Bản án số 1169/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1169/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1169/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1169/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Ngọc L - Cao Thị Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1169/2026/DS-PT Bản án số 1169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1169/2026/DS-PT Bản án số 1169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Bà Dương Thuý Hằng
Bà Võ Th Hng Mai
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Cẩm Chi, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
585/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 7năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng
đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 Tòa án nhân
dân khu vực 3 - y Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 538/2026/QĐ-PT ngày
24 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Hồ Thị Ngọc L, sinh năm 1966
Địa chỉ: số A, khu phố T, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Quốc Â, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã P, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Bị đơn: Cao Thị Đ, sinh năm 1963
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1169 /2026/DS-PT
Ngày: 16-9-2026
Về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Nguyễn Tiểu L1,
thuộc Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh T. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã H, tnh Tây Ninh.
3.2 Ông Đào Vĩnh L2, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E, khu phố T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
3.3. Bà Võ Thị B, sinh năm 1954.
Địa chỉ: ấp B, xã H, tnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Hồ Thị Ngọc L, bị đơn Cao Thị Đ
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hồ Thị
Ngọc L trình bày:
Bà là chủ sử dụng các thửa đất 151, 152, cùng tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại
T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CN 954155, vào sổ số GCN: CS 01769 và số CN 954156, vào
sổ số GCN: CS 01768 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh L (nay là Sở nông nghiệp
môi trường tỉnh T) cấp cùng 15/4/2018. Liền kề với các thửa đất các thửa đất 151,
152 của bà là thửa đất 150, tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) do bà Cao Thị Đ là chủ sử dụng đất.
Nguồn gốc thửa 151, 152 do nhận chuyển nhượng của bà Thị B, ông
Dương Văn L3 o năm 2018, khi nhận chuyển nhượng trọn 02 thửa đất, ông L3,
B chỉ đất bàn giao đất cho ông bà. Giáp ranh với thửa đất 150 (của Đ)
mương nước nuôi cá, có dấu hiệu sạt lở và bụi tre to, một số bụi trúc. Sau khi nhận
chuyển nhượng, đã thuê người phá bui tre bụi trúc. Sau đó, dịch covid bùng
phát từ năm 2019 đến năm 2021 không xuống phần đất này. Đến đầu năm
2022, bà xuống thì phát hiện bà Đ đã lấn chiếm một phần đất thuộc 02 thửa đất 151,
152 mương nước nuôi của gia đình Đ đã sạt lnặng, lấn chiếm vào phần
đất của bà, Đ cậm trụ kéo hàng rào tạm B40 trên phần đất của 02 thửa đất
151, 152. Hàng rào Đ tự dựng, không sự ý kiến thống nhất của bà, đã yêu
cầu phía bà Đ tháo dở hàng rào trả lại đất cho bà nhưng phía bên gia đình bà Đ quá
dữ, bà không nói chuyện được, nên đã gửi đơn tranh chấp đất đai đến Ủy ban nhân
dân xã để hòa giải nhưng gia đình bà Đ không có mặt.
Do đó, khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu buộc Cao Thị Đ có nghĩa vụ trả
lại cho phần diện tích đất lấn chiếm chiều ngang 09m, dài 59m tại một phần
thửa thửa đất 151, 152, cùng tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh); buộc bà Đ tháo dỡ hàng hàng rào lưới B40, trả lại
hiện trạng ban đầu của của 02 thửa đất.
3
Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào Mảnh trích đo địa chính số 186-
2023 ngày 02/8/2023 của Công ty TNHH Đ2 được Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai tại huyện Đ (nay là khu vực Đ) duyệt ngày 17/8/2023, bà L yêu cầu bà Cao
Thị Đ tháo dhàng hàng rào lưới B40, trả lại hiện trạng của phần đất diện tích
175,8m
2
, thuộc một phần thửa 151 tại vị trí hiệu B phần đất diện ch
158,6m
2
thuộc mt phần thửa 152 tại vị trí ký hiệu E của Mãnh trích đo đa chính số
186-2023.
Và khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Cao Thị Đ phải trả cho bà phần đất có diện
tích 110,3m
2
, thuộc một phần thửa 151 tại vị trí hiệu F phần đất diện tích
224,2m
2
thuộc một phần thửa 152 tại vị trí ký hiệu C của Mảnh trích đo địa chính số
186-2023.
Trong quá trình giải quyết vụ án và theo đơn phản tố của bị đơn bà Cao Thị
Đ trình bày:
là chsử dng phần đất có diện tích 1.194m
2
thuộc thửa đất số 150, tờ bản
đồ số 21, đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An, được UBND huyện Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 1107.QSDĐ/0707-LA ngày 01/7/1997. Nguồn gốc
phần đất nêu trên được mẹ chồng bà Thị C tặng cho vợ chồng bà vào năm
1984, vợ chồng quản lý, sử dụng, đến năm 1997 làm thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 1984, khi đó mẹ bà là C tặng cho thửa đất 150
cho vợ chồng bà 01 cái ao một phần đất gò. Phần ao vợ chồng bà dùng để nuôi
cá, còn phần đất gò vợ chồng bà trồng lúa nước. Phần đất thuộc thửa 150, tờ bản đ
số 21 của bà giáp ranh với thửa đất số 151, 152, tờ bản đồ số 21, khi vợ chồng quản
lý, sử dụng đất vào năm 1984 có trụ bê tông một phần tường rào xây dựng bằng
gạch để xác định ranh giới giữa hai bên. Đến năm 2018, L nhận chuyển nhượng
cũng đã ra đất để xác định ranh giới đất giữa bên L bên chủ thửa đất thửa
151, 152 và bên L. Như vậy, bà không hề lấn đất của bà L nên bà không đồng ý
với tất cả yêu cầu khởi kiện của bà L.
Phần đất của không liên quan đến thửa đất số 151, 152 của L vì đất bà
canh tác từ trước giải phóng đến giờ vẫn còn nguyên hiện trạng gồm: Bờ ranh
cây, dây leo, trúc, tre (bà L đã phá) và hàng rào lưới B40, cột bê tông, đã xây trước
khi ông L3 B bán cho L. Việc mua bán L thiếu đất thực tế so với giấy
đất hiện tại thưa kiện với người bán, không mua bán đất với L khởi kiện
bà. Trước đây, bà L có thỏa thuận mua cái đìa (ao) của bà nhưng bà không bán.
Qua yêu cầu khởi kiện của L, bà cũng yêu cầu: xác định phần đất diện tích
175,8m
2
tại vị thiệu B phần đất diện tích 158,6m
2
tại vị thiệu E;
diện tích 110,3m
2
, tại vtrí hiệu F phần dất diện tích 224,2m
2
tại vtrí
hiệu C của Mãnh trích đo địa chính số 186-2023 thuộc quyền sử dụng của bà.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày như sau:
Ông là chồng của bà Cao Thị Đ. Bà Cao Thị Đ là chủ sở hữu Quyền sử dụng đất s
1107.QSDĐ/0707-LA, do UBND huyện Đ cấp ngày 01/7/1997 tại thửa đất số 150,
TBĐ số 21 diện tích 1.194m
2
. Nguồn gốc đất này do mẹ ông Thị C,
quản lý, sử dụng trước giờ tặng cho vợ chồng ông vào năm 1984, vợ chồng ông
sử dụng đến năm 1997, ông ủy quyền cho vợ ông đứng tên quyền sử dụng đất đến
nay. Vị trí thửa đất 150, TBĐ số 21 có các hướng tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp
4
Dương Văn T (cho lại con Dương Văn L3 hiện nay Ông L3 đã chết), Thị
B, 1957, Ngụ B- T- Đ là vợ Ông L3 hiện đang ngụ B- T - Đ- LA); phía Bắc giáp H
Thị T1- Bàu Trai H - T; Phía Nam 01 phần giáp ông Văn C1- Bàu Trai hạ - T
(thứa 548), 01 phần giáp Nguyễn Thị Minh P - Quận H-TP H (thứa 879) và 01 phần
thửa 159 của ông; phía tây giáp Dương Văn L3 nay đã chuyển nhượng cho Hồ
Thị Ngọc L (T- TP .) vào năm 2018.
Thửa 150 gồm 01 phần làm ruộng lúa 01 phần là ao ông nuôi cũng
nơi tiếp giáp với Dương Văn L3 (nay Hồ Thị Ngọc L đứng tên) trên 60 năm
nay. Bờ ranh giữa đất ông với ông L3 là cọc bê tông (xi măng) phía tây, cọc bê tông
(xi măng) phía bắc đã được ông và ông L3 thỏa thuận cắm mốc từ rất lâu trước khi
L3 bán cho L, thời gian sử dụng nuôiông sợ mất cá nên ông dùng lưới B40 ngăn
trên bờ ranh thẳng hàng với 02 trụ cọc tông; cũng trên bờ ranh là hàng trúc ông
trồng từ lâu nay vẫn còn, trên ranh còn có 01 bụi tre từ lâu ông L3 trồng đến khi bà
L mua vẫn còn là ranh giới đất giữa 2 bên. Đến khi bà L mua thì bà mới phá bụi tre
hiện nay không còn bụi tre trên bờ ranh.
L cho rằng đất diện tích trong giấy nhiều hơn đất thực tế nên cố
tình phá bụi tre, nhằm xóa đi hiện trạng ban đầu, thời điểm bà mua bán đất với ông
L3 2018 thì bà phải biết ranh đất ở đâu, giáp ai, đo đạc thiếu thì yêu cầu ông L3 giải
quyết chứ sao mua bán nay gần 5 năm rồi giờ thấy ít đất thì lại đi khiếu kiện
ông lấn chiếm đất của L, trong khi ông ông L3 trước giờ không stranh
chấp nào, đồng thời trong lúc mua bán giữa ông L3 (B) với L tông L3, B
cũng chỉ rất rõ ràng vị trí đất, các nơi giáp ranh thì L mới đồng ý mua bán.
Thời điểm cấp quyền sử dụng đất của ông Dương Văn L3 chiếu theo đồ
không ảnh (chụp bằng máy bay), diện tích thửa đất chỉ tương đối không tuyệt đối
như hiện nay đo đạc bằng máy định vị, nên diện tích đất cấp trong giấy cho ông L3
nhiều hơn so thực tế thể xảy ra. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét không chấp
nhận yêu cầu của bà L, chấp nhận yêu cầu của vợ ông, xác định phần đất tranh chấp
là của gia đình ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị B trình bày như sau:
Vợ chồng và vợ chồng Đ đều được thừa hưởng đất ông để lại, vợ
chồng được thừa hưởng 02 thửa 151, 152, vợ chồng Đ, ông N được thửa hưởng
150, phần đất của bà và phần đất của bà Đ, ông N có ranh giới rõ ràng là hàng trúc,
còn phía cái mương, cái đìa qua bên kia đất của ông N. Vợ chồng đã thỏa thuận
bán hết 02 thửa 151, 152 với giá 900.000.000 đồng cho Hồ Thị Ngọc L. Vchồng
bà đã nhận đủ tiền và ra văn phòng công chứng ký tên giao sổ đất cho bà L, khi
làm giấy tờ đo đạc thực tế hay không thì không biết, do toàn bộ giấy tờ giao
cho phía bà L làm thủ tục tách sổ. Ông Dương Văn L3 là chồng bà đã chết, giữa bà
L với vợ chồng bà không tranh chấp, không yêu cầu liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất 151, 152 vì việc mua bán đã
thực hiện xong. L khởi kiện Đ cho rằng Đ lấn chiếm đất thì thấy rằng
khi bán đất đã chỉ ranh giới cho bà L, phần đất bà Đ sử dụng là ổn định, từ xưa,
bà và bà Đ không có tranh chấp, đất có ranh giới rõ ràng.
5
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Vĩnh L2 trình bày như sau:
Ông là chồng bà Hồ thị Ngọc L, ông thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L,
không có ý kiến, yêu cầu gì khác trong vụ án.
Các đương sự thống nhất đnghị Toà án sử dụng mảnh trích đo bản đồ địa
chính số 186-2023 ngày 02/8/2023 của Công ty TNHH Đ2 được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai duyệt ngày 17/8/2023 Chứng thư thẩm định giá số
388/04/09/2023/TĐG-BĐS ngày 04/9/2023 của Công ty cổ phần T2 làm sở để
giải quyết vụ án; Ngoài ra, các đương sự thống nhất không tranh chấp cây trồng trên
phần tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 Tòa án nhân
dân Khu vực 3- y Ninh quyết định:
Áp dụng Điều 26, Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Ngọc L về việc yêu
cầu Cao Thị Đ trả lại phần đất lấn chiếm tại vị trí B, diện tích 175,8m
2
thuc
mt phn thửa đất 152 và phần đất ln chiếm ti v trí E có din tích 158,6m
2
thuc
mt phn thửa đất 151, cùng t bn đ 21, ta lc ti T, huyện Đ, tnh Long An (nay
là xã H, tnh Tây Ninh).
Không chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca bà H Th Ngc L v vic
yêu cu bà Cao Th Đ tr li phần đất ln chiếm tại vị trí C, có diện tích 224,2m
2
phần đất ti v trí F có din tích 110,3m
2
.
(Theo Mảnh trích đo địa chính số 186-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai tại huyện Đ (nay là khu vực Đ) duyệt ngày 17/8/2023).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Cao Thị Đ.
Xác định phần đất tại vị trí C, diện tích 224,2m
2
, loại đất LUK thuộc một
phần thửa đất số 150, t bản đ 21, ta lc ti T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là
H, tnh Tây Ninh), thuộc quyền sử dụng của bà Đ.
Xác định phần đất tại vị trí F có diện tích 110,3m
2
, thuộc thửa đất số 150, t
bản đồ 21, ta lc ti T, huyện Đ, tnh Long An (nay xã H, tnh Tây Ninh) thuộc
quyền sử dụng của Cao Thị Đ, điều chỉnh mục đích sử dụng đất vị trí F từ loại
đất ONT thành loại đất LUK.
Không chp nhn mt phn yêu cu phn t ca Cao Th Đ v vic xác
định phần đất tại vị trí B, diện tích 175,8m
2
phần đt ln chiếm ti v trí E
din tích 158,6m
2
thuc quyn s dng ca bà Đ.
(Theo Mảnh trích đo địa chính số 186-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai tại huyện Đ (nay là khu vực Đ) duyệt ngày 17/8/2023).
3. Các đương sự quyền đến quan thẩm quyền về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đề nghị cấp lại giấy
6
chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Cơ quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án
để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/4/2026 Hồ Thị Ngọc L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 28/4/2026 Cao Thị Đ và ông Nguyễn Văn N kháng yêu cầu cấp phúc
thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố của bà Cao Thị Đ sau
khi đã mở phiên toà sơ thẩm là vi phạm tố tng quy định tại khoản 3, Điều 200 Luật
Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn không đề nghị huỷ án sơ thẩm.
Về nội dung: quan nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Dương Văn L3 và bà Võ Thị B đúng quy định. Khi ông L3,
B chuyển nhượng đất cho L đúng quy định, chuyển nhượng đúng diện tích
theo giấy chứng nhận. Cao Thị Đ cho rằng, sử dụng đất ổn định lâu dài
không căn cứ. Việc Đ, ông N cho rằng, giữa hai thửa đất ranh bụi tre,
trúc nhưng khi L phá bụi tre, trúc thì ông N, Đ không ngăn cản. Việc ông N,
Đ làm hàng rào kẽm gai trong thời gian bà L không mặt. L không thừa
nhận hàng rào kẽm gai là ranh đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
cơ quan có thẩm quyền là đúng trình tự và quy định của pháp luật. Bị đơn không có
khiếu nại đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 2019, khi
bị đơn đo đạc để tách thửa đất 159, mảnh trích đo cũng thể hiện thửa 159 giáp ranh
với thửa 150, 152. Như vậy, mảnh trích đo phù hợp với bản đồ địa chính qua các
thời k. Bị đơn ch căn cứ vào lời trình bày của bà B xác nhận ranh đất, trong khi bà
B và Đ mối quan hệ gia đình và lời khai của B không phù hợp với thực tế
mảnh trích đo bản đồ địa chính bản đồ địa chính do cơ quan có thẩm quyền đo vẽ
nên không đủ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Nguyên đơn nộp bổ sung vi bằng lập ngày 28/8/2026 về hiện trạng thửa đất
151, 152 và 150; chứng từ nộp thuế đất phi nông nghiệp của Hồ Thị Ngọc L đối
với thửa đất 151; Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 575-2019 đối với thửa 159, tờ
bản đồ số 21.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và bị đơn trình bày: Phía
bị đơn sử dụng đất ổn định, lâu dài từ năm 1984 là một sự thật khách quan, thể hiện
ở các trụ ranh đất như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án, mương nước
nuôi cá, bờ ao. Giữa bị đơn và bà Võ Thị B (chủ cũ của thửa 151,152) không xảy ra
bất kỳ tranh chấp nào. Bà Võ Thị B trước sau đều khẳng định chỉ bán đất cho L
phần đất giáp mương nước. Căn cứ đnguyên đơn khởi kiện là sự chênh lệch diện
7
tích đất trên giấy so với thực tế đối với phần đất của nguyên đơn bị đơn. Tuy
nhiên trên thực tế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 1997 không
tiến hành đo đạc thực tế nên việc chênh lệch diện tích thực tế thường xảy ra. Việc
nguyên đơn cho rằng bị đơn tự ý kéo hàng rào B40 lấn sang thửa 151,152 là không
có căn cứ vì bà Đ chỉ tiến hành gia cố lại hàng rào trên cơ sở ranh mốc cũ. Đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn.
Ngày 28/8/2026, Toà án nhân dân tỉnh Tây ninh tiến hành xem xét thẩm định
tại chỗ đối với phần đất tranh chấp. Theo Biên bản xem xét thẩm định, tại vị trí ranh
do nguyên đơn xác định hàng rào kẽm gai và một đoạn tường bê tông cao khoảng
30cm, dài khoảng 20 m xây từ nam sang bắc. Đầu phía bắc một cột tông. Bị
đơn xác định đây là cột mốc ranh.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy định ca B lut T tng dân s.
Các đương sự thc hiện đúng quyền nghĩa v của mình theo quy định ca B lut
T tng dân s.
Về nội dung: Đnghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc L, bị đơn
Cao Thị Đ người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm ca Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Hồ Thị Ngọc L Cao Thị Đ nộp trong thời hạn luật
định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Vquan hệ tranh chấp: Nguyên đơn b đơn đều yêu cầu xác đnh các
thửa đất tranh chp thuc quyn s dng ca mình nên cấp thẩm xác định quan
h pháp lut tranh chp tranh chp quyn s dụng đất theo quy đnh ti khon 9
Điu 26 ca B lut T tng dân s 2015 là phù hp.
[3] V th tc t tng: Ti phiên toà phúc thẩm, đại diện nguyên đơn cho rằng,
cấp thẩm thụ yêu cầu phản tố của Cao Thị Đ sau khi đã mở phiên toà
thẩm vi phạm tố tụng quy định tại khoản 3, Điều 200 Luật Tố tụng dân sự. Tuy
nhiên, nguyên đơn không đề nghị huỷ án sơ thẩm. Mặt khác, yêu cầu phản tố của bị
đơn nằm trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Việc thụ lý yêu cầu phản tố của
bị đơn để giải quyết vụ án được toàn diện dứt điểm. Trong trường hợp hủy án để thụ
8
lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong một vụ án khác sẽ làm vụ án kéo dài nên không
cần thiết huỷ án sơ thẩm.
[4] Về sự vắng mặt của những người có quyền nghĩa vụ liên quan Võ Thị B,
ông Đào Vĩnh L2: B, ông L2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng
tiến hành giải quyết vắng mặt đối với các đương sự này.
[5] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Ngọc L, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Hồ Thị
Ngọc L khởi kiện yêu cầu bà Cao Thị Đ trả lại phần đất diện tích 668,9m
2
, vị trí B,
C, E, F theo Mãnh trích đo địa chính số 186-2023. Theo Mãnh trích đo địa chính thì
toàn bộ phần đất tranh chấp vị trí B, C thuộc ranh bản đồ địa chính thửa 152, vị trí
E, F thuộc ranh bản đồ địa chính thửa 151, tờ bản đồ số 21 doL đứng tên quyền
sử dụng.
[5.1] Về nguồn gốc đất quá trình cấp giấy chứng nhận đối với phần đất tranh
chấp:
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh L (nay Sở nông nghiệp môi trường tỉnh T) cấp cho Hồ Thị Ngọc L ngày
14/5/2018 thì thửa đất số 151 diện tích 836m
2
, loại đất tại nông thôn, thửa
đất số 152 diện tích 2.983m
2
. Nguồn gốc đất do L nhận chuyển nhượng
từ ông Dương Văn L3 bà Thị B. Phần đất này ông L3 được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1999.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 150, tờ bản đồ số 21, loại đất
LM do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Đ ngày 02/7/1997 diện
tích là 1.194 m
2
.
Trong quá trình sử dụng, giữa ông L3, B ông N, Đ không xảy ra tranh
chấp. Năm 2018, bà Võ Thị B và ông Dương Văn L3 chuyển nhượng thửa đất 151,
152 cho bà Hồ Thị Ngọc L thì xảy ra tranh chấp.
Như vậy, Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ông L3.
Đ cho rằng diện tích đất cấp không đúng với thực tế sử dụng nhưng không
khiếu nại, khởi kiện yêu cầu điều chỉnh lại diện tích đất.
Xét thấy, khi bà Hồ Thị Ngọc L nhận chuyển nhượng đất từ bà Võ Thị B các
bên không tiến hành đo đạc. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông
L3 đứng tên thể hiện diện tích các thửa đất. Tại hợp đồng chuyển nhượng đất ngày
14/4/2018, bên chuyển nhượng cam kết vthông tin của thửa đất. Do đó, sở
xác định khi nhận chuyển nhượng 2 thửa đất 151, 152 đủ diện tích như giấy chứng
nhận.
Theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 186-2023 thể hiện thửa đất số 151
diện tích thiếu 366.9m
2
, thửa đất số 152 diện tích thiếu 618,9m
2
so với giấy chứng
9
nhận quyền sử dụng đất. Thửa 150 diện tích đo đạc thực tế 1230,8m
2
36,8m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[5.2] Xét quá trình sử dụng đất: Bà Võ Thị B và bà Cao Thi Đ1 đều thừa nhận
các thửa đất 151,152, và 150 đều có nguồn gốc từ ông bà để lại. Các bên sdụng ổn
định từ trước đến nay. Ranh đất được xác định là bờ mương do phía bà Đ1 đào nuôi
từ năm 1984. Tuy nhiên, ranh đất này không phù hợp với ranh bản đồ thửa đất
các bên được cấp. Thửa đất 150 của bà Cao Thị Đ được cấp năm 1997. Thửa đất
151, 152 của ông Dương Văn L3 được cấp giấy chứng nhận năm 1999. Như vậy,
Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ông L3. Tuy nhiên, từ khi
nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, bà Cao Thị Đ không khiếu nại v
việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không đúng diện tích sử dụng để điều
chỉnh lại diện tích thửa đất. Mặt khác, bà Cao Thị Đ chủ sử dụng đất đối với thửa
đất 159, tờ bản đồ số 21. Thửa đất 159 tiếp giáp thửa 150 của Cao Thị Đ và thửa
152 của bà Hồ Thị Ngọc L. Bà Đ tách mt phần thửa 159 để chuyển quyền sử dụng
đất cho người khác. Tại Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 575 thể hiện phía bắc
thửa 159 giáp thửa 152, 150. Như vậy, Mảnh trích đo bản đsố 575 phù hợp với
ranh bản đồ địa chính của thửa 152 và thửa 150.
[5.3] Ngoài ra, thửa đất 151 là đất thổ cư. Cho đến năm 2026 bà Hồ ThNgọc
L vẫn người đóng thuế đất phi nông nghiệp đối với diện tích đất 836m
2
của thửa
151, tờ bản đồ số 21.
[5.4] Vranh đất thực tế: Cao Thị Đông N cho rằng ranh giữa thửa đất
152, 151 và thửa 150 là hàng tre, trúc đã bị bà L phá bỏ. Tuy nhiên, khi L phá b
bụi tre, trúc thì bà Đ, ông N không ngăn cản. Tại vị trí ranh đất, bị đơn cho rằng
xây một đoạn tường tông cao khoản 30 cm, dài khoảng 20m từ phía Nam sang
phía Bắc để làm ranh giữa 2 bên. Lời khai của Đ, ông N được bà Võ Thị B thừa
nhận. Tuy nhiên, xét thấy, đoạn tường xây chỉ cao khoảng 30cm, bị khuất bởi nhiều
cây cao. Nguyên đơn chụp lại đoạn tường này, thể hiện tại trang 15 của Vi bằng
do nguyên đơn cung cấp. Bà Đ cho rằng đoạn tường được xây từ lâu khoảng hơn 10
năm. Đoạn tường xây cùng thời gian với đoạn tường xây tại phía bắc, ngăn giữa thửa
150 thửa 786. Ngoài lời khai của bị đơn Thị B thì không chứng cứ
nào khác chứng minh đoạn tường này là ranh giữa hai thửa đất. Thời gian xây tường
rào của Đ cũng phát sinh sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất.
Khi sang nhượng thửa đất, B cũng không thông báo cho L về sự tồn tại của
đoạn tường ranh này. Do đó không căn cứ xác định phần tường phía bắc của thửa
đất ranh của thửa đất. Thị B cho rằng chỉ chuyển nhượng cho L phần
đất đến bờ mương nhưng các bên không thể hiện biên bản xác định ranh của thửa
đất lời trình bày của B cũng không phợp với diện tích đất thể hiện trong
hợp đồng chuyển nhượng. Do đó cần căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
10
dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản đồ địa chính để xác định diện
tích đất chuyển nhượng.
[6] Cao Thị Đ yêu cầu phản tố, công nhận quyền sử dụng đất đối với
toàn bộ phần đất tranh chấp. Theo bà Đ trình bày, phần đất tranh chấp hiện trạng là
ao cá do Đ đào từ năm 1984 nhưng không đồng ý đo đạc lại để xác định diện tích
ao nên không có cơ sở xác định phần ao này được đào trên phần đất thuộc quyền sử
dụng của bà Đ.
[7] Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà Đ cho rằng, phần đất tranh chấp bà
Đ là người sdụng ổn định lâu dài nên cần căn cứ khoản 5 Điều 98, 100 Luật Đất
đai 2013 đ xác đnh, giy chng nhn đã cấp mà ranh gii thửa đt đang s dng
không thay đổi so vi ranh gii thửa đất ti thời đim giy t v quyn s dng
đất, không có tranh chp vi những người s dụng đất lin k thì khi cp hoặc đổi
Giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s hu nhà tài sn khác gn lin
với đt diện tích đất được xác định theo s liệu đo đc thc tế “. Luận cy không
phù hp vi thc trng tranh chp trong v án. Bà Đ và bà B đều cho rng vic cp
giy chng nhn quyn s dụng đt không phù hp vi thc tế s dụng nhưng trong
sut thi gian Đ, ông L3 đưc cp giy chng nhn quyn s dụng đất, các bên
không điều chnh giy chng nhn quyn s dụng theo quy định ca pháp lut. Vic
s dụng đất khi đã được cp giy chng nhn quyn s dụng đất cho người khác
không được coi ổn định lâu dài. Khi B chuyển nhượng cho L đã chuyển
nhưng diện tích đúng theo phần đất được cấp nên không có s áp dụng Điều 98,
100 Luật đất đai như Luật sư trình bày.
[8] Từ các lập luận trên, xét thấy bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố ca bị đơn Cao Thị Đ
chưa đánh giá khách quan toàn bộ nội dung vụ án. Cần sửa Bản án dân sự thẩm
số 120/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh.
[9] Vchi phí tố tụng: Cao Thị Đ phải chịu toàn bộ chi phí ttụng 40.000.000
đồng. Bà L đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên Đ phải hoàn trả cho L số tiền
40.000.000 đồng. Chi phí xem xét thẩm định tại cấp phúc thẩm 3.000.000 đồng
Cao Thị Đ phải chịu, đã nộp xong.
[10] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[11] Về án phí:
[11.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Bà Cao Thị Đông Nguyễn Văn N người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn
án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
11
[11.2] Án pdân sự phúc thẩm: Hồ Thị Ngọc L không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Bà Cao Thị Đ được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Ngọc L.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Cao Thị Đ ông Nguyễn Văn
N.
3. Sửa Bản án dân sự thẩm số: 120/2026/DS-ST ngày 24/4/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh.
Căn cứ Điều 100, 101 Điều 26, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai
năm 2013;
Căn cứ vào các Điều 182, 184, 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án
phí, lệ phí Toà án
3.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hồ Thị Ngọc L về việc yêu
cầu bà Cao Thị Đ trả lại phần đất tại vị trí B, diện tích 175,8m
2
, vị trí C có diện tích
224,2m
2
thuc mt phn thửa đất 152, t bản đồ s 21; phần đt ti v trí E din tích
158,6m
2
, phần đt ti v trí F din tích 110,3m
2
thuc mt phn thửa đất 151,
cùng t bản đồ 21, ta lc ti T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tnh Tây Ninh).
(Theo Mảnh trích đo địa chính số 186-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai tại huyện Đ (nay là khu vực Đ) duyệt ngày 17/8/2023).
3.2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Cao Thị Đ về việc xác
định phần đất tại vị trí B diện tích 175,8m
2
, vị trí C có diện tích 224,2m
2
thuc mt
phn thửa đất 152, t bản đồ s 21; phần đất ti v trí E din tích 158,6m
2
, phần đất
ti v trí F có din tích 110,3m
2
thuc mt phn thửa đất 151, cùng t bản đồ 21, ta
lc ti T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tnh Tây Ninh) thuộc quyền sử dụng
của bà Đ.
(Theo Mảnh trích đo địa chính số 186-2023 do Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai tại huyện Đ (nay là khu vực Đ) duyệt ngày 17/8/2023).
3.3. Buc Cao Th Đ giao tr phần đất ti các v trí nói trên cho H
Th Ngc L.
3.4. Về chi phí tố tụng (chi phí thẩm định, định giá, đo đạc): Cao Thị Đ
phải hoàn trả cho bà Hồ Thị Ngọc L là 40.000.000 đồng.
12
3.5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Ngọc L không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm. Bà Cao Thị Đ là người cao tuổi, có đề nghị miễn án phí nên được miễn
án phí dân sự sơ thẩm.
4. Án phí dân sphúc thẩm: Hồ Thị Ngọc L không phải chịu án pdân
sự phúc thẩm. Bà Cao Thị Đ ông Nguyễn Văn N được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân scó quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 của Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi
hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 3 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1169/2026/DS-PT Bản án số 1169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1169/2026/DS-PT Bản án số 1169/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất