 1962;
Cùng địa chỉ: Số H T, phường N, thành phố Cần Thơ.
3. Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số D, đường T, phường
V, thành phố Cần Thơ;
4. Bà Huỳnh Thị Thu V1, sinh năm 1969; địa chỉ: Số H T, phường S, thành
phố Cần Thơ;
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: ông Ngọc K, sinh
năm 1977. Địa chỉ: Số E - N, phường B, thành phố Cần Thơ. (Theo Giấy ủy quyền
ngày 15/3/2024) - (có mặt).
- Bị đơn:
2
1. Đỗ Hồng N, sinh năm: 1960;
2. Ông Lê Hồng S, sinh năm 1950;
Cùng địa chỉ: Số C đường C, phường B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của Đỗ Hồng N ông Hồng S:
Thanh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số B, đường H, khu dân cư H, phường H, thành
phố Cần Thơ. (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/8/2026) – (có mặt).
3. Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1992 - (có mặt).
Địa chỉ: Số C đường C, phường B, thành phố Cần Thơ.
4. Ông Phạm Minh N1, sinh năm 1987; địa chỉ: p L, L, tỉnh Vĩnh
Long.
5. Ông Phạm Nhựt M, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
6. Đào Thiên K1, sinh năm 1989; địa chỉ: A M, phường N, thành phố
Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phạm Minh N1, ông Phạm
Nhựt M Đào Thiên K1: ông Huỳnh N2, sinh năm 1997 và Thị Bích
T2, sinh năm 1997. Địa chỉ: A T, phường T, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy
quyền ngày 06/5/2026) – (ông Huỳnh N2 có mặt, bà Bích T2 vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân phường L, thành phCần Thơ - (đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt).
2. Ông Phạm Văn N3, sinh năm 1952; địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn N3: ông Huỳnh N2, sinh
năm 1997 Thị Bích T2, sinh năm 1997. Địa chỉ: A T, phường T, thành
phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2026) - (ông Huỳnh N2 mặt,
Bích T2 vắng mặt).
3. Huỳnh Thị Thu L, sinh năm 1967; địa chỉ: Số I khu V, phường L,
thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên lạc: Số H T, phường N, thành phố Cần Thơ
(vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1968 (đã chết ngày 23/02/2026);Có
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng Mai Thị Hồng T3, sinh năm 1968;
ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1988; ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1991;
Cùng địa chỉ: Số D ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ - (vắng mặt).
5. Văn Phòng C3; địa chỉ: Số G đường C, phường B, thành phố Cần Thơ -
(vắng mặt).
6. Văn phòng C4; địa chỉ: SC N, phường C, thành phố Cần Thơ (đơn
yêu cầu giải quyết vắng mặt).
7. Huỳnh Kim T5, sinh năm 1958; địa chỉ: Số C ấp T, V, tỉnh An
Giang.
8. Ông Huỳnh Trường V2, sinh năm 1953; địa chỉ: Ấp T, V, tỉnh An
Giang;
3
Người đại diện theo y quyền của Huỳnh Kim T5 ông Huỳnh Trường
V2: ông Võ Ngọc K, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số E, đường N, phường B, thành ph
Cần Thơ. (Theo các Giấy ủy quyền ngày 15/3/2024) – (có mặt).
9. Ông Huỳnh Minh C1, sinh năm 1951 (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C1:
9.1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1956 - (vắng mặt);
9.2 Bà Huỳnh Thị Thu H2, sinh năm 1979 - (vắng mặt);
9.3 Bà Huỳnh Thị Bích N4, sinh năm 1983 - (vắng mặt);
9.4 Ông Huỳnh Trường N5, sinh năm 1987 - (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số C, khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ.
9.5 Huỳnh Thị Hồng T6, sinh năm 1981; địa chỉ: Số C, Tổ B, Khu V,
phường T, thành phố Cần Thơ - (vắng mặt);
10. Ông Hồ Duy T7, sinh năm 1990 - (vắng mặt); địa chỉ: 1- X, phường N,
thành phố Cần Thơ.
11. Ông Hữu P, sinh năm 1973 - (đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). Địa
chỉ: B, khu V, phường A, thành phố Cần T.
12. Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 2 Cần Thơ (đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt).
- Người kháng cáo:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu C, ông Huỳnh Trường V, bà Huỳnh Thị Thu
H Huỳnh Thị Thu V1; bị đơn Đỗ Hồng N, ông Hồng T1, ông Phạm
Minh N1, ông Phạm Nhựt M Đào Thiên K1; người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông Phạm Văn N3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung
vụ án được xác định như sau:
Theo các đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Huỳnh Thị Thu L chị em của các nguyên đơn, năm 2007 L vay
của ông Phạm Văn N3 số tiền 200.000.000 đồng, ông N3 có yêu cầu L thế chấp
tài sản. Theo đó L đã giao cho ông N3 bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H04127 do mẹ ruột là bà Sử Thị T8 đứng tên. Khi nhận tiền hai bên có
đến Phòng công chứng lập hợp đồng, nhưng hợp đồng kết lại hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng, ghi giá gốc chuyển nhượng là 200.000.000 đồng.
Tuy nhiên, bà T8 không đến Phòng công chứng ký tên và cũng không biết ai đã
tên thay bà. Sau khi xem lại hợp đồng thấy rằng người đứng tên nhận chuyển
nhượng là ông Phạm Minh N1 (con của ông N3). Ông N3 nói với L, khi nào
bà L trả tiền vốn vay và tiền lãi thì ông sẽ trả lại giấy đỏ của T8. Tuy nhiên, ông
N3 lại tiến hành thủ tục sang tên quyền sử dụng đất từ bà Sử Thị T8 sang tên Phạm
Minh N1.
4
Đến năm 2012 ông N3 thông báo khoản nợ của L đã lên đến 700.000.000
đồng nếu không trả tiền thì mất đất. Do đó, L tìm người nhu cầu mua đất để
bán. Do người giới thiệu L gặp ông Nguyễn Văn M1 (đại diện cho Đỗ
Hồng N thương lượng mua đất. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng 2.500m
2
đất 1.370.000.000 đồng. Ngày 16/4/2012 đưa trước 750.000.000 đồng, ngày
29/4/2012 đưa phần còn lại. Vào ngày 16/4/2012 tại quán phê ông M1 đưa cho
L số tiền 50.000.000 đồng, còn 700.000.000 đồng giao cho ông N3. Đến ngày
29/4/2012 ông M1 giao hết số tiền còn lại cho L. Phía nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Tuyên bố vô hiệu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Sử Thị T8 ông Phạm Minh N1 ngày 22/06/2009 đối với thửa đất 399, tờ bản đồ
số 15, diện tích: 2.939m
2
, mục đích sử dụng đất: đất đô thị: 32m
2
, đất trồng cây
lâu năm: 2.907m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay là phường
L), thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 04127 do
UBND quận B cấp ngày 23/08/2007.
2. Tuyên bố hiệu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông
Phạm Minh N1 ông Phạm Nhựt M ngày 20/08/2011 đối với một phần thửa đất
399, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.765,1m
2
, mục đích sử dụng đất: đất đô thị:
32m
2
, đất trồng cây lâu năm: 1.733,1m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L,
quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BA 077001, số vào sổ cấp GCN CH 000173 được UBND quận B cấp
ngày 14/01/2010.
3. Tuyên bố hiệu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Phạm Minh N1, bà Đào Thiên K1 và bà Đỗ Hồng N ngày 16/04/2012 đối
với thửa đất 399, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.105,2m
2
, mục đích sử dụng đất: đất
trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay phường
L), thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận QSDĐ sBD 254552 được UBND
quận B cấp ngày 03/10/2011, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH 04619.
4. Tuyên bố hiệu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Phạm Nhựt M Đỗ Hồng N ngày 16/04/2012 đối với thửa đất 2076,
tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.764,9m
2
, mục đích sử dụng đất: đất ở đô thị: 32m
2
, đất
trồng cây lâu năm: 1.732,9m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay
là phường L), thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD
254551, được UBND quận B cấp ngày 03/10/2011, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CH
04618.
5. Tuyên bố hiệu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa
Đỗ Hồng N, ông Hồng S ông Hồng T1 ngày 09/05/2017 đối với thửa đất
2076, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.764,9m
2
, mục đích sử dụng đất: đất đô thị:
32m
2
, đất trồng cây lâu năm: 1.732,9m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L,
quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử
5
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD432518 (số vào
sổ CH05446), do UBND quận B cấp ngày 10/05/2012 và thửa đất số 399, tbản
đồ số 15, diện ch: 1.105,2m
2
, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm, địa
chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ,
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số BD432517 (số vào sổ CH05445), do UBND quận B cấp ngày
10/05/2012.
6. Yêu cầu Tòa án buộc Đỗ Hồng N, ông Hồng S, ông Hồng T1
giao trả toàn bộ phần đất diện tích 2.870,1m
2
, bao gồm: thửa đất số 399, diện
tích: 1.105,2m
2
, loại đất: CLN, thửa đất số 2076, diện tích: 1.764,9m
2
, loại đất:
ODT + CLN (có 32,0m
2
đất ODT), tờ bản đồ số 15, địa chỉ: khu V, phường L,
quận B (nay phường L), thành phố Cần Thơ, theo Bản trích đo địa chính số
06/TTKTTNMT do Trung tâm K4 Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập
ngày 09/03/2018, căn nhà diện tích 5,5m x 12,35m = 67,93m
2
, 03 ngôi mộ toàn
bộ cây trồng trên đất cho những người thừa kế của ông Huỳnh Trường C2 và bà Sử
Thị T8.
7. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 967999, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 04127/LH do UBND quận B, thành phố Cần
Thơ cấp ngày 23/08/2007, đứng tên Sử Thị T8, đối với thửa đất 399, tờ bản đồ số
15, diện tích: 2.939m
2
, mục đích sdụng đất: đất đô thị: 32m
2
, đất trồng cây lâu
năm: 2.907m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay phường L),
thành phố Cần T.
8. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất sBA 077001, số vào sổ cấp GCN CH 000173 được UBND
quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 14/01/2010, đứng tên Phạm Minh N1, đối
với thửa đất 399, tờ bản đồ số 15, diện tích: 2.870,1m
2
, mục đích sử dụng đất: đất ở
đô thị: 32m
2
, đất trồng y lâu năm: 2.838,1m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B,
phường L, quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ.
9. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BD 254552 số vào sổ cấp GCN CH 04619 do UBND quận
B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 03/10/2011, đứng tên Phạm Minh N1, đối với thửa
đất 399, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.105,2m
2
, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây
lâu năm, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay phường L), thành
phố Cần Thơ.
10. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BD 254551, số vào sổ cấp GCN CH 04618 do UBND
quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 03/10/2011, đứng tên Phạm Nhựt M, đối với
thửa đất 2076, tờ bản đồ số 15, diện tích: 1.764,9m
2
, mục đích sử dụng đất: đất
đô thị: 32m
2
, đất trồng y lâu năm: 1.732,9m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B,
phường L, quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ.
6
11. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số BD 432518, số vào sổ cấp GCN CH 05446, do UBND
quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 10/05/2012, đứng tên Đỗ Hồng N, chỉnh
sang tên cho Lê Hồng T1 ngày 26/05/2017, đối với thửa đất 2076, tờ bản đồ số 15,
diện tích: 1.764,9m
2
, mục đích sử dụng đất: đất đô thị: 32m
2
, đất trồng cây u
năm: 1.732,9 m
2
, địa chỉ thửa đất: khu vực B, phường L, quận B (nay phường
L), thành phố Cần Thơ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở
tài sản khác gắn liền với đất số BD 432517 số vào sổ cấp GCN CH 05445, do
UBND quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 10/05/2012 đứng tên Đỗ Hồng N,
chỉnh sang tên cho Lê Hồng T1 ngày 26/05/2017, thửa đất số 399, tờ bản đồ số
15, diện tích: 1.105,2m
2
, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa
đất: khu vực B, phường L, quận B (nay là phường L), thành phố Cần Thơ.
12. Những người thừa kế của ông Huỳnh Trường C2 và bà Sử Thị T8 được
quyền đăng lại quyền sdụng đất đối với phần đất diện tích 2.870,1m
2
, bao
gồm: thửa đất số 399, diện tích: 1.105,2m
2
, loại đất: CLN, thửa đất số 2076, diện
tích: 1.764,9m
2
, loại đất: ODT + CLN (có 32,0m
2
đất ODT), tờ bản đồ số 15, địa
chỉ: khu V, phường L, quận B (nay phường L), thành phố Cần Thơ, theo Bản
trích đo địa chính số 06/TTKTTNMT do Trung tâm K4 Sở Tài nguyên i
trường thành phố C lập ngày 09/03/2018.
Giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu, bị hủy: bà N, ông S, ông T1,
L, ông N3, ông N1, bà K1, ông M tự giải quyết với nhau, trường hợp không có yêu
cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này thì đề nghị Tòa án tách ra giải quyết bằng vụ
án khác.
- Tuyên bố hiệu hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông
Hồng T1 và ông Hồ Duy T7 ngày 09/3/2025 đối với thửa 2076, tờ bản đồ số 15,
diện tích 1.764,9m
2
; thửa 399, diện tích 1.105,2m
2
địa chỉ khu vực B, phường L,
thành phố Cần Thơ.
- Yêu cầu ông Hồ Duy T7 phải di dời máy móc, thiết bị, vật liệu tài sản khác
của ông T7 ra khỏi thửa đất số 2076, 399; tờ bản đồ số 15, địa chỉ khu vực B,
phường L, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Hồng N, ông Lê Hồng S trình bày
yêu cầu phản tố:
Ngày 16/4/2012 N nhận chuyển nhượng một mảnh đất thứ nhất của
ông Phạm Nhựt M, diện tích 1.764,9m
2
thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 15; Cùng
ngày bà nhận chuyển nhượng thửa đất thứ hai của ông Phạm Minh N1, Đào
Thiên K1 diện tích 1.105,2m
2
, thuộc thửa 399, tờ bản đồ số 15. Đất tọa lạc tại khu
vực B, phường L, thành phố Cần Thơ. Trước thời gian bà nhận chuyển nhượng đất
thì không biết chỉ dựa vào giấy đất Phòng Tài nguyên Môi trường quận
Văn phòng Công chứng quận B đầy đủ thủ tục nên bà mới mua.
Nay ông bà phản tố yêu cầu:
7
- Yêu cầu tòa án xác định Đỗ Hồng N người thứ ba ngay tình được
pháp luật bảo vệ khi nhận chuyển nhượng 02 (hai) thửa đất số 399, 2076 của ông
Phạm Minh N1, bà Đào Thiên K1 ông Phạm Nhựt M; công nhận 02 (hai) hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 99, 100 cùng ngày
16/04/2012 giữa vợ chồng ông Phạm Minh N1, Đào Thiên K1; ông Phạm
Nhựt M với Đỗ Hồng N để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất số
2076 thửa 399 hợp pháp; công nhận các Giấy chứng nhận QSDĐ số
BD432518 (số vào sổ CH05446) và số BD432517 (số vào sổ CH05445) mà
UBND quận B cấp cho bị đơn là hợp pháp.
- ng nhận Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa bà Đỗ Hồng N, ông Lê Hồng S
cho ông Lê Hồng T1 lập ngày 09/05/2017 là hợp pháp và công nhận 02
Giấy chứng nhận QSDĐ UBND quận B cấp cho Đỗ Hồng N chỉnh sang
tên cho Lê Hồng T1 vào cùng ngày 26/05/2017 là hợp pháp.
- Trong trường hợp Tòa án tuyên các giao dịch chuyển nhượng QSD 02 thửa
đất nêu trên giữa ông Phạm Minh N1, Đào Thiên K1 ông Phạm Nhựt M với
Đỗ Hồng N hiệu thì đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu theo quy định của pháp luật dân sự: Buộc các bên giao dịch nhận tiền của ông
bà trả lại tiền đã nhận, bồi thường thiệt hại cho ông bà bằng với giá trị tài sản tranh
chấp tại thời điểm giải quyết vụ kiện bồi thường thiệt hại cho ông về công
sức đầu tư, tôn tạo nâng giá trị phần đất đó trong quá trình ông ông
Hồng T1 quản lý, khai thác, sử dụng bị đơn không lỗi trong các giao dịch
này.
- Bị đơn ông Lê Hồng T1 trình bày:
Ngày 09/05/2017, ông được cha mẹ Đỗ Hồng N ông Hồng S
tặng cho hợp pháp 02 thửa đất số 399 (diện tích 1105,2m
2
, giấy chứng nhận QSD
đất số BD432517, số vào sổ CH05445) thửa đất số 2076 (diện tích 1764,9m
2
,
giấy chứng nhận QSD đất số BD432518, số vào sổ CH05446), cùng tờ bản đồ số
15, đất tọa lạc tại khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng tặng cho
được công chứng tại Văn phòng C3 (số C, quyền số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD)
ngày 09/05/2017, đã hoàn thành thủ tục chỉnh sang tên cho Hồng T1 ngày
26/05/2017; ông là người đứng tên trên giấy chứng nhận và sử dụng khai thác (cho
thuê) từ đó cho đến nay.
Hai thửa đất này mẹ ông (Đỗ Hồng N) cũng nhận chuyển nhượng hợp pháp
từ vợ chồng ông Phạm Minh N1, bà Đào Thiên K1 (thửa đất số 399) ông Phạm
Nhựt M (thửa 2076) từ ngày 16/04/2012. Giao dịch tặng cho ông 02 thừa đất 399
và 2076 của cha mẹ ông (bà N và ông S) ngày 09/05/2017 cũng như giao dịch nhận
chuyển nhượng 2 thửa đất nói trên của cha mẹ của ông từ ông Phạm Minh N1,
Đào Thiên K1 ông Phạm Nhật M2 đều diễn ra đúng bản chất của giao dịch,
đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đã hoàn tất đăng quyền sở hữu. Tại
thời điểm được tặng cho, ông không biết không bắt buộc phải biết giao dịch
8
chuyển nhượng 2 thửa đất này trước đây giữa Sử Thị T8 ông N1 là hợp pháp
hay giả mạo. Trường hợp này, ông cũng như cha mẹ ông (bà N, ông S) người
thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ theo khoản 2, Điều 133 Bộ luật Dân sự
2015 “Trường hợp giao dịch dân sự hiệu nhưng tài sản đã được đăng tại
quan nhà nước thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân
sự khác cho người thứ ba ngay tình người này căn cứ vào việc đăng đó
xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị hiệu". Do đó, giao dịch
tặng cho và giao dịch chuyển nhượng 02 thửa đất nói trên không bị vô hiệu dù giao
dịch giữa ông Phạm Minh N1 và bà Sở Thị T9 (có thể) bị xác định vô hiệu.
vậy, ông T1 không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn tuyên hiệu
hủy hợp đồng tặng cho số 1081 ngày 09/05/2017 giữa bà N, ông S Hồng T1,
cũng như yêu cầu tuyên hiệu hủy 2 hợp đồng chuyển nhượng ngày
16/04/2012 giữa Đỗ Hồng N với ông N1, K1 và ông M2 yêu cầu tuyên
hủy các Giấy chứng nhận QSD đất số BD432518 (số vào số CH05446) và số
BD432517 (số vào số CH05445) chỉnh lý sang tên cho ông cùng ngày 26/05/2017.
- Ông Nguyễn Văn M1 vắng mặt nhưng trong bản tự khai ngày 26/9/2017
ông M1 lời trình bày: Ông người đại diện cho N mua đất của L hai
anh em Phạm Minh N1, Phạm Nhựt M chuyển nhượng cho Đỗ Hồng N.
L bán cho bà N 2.500m
2
đất chừa lại 370m
2
làm phần mộ, khi nào bà L di dời phần
mộ thì bà N trả tiền diện tích 220m
2
theo giá bán năm 2012.
- Huỳnh Thị Thu L vắng mặt, trong bản tự khai L trình bày: Do làm
ăn thua lỗ nên mượn bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ của mẹ là Sử Thị
T8 đứng tên để thế chấp vay tiền của ông Phạm Văn N3. Được sự đồng ý của
T8 nên chở T8 đến Phòng công chứng 24 giờ làm thủ tục thế chấp vay số
tiền 200.000.000 đồng của ông N3. Tại phòng công chứng 24h đã giao bản gốc
giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N3. Những tháng đầu bà có đóng lãi cho ông N3,
sau đó, do không khả năng đóng lãi nữa, vốn vay cộng lãi tăng dần lên ông
N3 báo cho biết số tiền nợ 700.000.000 đồng. Ông N3 cho rằng, nếu
tìm được người mua đất thì ông sẽ cho mượn lại giấy đỏ. Năm 2012 ông Hai M3,
ông Nguyễn Văn M1, ông Sử Văn Đ tìm để thoả thuận mua đất. cho
T8 biết. Bà và ông M3, ông M1, ông Đ gặp nhau thỏa thuận giá cả. Ông M1 đại
diện cho bà Đỗ Hồng N thống nhất giá chuyển nhượng diện tích 2.500m
2
với giá
580.000.000 đồng/1.000m
2
. Sau khi trừ tiền cho ông M3, ông M1 thì số tiền ông
M1 phải trả 1.370.000.000 đồng. Ngày 16/4/2012 nhận của ông M1
50.000.000 đồng tiền cọc. Ông M1 cho biết N sẽ giao cho ông M1 số tiền
700.000.000 đồng tại phòng công chứng để cấn trừ nợ gốc và tiền lãi bà đã vay của
ông N3. Trong biên nhận ngày 16/4/2012 ông M1 ghi nhận sẽ chừa lại cho bà
T8 370m
2
đất làm nền mộ cho gia tộc (cùng thỏa thuận đường đi vào phần đất mộ
chiều ngang 01 mét giáp ranh với đất của Phạm Thị K2). Ngày 21/5/2012
ông M1 tìm cho rằng đất mồ mả nên yêu cầu dời mộ đi nơi khác nếu
9
không thì phải trả tiền lại cho N. Do rơi vào thế kẹt nên mới đồng ý vào
giấy bán đất ngày 21/5/2012 nhưng không nhận tiền. Đến ngày 22/5/2012 ông
M1 hẹn đến nhà ông Sử Văn Đ để nhận số tiền còn lại 620.000.000 đồng của
diện tích 2.500m
2
. Tổng cộng nhận 670.000.000 đồng. Ông N3 nhận
700.000.000 đồng tiền gốc tiền lãi của bà. Theo đó, mẹ của vẫn còn lại diện
tích 370m
2
đất mồ mả và đường đi vào khu mộ.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông HDuy T7 trình bày: Ngày
09/3/2025 ông hợp đồng thuê đất với ông Hồng T1 thửa đất 2076, tờ bản
đồ số 15, đất tại khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ với giá 3.000.000
đồng/tháng, thời hạn thuê 05 năm, ông đã đặt cọc cho ông T1 5.000.000đồng, ông
thuê để chứa vật liệu máy móc để thi công. Các tài sản này thể di dời được
nếu Tòa án quyết định buộc ông di dời thì ông sẽ di dời không yêu cầu khác.
Đồng thời yêu cầu ông T1 trả lại cho ông số tiền cọc 5.000.000 đồng.
- Ông Sử Văn Đ đơn xin vắng mặt trong bản tự khai ông Đ trình bày:
Sử Thị T8 không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/2009. Ông
biết việc bà Huỳnh Thị Thu L mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
T8 đvay thế chấp của ông Phạm Văn N3 với số tiền 200.000.000 đồng tại n
phòng C4. Sau đó L đến gặp ông N3 muốn trả nợ vay đồng thời lấy lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì số nợ gốc và lãi đã lên đến 700.000.000 đồng.
Người liên quan ông Lê Hữu P có đơn xin vắng mặt trong bản tự khai ông P
trình bày: ông người đơn yêu cầu ông Hồng T1 thực hiện nghĩa vụ thi
hành án trong một bản án khác, trong vụ kiện này ông không liên quan gì yêu
cầu tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ông Phạm Văn N3, Phạm Minh N1, Phạm Nhựt M, Đào Thiên K1 vắng
mặt suốt quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại Bản án sơ thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 04/3/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1.1. Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
22/6/2009 giữa Sử Thị T8 với Phạm Minh N1, đối với thửa đất 399, tờ bản đồ số
15, giấy chứng nhận QSDĐ số H04127 do Ủy ban nhân dân quận B (cũ) cấp ngày
23/8/2007 đứng tên Sử Thị T8.
1.2. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Minh N1
ông Phạm Nhựt M ngày 20/8/2011 đối với một phần thửa đất số 399, tờ bản đồ số
15, giấy chứng nhận QSDĐ số BA 077001, số vào sổ CH 000173 cấp ngày
14/01/2010;
1.3. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/4/2012 giữa ông Phạm
Minh N1, Đào Thiên K1 với Đỗ Hồng N đối với thửa đất số 399, tờ bản đồ
số 15, giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ CH 04619 cấp ngày 03/10/2011;
10
1.4. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/4/2012 giữa Phạm Nhựt
M với Đỗ Hồng N đối với thửa đất 2076, tờ bản đồ số 15, giấy chứng nhận QSDĐ
số vào sổ CH 04618 cấp ngày 03/10/2011;
1.5. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa và Đỗ Hồng N, ông
Hồng S với ông Lê Hồng T1 đối với các thửa đất số 399 và thửa số 2076, tờ bản đồ
số 15, hợp đồng được công chứng ngày 09/5/2017 tại Văn phòng C3.
1.6. Buộc ông Lê Hồng T1 giao trả toàn bộ diện tích 2.870,1m
2
đất theo Bản
trích đo địa chính số 06/TTKTTNMT lập ngày 09/3/2018 cho những người thừa kế
của bà Sử Thị T8, ông Huỳnh Trường C2.
Về hậu quả của hợp đồng hiệu: N trách nhiệm bồi thường cho ông
T1 số tiền 1.504.200.000 đồng; bà L có trách nhiệm bồi thường cho ông T1 số tiền
1.754.900.000 đồng; ông N3, ông N1 trách nhiệm bồi thường cho ông T1
1.754.900.000 đồng.
Tiền chuyển nhượng đất: bà L trách nhiệm trả N số tiền nhận chuyển
nhượng và lãi1.598.687.000 đồng; ông N3 trách nhiệm trả N số tiền nhận
chuyển nhượng và lãi là 1.670.270.000 đồng.
Ông N3, bà L trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho N trên s tiền nhận
chuyển nhượng, thời gian tính từ tháng 4/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn
bộ khoản tiền mà ông N3, bà L đã nhận chuyển nhượng từ N.
1.7. Ông Hồ Duy T7 trách nhiệm di dời máy móc, thiết bị thi công công
trình khỏi các thửa đất số 399 và thửa số 2076, tờ bản đồ số 15.
Ông Hồng T1 trách nhiệm trả lại cho ông Thông số tiền đặt cọc
5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
1.8. Kiến nghị quan thẩm quyền thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy
chứng nhận QSDĐ cho đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự có đơn kháng cáo.
Các nguyên đơn là Huỳnh Thị Thu C, ông Huỳnh Trường V, Huỳnh
Thị Thu H, Huỳnh Thị Thu V1 kháng cáo, yêu cầu sửa bản án thẩm theo
hướng tuyên hiệu hợp đồng tặng cho ngày 20/8/2011; tuyên hiệu các hợp
đồng chuyển nhượng ngày 16/4/2012; tuyên hiệu hợp đồng tặng cho ngày
09/5/2017; buộc ông T1 giao toàn bộ diện tích 2.870,1m
2
đất cho người thừa kế
của ông Huỳnh Trường C2 Sử Thị T8 bao gồm Huỳnh Thị Thu C, Huỳnh
Trường V, Huỳnh Thị Thu H, Huỳnh Thị Thu L, Huỳnh Thị Thu V1, Huỳnh
Trường V2, Huỳnh Kim T5, Huỳnh Minh C1 (chết, người thừa kế gồm: Nguyễn
Thị L1, Huỳnh Trường N5, Huỳnh Thị Thu H2, Huỳnh Thị Bích N4, Huỳnh Thị
Hồng T6); hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất buộc bị đơn chịu toàn
bộ chi phí đo đạc, định giá, giám định.
Bị đơn Đỗ Hồng N kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án thẩm theo
hướng không buộc chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Hồng T1 số tiền
1.500.000.000 đồng tương ứng mức lỗi 30%, vì bà cho rằng mình không có lỗi.
11
Bị đơn ông Hồng T1 kháng cáo, yêu cầu không buộc N chịu trách
nhiệm bồi thường cho ông; đề nghị những người thừa kế của Sử Thị T8, ông
Huỳnh Trường C2 ông Phạm Văn N3, ông Phạm Minh N1, Đào Thiên K1,
ông Phạm Nhựt M liên đới chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thường cho ông.
Bị đơn ông Phạm Minh N1 kháng cáo yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và không buộc ông liên đới bồi thường cho ông T1.
Bị đơn Đào Thiên K1 ông Phạm Nhựt M kháng cáo yêu cầu bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N3 kháng cáo yêu
cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không buộc ông liên đới bồi
thường cho ông T1 số tiền 1.754.900.000 đồng; không buộc ông trả bà N số tiền
1.670.270.000 đồng và tiền lãi; không buộc ông chịu án phí sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các đương skháng cáo trong hạn luật định, nộp tạm ứng án phí kháng
cáo nên kháng cáo của các đương sự là hợp lệ về hình thức.
+ Về nội dung: Do xác định hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/6/2009
hiệu là có căn cứ, nên cần xem xét, đánh giá toàn diện về lỗi phát sinh do hợp đồng
hiệu xác định đúng bản chất giao dịch của từng người. Người trực tiếp vay
của ông N3 và thỏa thuận, giao dịch tiền chuyển nhượng trực tiếp với ông M1 là bà
Huỳnh Thị Thu L. Cấp thẩm xác định mức độ lỗi trách nhiệm bồi thường
chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 là sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu đề nghị của
Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp thẩm thụ giải quyết vụ án xác định quan hệ tranh chấp
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp đồng tặng cho
quyền sdụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là phù hợp.
[2] Về tố tụng: Các đương sự kháng cáo trong hạn luật định và nộp
tạm ứng án phí kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271,272,273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 nên hợp lvề mặt hình thức. Việc vắng mặt người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M1 (đã chết ngày 23/02/2026),
do ông M1 đã lời khai trình bày nên xét thấy không cần thiết phải triệu tập
12
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông M1. Đối với Người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Minh C1 gồm các ông bà: Nguyễn Thị
L1, Huỳnh Thị Thu H2, Huỳnh Thị ch N4, Huỳnh Thị Hồng T6 vắng mặt;
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị Thu L vắng mặt; UBND
phường L, Văn phòng C3, Văn phòng C4, ông Hồ Duy T7, ông Hữu P, Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 2 Cần Thơ đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử vng mặt các đương sự vắng mặt theo quy định tại Điu 227,
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung vụ án và kháng cáo của các đương sự:
[3.1] Nguồn gốc đất: Theo lời trình bày của các đương sự thì phần đất trên là
do ông Huỳnh Trường C2 Sử Thị T8 tạo lập, sau đó Sử Thị T8 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/9/1995 đối với Thửa đất 41, tờ
bản đsố 16, diện tích 2998m
2
(Loại Q+T 32 m2 đất thổ cư), đất toạ lạc tại ấp
B, xã L, quận B, thành phố Cần Thơ (nay phường L, thành phố Cần Thơ). Đến
năm 2007, bà Sử Thị T8 đã xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04127 ngày 23/8/2007 tại thửa
399, tờ bản đsố 15 với diện tích 2939m
2
đất toạ lạc tại khu vực B, phường L,
quận B, thành phố Cần Thơ (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). Ngày
22/6/2009, Sử Thị T8 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông
Phạm Minh N1.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc chuyển nhượng quyền s
dụng đất này không phản ánh giao dịch chuyển nhượng thực tế. Bà Huỳnh Thị Thu
L người sử dụng đất và có quan hệ vay tiền với ông Phạm Văn N3. Do không có
khả năng thanh toán, các bên đã lập giao dịch chuyển nhượng để ông Phạm Minh
N1 đứng tên giấy chứng nhận, trong khi thực tế không phát sinh việc chuyển giao
quyền sử dụng đất như một giao dịch thông thường.
Hồ thể hiện L vay ông N3 số tiền 200.000.000 đồng, sau đó khoản nợ
cả gốc và lãi tăng lên khoảng 700.000.000 đồng. Việc ông N3 giữ giấy chứng nhận
sau đó các bên lập giao dịch chuyển nhượng cho ông Phạm Minh N1 nhằm bảo
đảm việc thanh toán khoản nợ sở để xác định giao dịch chuyển nhượng
không phản ánh đúng bản chất quan hệ giữa các bên. Do vậy, đối với Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Sử Thị T8 ông Phạm Minh N1 ngày
22/6/2009, Hội đồng xét xử xét thấy giao dịch này không bảo đảm các điều kiện có
hiệu lực theo quy định của pháp luật nên cấp sơ thẩm tuyên giao dịch vô hiệu là có
căn cứ.
Do việc giao dịch gốc bị vô hiệu là căn cứ để xác định nghĩa vụ giữa các bên
giao dịch, nhưng không đương nhiên dẫn đến việc tất cả các giao dịch chuyển tiếp
liên quan đến tài sản đều bị hiệu, phải xem xét quyền lợi của người thứ ba
ngay tình theo quy định của pháp luật.
[3.2] Về bà Đỗ Hồng N có phải là người thứ ba ngay tình hay không:
13
Hồ sơ vụ án thể hiện bà Đỗ Hồng N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 399 thửa đất số 2076 trên sở các Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho bên chuyển nhượng.
Cụ thể, đối với thửa đất số 399, diện tích 1.105,2m², Đỗ Hồng N nhận
chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm
Minh N1 Đào Thiên K1 với Đỗ Hồng N được công chứng ngày
16/4/2012; đối với thửa đất số 2076, diện tích 1.764,9m², bà Đỗ Hồng N cũng nhận
chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Phạm
Nhựt M với Đỗ Hồng N được công chứng ngày 16/4/2012. Hồ thể hiện các
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 254552 cấp ngày 03/10/2011 BD
254551 cấp ngày 03/10/2011 đã được cấp trước thời điểm N nhận chuyển
nhượng.
Tại thời điểm xác lập giao dịch, N căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp, giao dịch được lập thành văn bản và được
công chứng. Sau khi nhận chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đã được đăng ký,
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên N. Sau đó N cùng ông
Hồng S lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Hồng T1 ngày
09/5/2017; ông T1 đã được chỉnh sang tên đối với hai thửa đất này. Căn cứ vào
các tài liệu trong hồ sơ, lời khai của những người hiểu biết sự việc, chưa đủ
sở để xác định bà N biết rõ về diễn biến cũng như bản chất của các giao dịch trước
đó.
Thứ nhất, việc ông Nguyễn Văn M1 là người môi giới đại diện cho bà N trực
tiếp gặp bà Huỳnh Thị Thu L để thương lượng việc mua đất, thống nhất giá chuyển
nhượng giao tiền. Ông M1 xác nhận L bán cho N diện tích đất khoảng
2.500m
2
, chừa lại diện tích làm phần mộ và có thỏa thuận tiếp tục thanh toán khi di
dời phần mộ. Có văn bản thỏa thuận thể hiện Sử Thị T8 và bà Huỳnh Thị Thu L
bán cho bà Đỗ Hồng N diện tích đất 2.870m
2
, trong đó phần đất dành cho
đường đi nền mộ theo tờ tự khai của ông M1 (bút lục 204) đây là những thỏa
thuận bình thường trên thực tế nhằm mục đích đạt được việc chuyển nhượng theo
yêu cầu của các bên. Điều này không nghĩa là mọi thỏa thuận từ ông M1 với
L đều thực hiện theo ý chí của N. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía N khẳng
định mọi thỏa thuận là do ông M1 thực hiện và không báo lại cụ thể cho bà N, hiện
tại ông M1 đã chết, không thể đối chất nên chỉ căn cứ vào lời khai của ông M1
trong hồ sơ làm căn cứ đánh giá sự việc. Qua đó, chưa đủ căn cứ để chứng minh bà
N biết rõ nguồn gốc, diễn biến phần đất nhận chuyển nhượng. Thứ hai, căn cứ Bản
tự khai của N ngày 07/9/2017 (bút lục số 205) và Bản tự khai của bà Huỳnh Thị
Thu L (bút lục 202-203), cũng như bản tự khai của ông M1 (bút lục 204) đều
khẳng định việc thỏa thuận là do ông M1 tự thỏa thuận với L. Như vậy, không
căn cứ xác định tại thời điểm nhận chuyển nhượng N biết hoặc buộc phải
14
biết quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng nguồn gốc từ giao dịch có tranh
chấp hoặc có khiếm khuyết về mặt pháp lý.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phân biệt hiệu lực của giao dịch gốc với
hiệu lực của giao dịch với người thứ ba ngay tình. Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân
sự năm 2015 quy định trường hợp giao dịch dân shiệu nhưng tài sản đã được
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau đó được chuyển giao bằng một
giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình tgiao dịch với người thứ ba không bị
hiệu. Quy định này nhằm bảo vệ sự ổn định của giao lưu dân sự sự tin cậy
hợp pháp của người giao dịch căn cứ vào tình trạng pháp của tài sản đã được
Nhà nước đăng ký.
Trong trường hợp này, N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
người đang đứng tên trên Giấy chứng nhận, giao dịch được công chứng sau đó
được quan thẩm quyền đăng quyền sdụng đất. Những tình tiết này
căn cứ quan trọng để xác định N người thứ ba ngay tình. Mặt khác, người
khởi kiện không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà N biết rõ nguồn gốc tranh
chấp của quyền sử dụng đất hoặc biết các giao dịch trước đó vi phạm pháp luật
nhưng vẫn cố ý nhận chuyển nhượng. Do đó, đủ sở xác định Đỗ Hồng N
người thba ngay tình trong các giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 16/4/2012 đối với thửa đất số 399 và thửa đất số 2076.
Từ đó, mặc dù giao dịch trước đó bị tuyên vô hiệu, nhưng theo khoản 2 Điều
133 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền của người thứ ba ngay tình được pháp luật
bảo vệ. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc thu hồi
hai thửa đất từ bà N hoặc người nhận chuyển quyền tiếp theo từ bà N.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Đỗ Hồng N, ông Hồng S
với ông Hồng T1 ngày 09/5/2017 được xác lập sau khi N đã được xác lập
quyền đối với tài sản và không căn cứ chứng minh giao dịch này giả tạo hoặc
nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ. Hồ thể hiện ông Hồng T1 đã
được chỉnh sang tên đối với thửa đất số 399 thửa đất số 2076 vào ngày
26/5/2017. vậy, căn cứ công nhận Hợp đồng tặng cho ngày 09/5/2017
quyền sử dụng đất của ông Lê Hồng T1 đối với phần đất nêu trên.
Do quyền sử dụng đất đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình
người nhận chuyển giao tiếp theo đã được đăng ký quyền sử dụng đất, nên yêu cầu
của những người kế thừa Sử Thị T8, ông Huỳnh Trường C2 về việc giao trả
diện tích 2.870,1m² không căn cứ chấp nhận không sở chấp nhận
yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD432517, số vào sổ
CH05445 số BD432518, số vào sổ CH05446 đã cấp cho Đỗ Hồng N
chỉnh lý sang tên ông Lê Hồng T1 đối với thửa đất số 399 và thửa đất số 2076.
Xét yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vtố tụng
của Sử Thị T8, ông Huỳnh Trường C2 về việc yêu cầu hủy các hợp đồng
15
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp và giao lại quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sử Thị T8 ông Huỳnh Trường C2 đã chết. Những người tham gia tố
tụng vớicách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông, bà tiếp tục thực
hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đã chết theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Trong vụ án này, những người kế thừa không yêu cầu Tòa án chia
di sản thừa kế chỉ yêu cầu giải quyết hậu quả pháp của các giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất và tài sản.
Do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét quyền yêu cầu hoàn trả tài sản phát sinh
từ giao dịch dân sự hiệu; không xem xét việc xác định phần di sản, tlệ hưởng
di sản hoặc chia di sản giữa những người kế thừa của bà Sử Thị T8 ông Huỳnh
Trường C2.
Do Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất btuyên hiệu nên hậu
quả pháp lý của giao dịch được giải quyết theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong vụ án này, do phần đất được công nhận cho người thứ ba ngay tình nên
không thể hoàn trả đất theo yêu cầu của các nguyên đơn nên cần xác định số tiền
5.014.000.000 đồng (giá trị đất hiện tại) là khoản tiền phải hoàn trả do hậu quả của
giao dịch dân sự hiệu. L một trong những người kế thừa quyền, nghĩa vụ
của Sử Thị T8 ông Huỳnh Trường C2, đồng thời người trực tiếp sử dụng
phần đất thuộc quyền sử dụng của bà T8 để thực hiện giao dịch và nhận tiền để đáp
ứng các nhu cầu nhân, nguyên nhân chính làm phát sinh các giao dịch tiếp
theo dẫn đến quyền sử dụng đất không còn thuộc quyền của T8, do đó L
người nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền 5.014.000.000 đồng cho các đồng thừa kế
của T8 ông C2. Do trong vụ án không yêu cầu chia di sản nên Hội đồng
xét xử không xác định phần của L phần của những người kế thừa khác trong
số tiền này chỉ xác định L nghĩa vụ hoàn trả số tiền 5.014.000.000 đồng
cho những người kế thừa quyền nghĩa vụ của Sử Thị T8 ông Huỳnh
Trường C2; không xác định tlệ hoặc số tiền cụ thể mỗi người được hưởng. Nếu
sau khi bản án hiệu lực phát sinh tranh chấp về phần quyền của từng người đối
với khoản tiền này thì đó quan hệ thừa kế độc lập, được giải quyết bằng vụ án
khác khi có yêu cầu.
[3.3] Tnhững phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ không chấp nhận
một phần yêu cầu của nguyên đơn; chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Đỗ Hồng N,
ông Hồng T1; chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn N3, ông Phạm Minh N1,
ông Phạm Nhựt M và bà Đỗ Thiên K3, sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
16
- Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2025);
- Căn cứ Điều 117, Điều 123, Điều 124, Điều 131 và khoản 2 Điều 133 Bộ
luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Thị Thu C, ông
Huỳnh Trường V, bà Huỳnh Thị Thu H và bà Huỳnh Thị Thu V1;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Đỗ Hồng N, ông
Hồng T1, ông Phạm Minh N1, bà Đào Thiên K1 và ông Phạm Nhựt M;
- Chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vliên quan ông
Phạm Văn N3.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 83/2026/DS-ST ngày 04 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/6/2009
giữa Sử Thị T8 với ông Phạm Minh N1 đối với thửa đất 399, tờ bản đồ số 15,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04127 cấp ngày 23/8/2007 đứng tên Sử
Thị T8 là vô hiệu.
2. Xác định Đỗ Hồng N người thứ ba ngay tình khi nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
16/4/2012 giữa ông Phạm Minh N1, Đào Thiên K1 với Đỗ Hồng N đối với
thửa đất số 399, tờ bản đồ số 15, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH
04619 cấp ngày 03/10/2011 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
16/4/2012 giữa Phạm Nhựt M với Đỗ Hồng N đối với thửa đất 2076, tờ bản đồ số
15, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 04618 cấp ngày 03/10/2011.
Các giao dịch chuyển nhượng nêu trên không bị vô hiệu theo khoản 2 Điều 133 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
3. Công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Đỗ Hồng N
ông Hồng S với ông Lê Hồng T1 đối với các thửa đất số 399 thửa s2076,
tờ bản đồ số 15, hợp đồng được công chứng ngày 09/5/2017 tại Văn phòng công
chứng Trần Văn T10 là hợp pháp.
4. Không chấp nhận yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất s BD432517, số vào sổ
CH05445 do Ủy ban nhân dân quận B(cũ) cấp ngày 10/5/2012 đối với thửa đất số
399 số BD432518, số vào sổ CH05446 do Ủy ban nhân dân quận B (cũ) cấp
17
ngày 10/5/2012 đối với thửa đất số 2076 đã cấp cho Đỗ Hồng N chỉnh
sang tên ông Lê Hồng T1. Các Giấy chứng nhận nêu trên tiếp tục có giá trị pháp lý
theo quy định của pháp luật.
5. Không chấp nhận yêu cầu của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của
Sử Thị T8ông Huỳnh Trường C2 về việc buộc bà Đỗ Hồng N, ông Hồng
T1 giao trả lại diện tích đất 2.870,1m² theo Bản trích đo địa chính số
06/TTKTTNMT lập ngày 09/3/2018 do Trung tâm K4 Sở Tài nguyên Môi
trường thành phố C.
Buộc bà Huỳnh Thị Thu L nghĩa vụ hoàn trả số tiền 5.014.000.000 đồng
(năm tỷ không trăm mười bốn triệu đồng) cho những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ của bà Sử Thị T8 và ông Huỳnh Trường C2.
Quyền của bà Huỳnh Thị Thu L những người kế thừa khác đối với khoản
tiền nêu trên được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế; nếu tranh
chấp về phần quyền của từng người thì được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu
cầu.
6. Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên, nếu Huỳnh Thị Thu L chưa thi
hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định
tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
7. Về án phí dân sự:
7.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu C, ông Huỳnh Trường V, Huỳnh Thị
Thu H và Huỳnh Thị Thu V1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai s007407 ngày 14/6/2017 tại Thi hành án Dân sự thành phố
Cần Thơ.
- Bà Huỳnh Thị Thu L phải chịu số tiền án phí sơ thẩm phải nộp là
113.014.000 đồng (một trăm mười ba triệu không trăm mười bốn triệu đồng)
nộp tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
7.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Phạm Minh N1 được nhận lại stiền 300.000 đồng đã nộp theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008177 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án Dân sự
thành phố Cần Thơ.
- Ông Phạm Nhựt M được nhận lại số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0008178 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án Dân sthành
phố Cần Thơ.
- Đào Thiên K1 được nhận lại số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0008179 ngày 28/4/2026 tại Thi hành án Dân sthành
phố Cần Thơ.
18
- Ông Lê Hồng T1 được nhận lại số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0004976 ngày 17/3/2026 tại Thi hành án Dân sthành
phố Cần Thơ.
- Huỳnh Thị Thu V1 phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ số tiền
300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí s 0005137 ngày
19/3/2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
- Huỳnh Thị Thu C, ông Huỳnh Trường V bà Huỳnh Thị Thu H được
miễn án phí phúc thẩm.
8. Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá, chi phí giám định: số tiền
41.568.000 đồng. Nguyên đơn đồng ý chịu 11.568.000 đồng, nguyên đơn đã nộp
chi xong. Số tiền còn lại do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận một
phần nên bị đơn phải chịu 30.000.000 đồng, bị đơn đã nộp và chi xong.
9. Những phần của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm thì hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, (ngày 09 tháng
9 năm 2026).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- TAND khu vực 2 - Cần Thơ;
- P.THADS khu vực 2 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phạm Hoàng Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1277/2026/DS-PT Bản án số 1277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1277/2026/DS-PT Bản án số 1277/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất