Bản án số 1313/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1313/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1313/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1313/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Các nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu công nhận phần đất do cha mẹ tặng cho trước khi chết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1313/2026/DS-PT Bản án số 1313/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1313/2026/DS-PT Bản án số 1313/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1313/2026/DS-PT
Ngày: 14 tháng 9 năm 2026
V/v: T/c về thừa kế tài sản,
tặng cho QSD đất, HĐCN QSD
đất và yêu cầu mở lối đi qua bất
động sản liền kề.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại
Các Thẩm phán: Ông Trần Trí Dũng
Ông Nguyễn Quốc Định
- Thư phiên tòa: Tăng Thị Như Ý Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Đỗ Thị Hồng
Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
1290/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 7 năm 2026, về việc Tranh chấp thừa kế tài
sản, hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền k.
Do bản án thẩm số 137/2026/DS-ST ngày 15/4/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 14 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1432/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Ông Trần S, sinh năm 1952 (Có mặt).
2/ Ông Trần HS, sinh năm 1967 (Có mặt).
3/ Ông Trần H, sinh năm 1964 (Có mặt).
4/ Bà Trần T, sinh năm 1962 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp TP, xã T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần S, ông Trần HS, ông Trần H,
Trần T Theo (theo Giấy y quyền lập ngày 20/8/2026) : Ông Phan Long Hải,
sinh năm 1987 (Có mặt).
2
Địa chỉ: 462A, khu vực T, phường C, thành phố Cần Thơ.
5/ Ông Trần C, sinh năm 1957 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Cần Thơ.
6/ Bà Trần H, sinh năm 1968 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp TP B, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Trần D, sinh năm 1961 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp TP, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Nguyễn YN, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyễn YN: Ng, sinh năm 1978 (Có
mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
2/ Bà Đặng KC, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
3/ Ông Nguyễn TP, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: KV T, phường L, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của Đặng KC ông Nguyễn TP: Ông
M, sinh năm 1984 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ.
4/ Ông Nguyễn U, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ
(Vắng mặt).
5/ Ông Trần T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp TP, T, thành phố Cần Thơ
(Có đơn xét xử vắng mặt).
6/ Ông Lê VT. Địa chỉ: Ấp TP, xã T, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
7/ Ông Trần Nh, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp A, T, thành phố Cần Thơ
(Vắng mặt).
8/ Ông Trần T2, sinh năm 1989 (Có mặt).
9/ Bà Nguyễn T3, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp TP, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Trần S, Trần H, Trần HS và bị đơn Trần D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án thẩm các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung như
sau:
Các nguyên đơn trình bày: Cha, mẹ của các nguyên đơn ông Trần G (chết
ngày 20/7/2009) và mẹ là Trần Thị Đ (chết ngày 29/02/2012) có với nhau 07 người
con Trần S, Trần T, Trần H, Trần HS, Trần D, Trần C, Trần H. Tất cả 07 người
con đều còn sống. Lúc sinh thời, cha mẹ có tạo lập được phần đất diện tích
3
22.723m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000130 bao gồm các thửa số
482, 483, 487, 489, 490, 491 tờ bản đồ số 6, toạ lạc tại Ấp TP, T, thành phố Cần
Thơ. Năm 2009, khi cha mẹ còn sống đã chia đất cho anh, chị, em như sau: Cho ông
Trần S diện tích 1.652,5m
2
; cho Trần C 1.075,8m
2
; Trần D 521,3m
2
; Trần T diện
tích 669,2m
2
; Trần H diện tích 527,1m
2
, năm 2010 bà Đọt cho thêm ông Hoanh
bờ kinh thuỷ lợi diện tích 110m
2
, năm 2010 ông Trần HS bán lại cho ông Hoanh
diện tích 535,2m
2
; ông Trần HS được cho diện tích 2.191,5m
2
; riêng Trần H lấy
chồng ở xa nên cha mẹ chưa cho đất. Đến cuối năm 2009, khi ông Giỏi chết thì ông
Trần D người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tờ di chúc của cha, mẹ
không có thiện chí hợp tác, không thực hiện việc tách thửa đất cho anh, chị em. Đối
với thửa đất số 489, diện tích 1084,9m
2
ông Trần D tự ý bán một phần cho ông
Nguyễn U Đặng KC một phần ngang 3m dài 15m, một phần ngang 2m dài
15m. vậy, các nguyên đơn khởi kiện ông Trần D yêu cầu công nhận cho các
nguyên đơn phần đất đã được cha mẹ tặng cho khi còn sống cụ thể như sau:
1/ Ông Trần S yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất diện tích
1.652,5 m
2
thuộc thửa đất số 74 (487), tờ bản đồ số 11 (6) được cha mẹ là ông Trần
G và bà Trần Thị Đ tặng cho vào năm 2009.
2/ Trần T yêu cầu Tòa án công nhận cho bà phần đất diện tích 669,2
m
2
thuộc thửa đất số 38 (487), tờ bản đồ số 11 (6) được cha mẹ ông Trần G
Trần Thị Đ tặng cho vào năm 2009.
3/ Ông Trần H yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất có diện tích 110
m
2
527,1m
2
thuộc thửa đất số 820 (490) và thửa đất số 64 (487), tờ bản đồ số 11
(6) được cha mông Trần G Trần Thị Đ tặng cho vào năm 2009. Đồng
thời yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện ch 535,2 m
2
ông đã mua của
ông Trần HS, thửa đất số 64 (487).
4/ Ông Trần HS u cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất diện tích
2.191,5 m
2
thuộc thửa đất số 616 (491), tờ bản đsố 11 (6) được cha mẹ ông
Trần G và bà Trần Thị Đ tặng cho vào năm 2009.
5/ Bà Trần H và ông Trần C yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật phần
đất còn lại (là di sản ông Trần G Trần Thị Đ chết để lại), sau khi đã công
nhận các phần đất cho các anh chị em là ông Trần S, bà Trần T, ông Trần H và ông
Trần HS.
Đến ngày 06/01/2026, các nguyên đơn khởi kiện bổ sung như sau:
1/ Ông Trần S yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất diện tích
1.652,5m
2
thuộc thửa đất số 74 (487), tờ bản đồ số 11 (6) được cha mẹ là ông Trần
G (đã chết) và bà Trần Thị Đ (đã chết) tặng cho vào năm 2009.
Yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho các hàng thừa kế thứ 1 phần
đất còn dư lại (là di sản ông Trần GTrần Thị Đ chết để lại) có tổng diện tích
4
989,9m
2
(bao gồm các phần đất vị trí số: 1a, 2, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 trên sơ đồ đo đạc
hiện trạng đất ngày 10/10/2025), sau khi đã công nhận các phần đất cho các anh
chị em là ông Trần S, bà Trần T, ông Trần H và ông Trần HS.
Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa bị đơn là Trần D với Nguyễn YN và giữa bị đơn là Trần D với Đặng
KC. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người liên quan: Nguyễn YN và Đặng
KC.
2/ Trần T yêu cầu Tòa án công nhận cho phần đất diện tích 669,2
m
2
thuộc thửa đất số 38 (487), tờ bản đồ số 11 (6) được cha mẹ ông Trần G (đã
chết) và bà Trần Thị Đ (đã chết) tặng cho vào năm 2009.
Yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho các hàng thừa kế thứ 1 phần
đất còn dư lại (là di sản ông Trần GTrần Thị Đ chết để lại) có tổng diện tích
là 989,9 m
2
(bao gồm các phần đất vị trí số: 1a, 2, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 trên sơ đồ đo đạc
hiện trạng đất ngày 10/10/2025), sau khi đã công nhận các phần đất cho các anh
chị emông S, bà Thanh, ông Hoanh và ông Son.
Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Trần D với Nhi và giữa ông Trần D với KC. Không chấp
nhận yêu cầu độc lập của Yến Nhi Kim Chuyền.
3/ Ông Hoanh yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất diện tích
110,0 m
2
; 527,1 m
2
thuộc thửa đất số 820 (490) thửa đất số 64 (487), tờ bản đồ
số 11 (6) được cha mẹ ông Trần G (đã chết) và Trần Thị Đ(đã chết) tặng cho
vào năm 2009. Đồng thời yêu cầu công nhận phần đất diện tích 535,2 m
2
ông đã mua của ông Son, thửa đất số 64 (487).
Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho các hàng thừa kế thứ 1 phần đất còn
dư lại (là di sản ông Trần G và bà Trần Thị Đchết để lại) có tổng diện tích là 989,9
m
2
(bao gồm các phần đất vị trí số: 1a, 2, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 trên đồ đo đạc hiện
trạng đất ngày 10/10/2025), sau khi đã công nhận các phần đất cho các anh chị em
là ông S, bà Thanh, ông Hoanh và ông Son.
Yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Trần D với Yến Nhi và giữa ông Trần D với Kim Chuyền.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Yến Nhi và Kim Chuyền.
4/ Ông Son công nhận cho ông phần đất diện tích 2.191,5 m
2
thuộc thửa
đất số 616 (491), tờ bản đồ số 11 (6) được cha mẹ ông Trần G (đã chết)
Trần Thị Đ(đã chết) tặng cho vào năm 2009.
Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho các hàng thừa kế thứ 1 phần đất còn
dư lại (là di sản ông Trần G và bà Trần Thị Đchết để lại) có tổng diện tích là 989,9
m
2
(bao gồm các phần đất vị trí số: 1a, 2, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 trên đồ đo đạc hiện
5
trạng đất ngày 10/10/2025), sau khi đã công nhận các phần đất cho các anh chị em
là ông S, bà Thanh, ông Hoanh và ông Son.
Yêu cầu tuyên hiệu giao dịch dân schuyển nhượng quyền sdụng đất
giữa ông Trần D với Yến Nhi giữa ông Trần D với Kim Chuyền. Không
chấp nhận yêu cầu độc lập của Yến Nhi và Kim Chuyền.
5/ Bà Huệ và ông Chiến yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật phần đất
còn lại (di sản ông Trần G Trần Thị Đchết để lại) tổng diện tích
989,9 m
2
(bao gồm các phần đất vị trí số: 1a, 2, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 trên đồ đo đạc
hiện trạng đất ngày 10/10/2025), sau khi đã công nhận các phần đất cho các anh
chị emông S, bà Thanh, ông Hoanh và ông Son.
Yêu cầu Tòa án tuyên hiệu giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Trần D với N giữa ông Trần D với Kim Chuyền.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của N và KC.
Bị đơn ông Trần D trình bày:
Ông Trần G (sinh năm 1929, chết năm 2009) mẹ Trần Thị Đ (sinh
năm 1935, chết năm 2012) tất cả 07 người con như nguyên đơn trình bày. Khi
còn sống, cha mẹ ông tạo lập được khối tài sản quyền sử dụng đất diện
tích 22.723m² bao gồm: Thửa 482 diện tích 100m² loại đất T; Thửa 483 diện tích
600m² loại đất ĐM; Thửa 487 diện tích 5.455m² loại đất 2L; Thửa 489 diện tích
13.453m² loại đất 2L; Thửa 490 diện tích 500m² loại đất LNK; Thửa 491 diện tích
2.515m² loại đất 2L. Các phần đất trên thuộc tbản đồ số 6, tọa lạc tại Ấp TP,
T, huyện A, tỉnh Hậu Giang (cũ) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào
sổ 000130/QSDĐ do UBND huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp ngày
28/8/1995 đng tên ông Trần G. Ngày 06/5/2009 cha mẹ ông lập di chúc (bản
đánh máy vi tính, chữ của ông G, Đ, ông H, ông C, ông S và các người
làm chứng, được UBND T xác nhận ngày 06/01/2011) về việc phân chia đất
cho các con. Tuy nhiên, việc phân chia theo di chúc cho đến nay vẫn chưa được
thực hiện. Năm 2010 nhà nước quy hoạch đất làm lộ thu hồi một phần diện tích
đất. Ngày 10/7/2019 Văn phòng đăng ký đất đai huyện A cập nhật biến động thu
hồi diện tích 12.368,1m² bao gồm hết các thửa 482, 483 một phần thửa 489,
diện tích thửa 489 còn lại 1.084,9m². Đến năm 2019 phần di sản cha mẹ để lại
gồm có: Thửa 487 diện tích 5.455m² loại đất 2L; Thửa 489 diện tích còn lại
1.084,9m² loại đất 2L; Thửa 490 diện tích 500m² loại đất LNK; Thửa 491 diện tích
2.515m² loại đất 2L. Nay giữa anh em không thỏa thuận được việc chia di sản theo
di chúc năm 2009 nên ông yêu cầu như sau: Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
đối với di sản do cha mẹ để lại quyền sử dụng đất tại các Thửa 487 diện tích
5.455m² loại đất 2L; Thửa 489 diện tích còn lại là 1.084,9m² loại đất 2L; Thửa 490
diện tích 500m² loại đất LNK; Thửa 491 diện tích 2.515m² loại đất 2L. Ông yêu
6
cầu chia đều bằng 07 kỷ phần, ông yêu cầu được nhận hiện vật tương đương diện
tích 1.365m².
Đặng KC Nguyễn TP trình y: Năm 2024, ông Phương bà KCcó
nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn B phần đất giáp kênh Hậu, khi đó có cây cầu
tông bắt qua kênh Hậu để đi ra tỉnh lộ 926. Cây cầu này được xây trên phần đất
mà ông Trần D đã bán cho ông Nguyễn Duy Bằng vào năm 2020, với giá
120.000.000đồng. Tuy nhiên, đến năm 2025 thì anh, chị em của ông Trần D các
nguyên đơn tranh chấp thừa kế với ông Trần D phần đất có cầu tông mà ông đã
mua của ông B, sau đó tự ý rào chắn cầu bê tông là lối đi duy nhất của gia đình ông
vào đất đã mua của ông Bằng. Vì vậy, trong vụ án này, KC yêu cầu các nguyên
đơn mở lối đi ngang 2m dài 25m tương ứng cầu tông hiện hữu để gia đình
KCcó lối đi vào phần đất của bà KC có diện tích 1001,3m2 thuộc thửa số 31 tờ bản
đồ số 11.
Nguyễn YN trình bày như sau: con của ông Nguyễn U, năm 2014
ông U đã tặng cho bà phần đất diện tích 2942,3m
2
thuộc thửa đất số 784 tờ bản đồ
số 11. Do đất không có lối đi nên ông U đã mua của ông Trần D phần đất cặp kênh
Hậu, ngang 3m dài 25m với giá 55.000.000 đồng để bắt cầu m lối đi. Đến năm
2025, các anh chị em của ông Trần D tranh chấp tài sản với nhau nên các nguyên
đơn trong vụ án này đã tý rào chắn lối đi duy nhất vào đất của gia đình bà.
vậy, khởi kiện yêu cầu các nguyên đơn tronng vụ án này thực hiện việc mở lối
đi ngang 3m dài 25m thuộc thửa đất số 489, tờ bản đồ số 6, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 000130 do UBND huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp cho
ông Trần Go ngày 28/8/1995.
Ông Nguyễn U trình bày: Ông là cha ruột của N, phần đất N yêu cầu
mở lối đi qua nguồn gốc của ông tặng cho Nhi. Đất này không lối đi vào
nên vào ngày 24/02/2019 (âm lịch), ông U thoả thuận mua của ông Trần D phần
đất để làm lối đi, phần đất mua của ông Trần D rộng 2m dài 20m, số tiền
30.000.000 đồng. Sau đó, ông Trần D kêu bán thêm cho ông U 01m ngang cặp
phần đất đã bán với giá 25.000.000 đồng. Việc mua bán hai bên làm giấy t
mua bán với nhau, ông U đã trả đủ tiền cho ông Trần D đã nhận đất làm lối đi
cho đến nay. Tại thời điểm ông Trần D bán đất cho ông U ông Trần D nói ông
Trần D chủ đất nên ông U mới mua, ông U không biết đất do cha ông Trần D
đứng tên. Khi ông U mua đất, xây cầu không ai ngăn cản. Do phần đất này ông U
đã mua của ông Trần D nên ông U không đồng ý với yêu cầu của c nguyên đơn
về việc tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhương phần đất lối đi này.
Ông Trần T1 trình bày: Ông là con của ông S, cháu nội của ông Trần G
Trần Thị Đ. Năm 2009, ông G, bà Đ có chia cho ông phần đất ngang 6m dài
33m. Các cô, chú của ông đều biết thống nhất việc tặng cho này. Việc tặng cho
7
không lập giấy tờ chỉ cắm ranh, giao đất cho ông cất nhà ở. Trong vụ án
này, ông yêu cầu Toà án công nhận cho ông quyền sử dụng phần đất diện tích
ngang 6m dài 33m do ông đã được ông Giỏi Đọt tặng cho. Đối với yêu cầu
khởi kiện của các nguyên đơn ông đồng ý công nhận lời trình bày của các
nguyên đơn là đúng với những gì ông biết.
Ông VT trình bày: Vào ngày 18/02/2022, ông Trạng thỏa thuận mua
lại của ông S phần đất diện tích chiều ngang 6m, chiều dài 33m tại thửa đất số
487, tờ bản đồ số 06, loại đất lúa với giá chuyển nhượng 2.500.000 đồng/m2, ông
Trạng đã đặt cọc tiền mua đất cho ông S hai lần với tổng số tiền 370.000.000
đồng, theo hợp đồng đặt cọc đất ngày 18/02/2022 ngày 09/5/2022 (hiện hai bản
gốc hợp đồng đặt cọc ông Trạng đang cất giữ), phần tiền còn lại khi nào làm xong
thủ tục sang tên thì ông sẽ trả đủ cho ông S. Sau khi mua đất thì ông S ng đã
giao đất cho ông Trạng sử dụng từ đó cho đến nay. Hiện nay trên đất ông Trạng
cất căn nhà tiền chế mở tiệm điện sinh sống trên đất. Tại thời điểm mua đất
thì ông Trạng biết phần đất này do cha ông S đang đứng tên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do ông S đưa giấy đất cho ông xem, nhưng khi đó ông S
nói đang làm thủ tục sang tên lại cho ông S nên ông Trạng mới đồng ý mua. Thời
điểm ông Trạng cất nhà trên đất thì các anh em của ông S cũng không ai đứng ra
ngăn cản. Đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì ông Trạng không ý kiến gì.
Đối với việc mua bán đất giữa ông Trạng ông S thì ông Trạng sẽ tự về giải
quyết với ông S nên không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án này. Trường hợp
có phát sinh tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện ông S thành vụ án khác.
Ông Trần Nh, Trần T2Nguyễn T3 trình bày:
Ông Nhanh mua của ông Trần H một phần đất cất nhà cho đến nay
khoảng hơn 10 năm. Giữ ông Nhanh ông Hoanh không tranh chấp, ông
Nhanh, ông Tuyến, Trinh đồng ý để ông Hoanh đứng ra khởi kiện, đối với hợp
đồng chuyển nhượng giữa ông và ông Hoanh sẽ giải quyết sau.
Tại bản án thẩm số 137/2026/DS-ST ngày 15/4/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 14 - Cần Thơ, tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần S, Trần
HS, Trần H, Trần T, Trần H, Trần Văn Chiến vviệc yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng hai lối đi.
- Không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
của ông Trần S, Trần H, Trần HS, Trần T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần D đối với các nguyên
đơn Trần S, Trần HS, Trần H, Trần T, Trần H, Trần VC về việc chia thừa kế theo
pháp luật.
8
- Chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Trần G Trần Thị Đ cụ thể
như sau:
+ Chia cho ông Trần S các phần đất số 14a và 14 thể hiện tại đđo đạc
hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu
vực XI thành phố Cần Thơ. ông S phải thối lại cho những người trong hàng thừa
kế thứ nhất của ông Giỏi và bà Đọt số tiền 388.624.415 đồng.
+ Chia cho Trần T các phần đất số 2, 2a 10 thể hiện tại đồ đo đạc
hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu
vực XI thành phố Cần Thơ. Thanh phải thối lại giá trị cho những người trong
hàng thừa kế thứ nhất của ông Giỏi và bà Đọt số tiền là 40.184.015 đồng.
+ Chia cho ông Trần H các phần đất số 1, 1a, 3, 12, 13 thể hiện tại đồ đo
đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XI thành phố Cần Thơ. Ông Hoanh phải thối lại cho những người trong
hành thừa kế thứ nhất của ông Giỏi, bà Đọt số tiền là 506.682.615 đồng.
+ Chia cho ông Trần HS các phần đất số 4 và 4a các phần đất tại vị trí 5, 6,
7, 8, 9 thể hiện tại tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI thành phố Cần Thơ. ông Son
trách nhiệm trả lại cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của ông Giỏi,
Đọt số tiền là 102.722.315 đồng.
+ Chia cho ông Trần D phần đất số 11 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI
thành phố Cần Thơ và số tiền 172.953.085 đồng từ số tiền ông Trần S, Trần H,
Trần HS, Trần T thối lại.
+ Chia cho ông Trần C số tiền 432.630.085 đồng từ số tiền ông Trần S, Trần
H, Trần HS, Trần T thối lại.
7/ Chia cho bà Trần H số tiền là 432.630.085đồng từ số tiền ông Trần S, Trần
H, Trần HS, Trần T thối lại.
- Trần T, ông Trần H, ông Trần HS đứng tên chung quyền sử dụng đối với
các phần đất số 1a, 2 2a, 4, 4a, 5, 6, 7, 8, 9 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI
thành phố Cần Thơ.
- Bà Trần T, ông Trần D, ông Trần H đứng tên chung quyền sử dụng các phần
đất số 10, 11 12 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/10/ 2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực XI thành phố Cần Thơ.
- Ông Trần H ông Trần S đứng tên chung quyền sử dụng các phần đất số
13, 14a 14 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10 tháng 10 năm
2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực XI thành phố Cần Thơ.
9
- Tuyên vô hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần D
bà Đặng KC, ông Nguyễn TP đối với phần đất số 6 thể hiện tại đồ đo đạc
hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu
vực XI thành phố Cần Thơ. Buộc ông Trần D trả lại cho ông Nguyễn TP
Đặng KC số tiền 120.000.000 đồng. Kim Chuyền ông Nguyễn TP phải trả
lại cho ông Trần HS phần đất số 6 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất
ngày 10/10/ 2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực XI thành phố
Cần Thơ.
- Tuyên vô hiệu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần D
Nguyễn YN đối với phần đất số 8 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa
đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI thành
phố Cần Thơ. Buộc ông Trần D trả lại cho bà Yến Nhi số tiền 55.000.000 đồng. Bà
Yến Nhi phải trả lại cho ông Son phần đất số 8 thể hiện tại Sơ đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI
thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận yêu cầu mở lối đi của Nguyễn YN đối với những người trong
hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần G và bà Trần Thị Đọt.
- Buộc ông Trần HS mở lối đi qua quyền sử dụng đất của bà Yến Nhi tại phần
đất số 8 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/10/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI thành phố Cần Thơ. Yến Nhi
nghĩa vụ trả cho ông Trần HS số tiền 4.910.400 đồng.
- Bà Nguyễn YN được quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất do ông Trần
HS đứng tên chủ sdụng đối với phần lối đi tại vị trí số 8 nêu trên. Việc xác lập
quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề thực hiện theo quy định của pháp
luật dân sự thực hiện đăng theo quy định tại Điều 128 của Luật Đất đai năm
2024.
- Chấp nhận yêu cầu mở lối đi của Đặng KC ông Nguyễn TP đối với
những người trong hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần G Trần Thị Đọt.
Buộc ông Trần HS mở lối đi qua quyền sử dụng đất của bà Đặng KC ông
Nguyễn TP tại phần đất số 6 thể hiện tại đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày
10/10/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực XI thành phố Cần
Thơ.
- Đặng KC ông Nguyễn TP trách nhiệm trả cho ông Trần HS số tiền
3.049.200 đồng.
- Đặng KC, ông Nguyễn TP được quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng
đất do ông Trần HS đứng tên chủ sử dụng đối với phần lối đi tại vị trí số 6 nêu
trên. Việc xác lập quyền s dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề thực hiện theo
10
quy định của pháp luật dân sự và thực hiện đăng ký theo quy định tại Điều 128 của
Luật Đất đai năm 2024.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần T1 về việc yêu cầu công
nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần T1 với ông Trần G và bà
Trần Thị Đọt.
- Buộc ông Trần T1 giao trả lại phần đất số 14a cho ông Trần S. Ông Trần S
có trách nhiệm trả cho ông Trần T1 giá trị căn nhà với số tiền là 75.861.161 đồng.
- Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật thì các Quyết định áp dụng biệp
pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 03/3/2025 và Quyết định
số 15/2025/QĐ-KCTT ngày 06/3/2025 về việc sửa chữa Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Hậu Giang (cũ); Quyết
định áp dụng biệp pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày
27/02/2025 và Quyết định số 14/2025/QĐ-KCTT ngày 06/3/2025 về việc sửa chữa
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án nhân dân huyện A,
tỉnh Hậu Giang (cũ) bị huỷ bỏ.
- Đặng KC được nhận lại số tiền bảo đảm đã nộp là 5.000.000đồng theo
Quyết định số 01/2025/QĐ-BPBĐ ngày 26/02/2025 của Toà án nhân dân huyện A,
tỉnh Hậu Giang (nay Toà án nhân dân khu vực 14 Cần Thơ) về việc buộc thực
hiện biện pháp bảo đảm.
- Bà Nguyễn YN được nhận lại số tiền bảo đảm đã nộp là 5.000.000đồng theo
Quyết định số 02/2025/QĐ-BPBĐ ngày 03/3/2025 của Toà án nhân dân huyện A,
tỉnh Hậu Giang (nay Toà án nhân dân khu vực 14 Cần Thơ) về việc buộc thực
hiện biện pháp bảo đảm.
- Đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần H và ông
Trần Nh giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần S ông
Lê VT không đặt ra xem xét giải quyết do các bên đương sự không có yêu cầu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ, án
phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm trong thời hạn luật định, đương sự có kháng cáo:
- Nguyên đơn Trần S, Trần H, Trần HS đơn kháng cáo với cùng nội dung:
Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
- Bđơn Trần D đơn kháng cáo: Yêu cầu sửa án thẩm theo hướng chia
di sản của ông Trần G Trần Thị Đchết để lại công nhận phần đất tại vị trí
1a, 2, 4a, 5,6, 7, 8, 9 theo sơ đồ kỹ thuật của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XI ngày 10/10/2025 cho bị đơn quản lý, bị đơn đồng ý hoàn trả giá trị cho
các đồng thừa kế; công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Trần D với bà Nguyễn YN và giữa ông Trần D với bà Đặng Thị Kim Chuyền.
11
Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn Trần S, Trần H, Trần HS vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện và yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
nhận định:
+ Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng đúng quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn căn cứ. Đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; tuyên
không chấp nhận kháng cáo của đương sự và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng theo
quy định tại khoản 3, 5, 14 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
[2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự cùng
thống nhất vnguồn gốc của phần đất tranh chấp: Các nguyên đơn và bị đơn thống
nhất cụ G, cụ Đtạo lập được phần đất diện tích 22.723m
2
đến năm 2010 nhà
nước thu hồi đất mở rộng lộ và xây dựng trường học đã thu hồi một phần. Phần
còn lại theo diện tích đo đạc thực tế tổng cộng 6.754,6m
2
thuộc các thửa 487,
489, 490 491, trong đó 376,9m
2
thuộc thửa 490 loại đất CLN, các phần đất
thuộc thửa 487, 489, 491 là loại đất LUC.
[3.] Xét yêu cầu kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Ông S, ông Hoanh, ông Son cho rằng lúc sinh thời cụ G, cụ Đcó tặng
cho các ông phần đất nên yêu cầu công nhận phần đất tại vị trí đang sử dụng thực
tế theo sơ đồ thửa đất thể hiện. Tuy nhiên việc tặng cho chỉ nói miệng, không
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nên chưa thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử
dụng đất theo quy định. Do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu công nhận
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ G, cụ Đvới ông S, ông Hoanh, ông
Son là có căn cứ.
[3.2] Ông Trần D yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản do cha
mẹ để lại yêu cầu công nhận phần đất tại vị trí 1a, 2, 4a, 5,6, 7, 8, 9 theo đồ
thửa đất cho ông Trần D quản đồng ý hoàn trả giá trị cho các đồng thừa kế.
Tuy nhiên không được các đồng thừa kế thống nhất với yêu cầu này.
12
Xét thấy, tổng giá trị di sản cụ G, cụ Đ chết để lại quyền sử dụng đất
diện tích là 6.754,6m
2
có giá trị là 3.028.410.600đồng, chia đều cho 07 người trong
hàng thừa kế mỗi người được 01 kỷ phần theo quy định của pháp luật giá trị
432.630.085đồng. Do các con của cụ G cụ Đthực tế đang quản sử dụng các
phần đất và có nhà trên đất nên cấp thẩm chia hiện vật theo hiện trạng có trừ
giá trị chênh lệch để các bên thể ổn định chỗ vẫn bảo đảm giá trị 01 suất
thừa kế được hưởng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho các bên.
- Đối với kháng cáo của bị đơn ông Trần D: Yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng hai phần đất làm lối đi giữa Trần D với Nguyễn YNTrần D với
Đặng KC. Xét thấy phần đất di sản của cụ Đ, cụ G để lại nên việc ông Trần D
chưa phải người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền s dụng đất mà tự ý
chuyển nhượng phần đất cho người khác không giá trị pháp lý. Cấp thẩm
tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hiệu xhậu quả
pháp lý của hợp đồng vô hiệu là có căn cứ.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Trần S, ông Trần H, ông
Trần D. Do đã trên 60 tuổi và đơn xin miễn án phí. Ông Trần HS phải chịu
300.000 đồng.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
căn cứ và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần S, Trần H, Trần HS
bị đơn Trần D.
[2] Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 137/2026/DS-ST ngày 15/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với ông Trần
S, ông Trần H, ông Trần D.
Ông Trần HS phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ 300.000 đồng đã nộp theo
biên lai số 0008583 ngày 05 tháng 05 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố
Cần Thơ. Đã thực hiện xong.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- THADS TP. Cần Thơ;
- TAND KV 14 - Cần Thơ;
- Phòng THADS KV 14 - Cần Thơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
- Đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
Lương Phước Đại
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1313/2026/DS-PT Bản án số 1313/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1313/2026/DS-PT Bản án số 1313/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất