Bản án số 59/2026/HS-PT ngày 19/09/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 59/2026/HS-PT ngày 19/09/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 59/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phan Văn T, Nguyễn Thị H - Tổ chức đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 59/2026/HS-PT Bản án số 59/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/HS-PT Bản án số 59/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH LẠNG SƠN
Bn án s: 59/2026/HS-PT
Ngày 19-9-2026
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy.
Các Thẩm phán: Ông Chu Long Kiếm;
Bà Lương Thị Nguyệt;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Lương Vĩnh Nguyên, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2026
tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số 89/2026/TLPT-HS
ngày 28 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo
Phan Văn T và bị cáo Nguyễn Thị H;
Do kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số
207/2026/HS-ST ny 24 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Lạng Sơn.
- Các b cáo có kháng cáo:
1. Phan Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 10 năm 1985 tại
tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: ************; nơi thường trú chỗ ở:
tổ B, khối B (nay khối A), phường K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn N và bà Tô Thị A; bị cáo có vợ: Bùi Thị X
02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giam
từ ngày 27-11-2025 đến ngày 24-12-2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn
bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.
2. Nguyễn Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 10 năm 1974,
tại tỉnh Hải Dương; căn cước công dân số: ************; nơi thường trú và chỗ
ở: tổ A, khối B (nay khối A), phường K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị Đ; bị cáo
chồng: Lưu Văn T1 01 con, sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không;
2
nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giam từ ngày
27-11-2025 đến ngày 24-12-2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện
pháp bảo lĩnh; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn T:Chu Thị Nguyễn P; Luât sư,
Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật tỉnh L; địa chỉ: Số D, đường L, phường Đ,
tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Ngoài ra còn 02 bị cáo 02 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 25-11-2025, tại khu vực cổng chợ thuộc khối B,
phường K, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Công an phường K đang làm nhiệm vụ
phát hiện Nguyễn Thị H biểu hiện nghi vấn hoạt động đánh bạc dưới hình
thức bán số lô, số đề.
Quá trình kiểm tra, Nguyễn Thị H thừa nhận được ghi s lô, s đề t
khách có nhu cầu, sau đó chuyển cho Phan Văn T để hưởng tiền chênh lệch. Căn
cứ lời khai của Nguyễn Thị H, hồi 18 giờ 25 phút cùng ngày, Công an phường K
tiến hành làm việc tại nhà của Phan Văn T.
Tại quan điều tra, Nguyễn Thị H Phan Văn T khai nhận: Lợi dụng
kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hằng ngày, Phan Văn T thỏa thuận
để Nguyễn Thị H làm thư bán số lô, số đcho người chơi, sau đó chuyển lại
toàn bộ số lô, số đề cho Phan Văn T qua ứng dụng Telegram để hưởng tiền
chênh lệch.
Kết quả điều tra xác định: Ngày 25-11-2025, Hà Thị T2 sử dụng tài khoản
Telegram tên T H”, đăng bằng số điện thoại 0977.841.*** nhắn tin mua số
với Nguyễn Thị H, tương ứng số tiền là 7.260.000 đồng; Nông Thị L sử dụng
tài khoản Telegram tên “686868”, đăng bằng số điện thoại 0335.708.***
nhắn tin mua số , số đề với Nguyễn Thị H, tương ứng số tiền 12.018.200
đồng; Hoàng Văn B sử dụng tài khoản Telegram tên H”, đăng bằng số điện
thoại 0862.136.*** nhắn tin mua số đề với Nguyễn Thị H, tương ứng số tiền
152.000 đồng. Ngoài ra, trong ngày 25-11-2025, Nguyễn Thị H còn trực tiếp
bán số lô, số đề cho một số người khách vãng lai (không nhân thân, lai lịch),
tương ứng số tiền 8.154.600 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị H đã bán số
lô số đề cho người chơi là 27.584.800 đồng.
Sau đó, Nguyễn Thị H sdụng tài khoản Telegram tên “Hanh Nguyen”,
đăng ký bằng số điện thoại 0983.275.*** chuyển toàn bộ số lô, số đề đã bán đến
tài khoản Telegram tên “T H1” của Phan Văn T. Cùng ngày, Phan Văn T sử
dụng tài khoản Telegram tên “T H1” trực tiếp bán số đề cho Bùi Thị X, tương
ứng số tiền là 33.000 đồng.
3
Hành vi mua, bán số lô, số đề trong ngày 25-11-2025 của các bị cáo bị
phát hiện, ngăn chặn trước giờ mở thưởng; các bị cáo chưa thanh toán tiền cho
nhau.
Bản án hình sthẩm số 207/2026/HS-ST ngày 24-7-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã quyết định:
Căn c điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; các
điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một)
năm 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù; phạt bổ
sung đối với các b cáo Phan Văn T, Nguyễn Thị H, mỗi bị cáo 20.000.000
đồng;
Ngoài ra án thẩm n xử phạt bị cáo Thị T2, bị cáo Nông Thị L,
mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng nhưng cho hưởng án treo phạt bổ sung mỗi bị
cáo 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc; quyết định xử vật chứng, truy thu số
tiền phạm tội, buộc các bị cáo phải chịu án phí tuyên quyền kháng cáo cho
các bị cáo theo quy định.
Sau khi xét xthẩm, bị cáo Phan Văn T bị cáo Nguyễn Thị H
đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo
trình bày: Các bị cáo lần đầu phạm tội và rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội
của mình. Đề nghị Hội đồng xét xxem xét cho bị cáo được hưởng án treo để
có điều kiện chăm sóc gia đình.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn:
Bản án thẩm tuyên bố bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Thị H phạm tội Tổ
chức đánh bạc đúng người, đúng tội, không oan. Bản án thẩm đã đánh giá
đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và áp dụng đầy
đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tòa án cấp
thẩm đã áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo phù hợp quy định pháp
luật.
Sau khi xét x thẩm, các b cáo t nguyn np tin pht b sung, tin
án phí sơ thm. Ngoài ra, b cáo Phan Văn Tn cung cp tài liu th hin b b
cáo thi gian tham gia chiến tranh bo v T quc, bác lit s; b cáo
Nguyn Th H tích cc tham gia hoạt động t thin tại địa phương. Đây là các
tình tiết giạm nhẹ mới mà các bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự năm 2015.
Các bị cáo người nhân thân tốt, ngoài phạm tội lần này, các bcáo
luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của
công dân nơi tnơi trú ổn định, ràng. Các bị cáo đủ điều
kiện được hưởng án treo, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt
không ảnh hưởng xấu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4
Vì vậy, đ ngh Hội đồng xét x căn cứ đim b khoản 1 Điều 355 và điểm
e khoản 1 Điều 357 ca B lut T tng hình s năm 2015, chấp nhn kháng cáo
xin hưởng án treo ca b cáo Phan Văn T Nguyn Th H; giữ nguyên mức
hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách
đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phan Văn T: Sau khi xét xử
thẩm, bị cáo đã thi hành xong hình phạt bổ sung, án phí thẩm và tại phiên tòa
hôm nay bị cáo tiếp tục thành khẩn; điều đó thể hiện bị cáo đã ăn năn hối hận về
hành vi phạm tội của bản thân. Ngoài ra, bị cáo Phan Văn T3 còn cung cấp tài
liệu thể hiện b bị cáo thi gian tham gia chiến tranh bo v T quc, bác
lit s. Đây các tình tiết giảm nhmới bị cáo Phan Văn T được hưởng
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo có nhân thân tốt;
nơi thường trú cụ thể, ràng; trong thời gian tại ngoại vừa qua không
hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; bị cáo đủ điều kiện được hưởng án
treo theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp
nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phan Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn T, Nguyễn Thị H đều thừa nhận
toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu; lời khai nhận tội
của các bị cáo phù hợp các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án. vậy, việc
truy tố xét xbị cáo Phan Văn T bị cáo Nguyễn Thị H về tội Tổ chức
đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự 2015 là
có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[2] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Phan Văn T và
Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân thân, vai trò, tính chất,
mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; mức hình phạt Bản án sơ thẩm đã
tuyên đối với các bị cáo là phù hợp.
[2.2] Sau khi xét x sơ thẩm, các b cáo t nguyn np tin pht b sung,
tiền án phí thm. Ngoài ra, b cáo Phan Văn T còn cung cp tài liu th hin
b b cáo thi gian tham gia chiến tranh bo v T quc, bác lit s; b
cáo Nguyn Th H tích cc tham gia hoạt đng t thin tại địa phương. Đây
các tình tiết giảm nhẹ mới mà các bị cáo được ởng quy định tại khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2.3] Các bị cáo đều không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự,
nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự 2015; nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; nơi thường
trú cụ thể, ràng; quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo luôn thực hiện
5
đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; trong thời gian tại ngoại vừa qua
không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật.
[3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên; Hội đồng xét xử thấy các bị
cáo Phan Văn T, Nguyễn Thị H có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp
hành hình phạt cũng không gây nguy hiểm cho hội, không ảnh hưởng xấu
đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. vậy, kháng cáo xin hưởng án
treo của bị cáo Phan Văn T Nguyễn Thị H căn cứ nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[4] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, ý kiến đề nghị của Luật sư
căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được Hội đồng xét
xử chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Sau khi xét xử thẩm, các bị cáo đã tnguyện nộp tiền để thi hành
án theo quyết định của Bản án thẩm đã tuyên. vậy, cần phải xác nhận nội
dung này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Phan Văn T
Nguyễn Thị H.
Sa mt phn Bn án hình sự thẩm số 207/2026/HS-ST ngày 24-7-
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn v phần hình phạt, đối với b
cáo Phan Văn Tb cáo Nguyn Th H; cụ thể:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; các Điều 17, 50, 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
1.1 Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng cho hưởng
án treo về tội Tổ chức đánh bạc, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu)
tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 19-9-2026.
1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm cho hưởng án treo v
tội Tổ chức đánh bạc, thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án
phúc thẩm 19-9-2026.
1.3 Giao bị cáo Phan Văn T, bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân
phường K, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia
đình các bị cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc
giám sát, giáo dục bị cáo.
6
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử
thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án
thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt
của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH 14
ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bcáo Phan Văn T, Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
3. Về nghĩa vụ nộp tiền theo Bản án hình sự sơ thẩm:
3.1 Xác nhận bị cáo Phan Văn T đã nộp số tiền 20.000.000 (hai mươi
triệu) đồng theo biên lai thu tiền s0000410 ngày 17-8-2026 và 200.000 (hai
trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0000222 ngày 24-7-2026, của Thi
hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn; để thi hành án.
3.2 Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 10.095.000 (mười triệu
không trăm chín mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0000581 ngày
16-9-2026 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0000225
ngày 24-7-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn; để thi hành án.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- Viện phúc thẩm VKSNDTC tại Hà Nội;
- VKSND tnh Lng Sơn;
- Phòng PC01, PV06 Công an tnh Lạng Sơn;
- TAND khu vc 1 - Lạng Sơn;
- VKSND khu vc 1 - Lạng Sơn;
- Phòng THADS khu vc 1 - Lạng Sơn;
- Các bị cáo;
- Người TGTT khác;
- Phòng GĐKT,TT&THA;
- Lưu: HS; Tòa HS; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Thùy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 59/2026/HS-PT Bản án số 59/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/HS-PT Bản án số 59/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất