Bản án số 796/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 796/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 796/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 796/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N kiện Phạm Thị H tranh chấp "Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 796/2026/DS-PT Bản án số 796/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 796/2026/DS-PT Bản án số 796/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TNG THÁP
Bản án số: 796/2026/DS-PT
Ngày: 15-9-2026
V/v tranh chấp: “Quyền về lối
đi qua bất động sản liền kề”
CNG HOÀ XÃ HI CH T NAM
c lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNG THÁP
Thành phn Hng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Thm phán: Ông Trần Văn Đạt.
Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy.
 Bà Nguyễn Thị Trúc Hương - Thư ký.
i din Vin kim sát nhân dân tng Tháp: Ông Huỳnh Hữu Nghi -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 10 và 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 478/2026/TLPT-
DS ngày 13 tháng 7 năm 2026 về việc tranh chấp “Quyền về lối đi qua bất động
sản liền kề”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số 68/2026/DS-ST, ngày 13/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1240/2026/QĐ-PT ngày
15/7/2026, giữa các đương sự:
Lê Thị N, sinh năm 1963; (có văn bản xin vắng mặt)
Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1987; (có mặt)
Số căn cước: ************, cấp ngày: 26/01/2022;
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
i din theo y quyn cho ch N1:
Tạ Kim T, sinh năm 1963; (có mặt)
Theo văn bản ủy quyền ngày 21/5/2025;
Địa chỉ: Số E Đường C T, khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2. B Phạm Thị H, sinh năm 1967;
Số căn cước: ************, cấp ngày: 09/5/2022;
Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1970; (vắng mặt)
Nguyễn Văn Ngũ H1, sinh năm 1998; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
i din theo y quyn ca bà H n y quyn ngày 29/7/2026:
2
Phạm Thị Phương T2, sinh năm 1992; (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố Đ.
i có quyn l liên quan:
Phạm Văn H2, sinh năm 1976;
Số căn cước: ************, cấp ngày: 01/6/2023;
Địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
i din theo y quyn ca bà H n y quyn ngày 29/7/2026:
Phạm Thị Phương T2, sinh năm 1992; (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố Đ.
Lê Thị Nguyệt C, sinh năm 1981; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Lê Thanh S, sinh năm 1977; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
i kháng cáo: Bị đơn Phạm Thị H.
NI DUNG V ÁN:
m, Lê Th N, Nguyn Th Ngc N1 trình
bày: Bà Lê Thị N, Nguyễn Thị Ngọc N1 có thửa đất số 182, tờ bản đồ số 33,
diện tích 1812,3m
2
; Thửa 404, tờ bản đồ số 33, diện tích 1000m
2
; Thửa 361, tờ
bản đồ số 33, diện tích 2000m
2
cùng tọa lạc ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp, được
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N, bà N1. 03 thửa đất trên của
bà N1, bà N bị vây bọc bởi thửa đất giáp ranh số 187, tờ bản đồ số 33, diện tích
1990,1m
2
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 04/5/2011 cho bà Trần Thị T3 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện C xác nhận cấp lại cho bà Phạm Thị H ngày 17/3/2020;
Năm 2021, bà N1, bà N lên líp trồng mít và xây hàng rào lưới B40 nhưng
không có đường đi vào canh tác, muốn đi ra đường công cộng phải đi qua thửa
187 của bà H, nhưng bà H ngăn cản không cho đi, nên 03 thửa đất của bà N1, bà
N phải bỏ hoang, không đi lại canh tác được trong nhiều năm nay;
Sau đó, bà H trình bày đã bán thửa đất 187 này lại cho ông Phạm Văn H2,
bà Lê Thị Nguyệt C nhưng chưa sang tên theo quy định. Ông H2 có ý kiến
không đồng ý mở lối đi cho bà N1, bà N do muốn giữ nguyên hiện trạng đất của
ông bà để lại;
Do đó, bà Lê Thị N và chị Nguyễn Thị Ngọc N1 yêu cầu bà Phạm Thị H,
ông Nguyễn Hữu T1 và anh Nguyễn Văn Ngũ H1, ông Phạm Văn H2 cùng vợ là
bà Lê Thị Nguyệt C phải mở cho bà N, bà N1 một lối đi có chiều ngang 1m,
chiều dài 70m đến kinh Máng qua bất động sản liền kề là thửa đất số 187, tờ bản
đồ số 33, diện tích thực tế 1989,8m
2
tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(nay là ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp) của hộ bà Phạm Thị H. Bà N, chị N1 đồng
ý hoàn trả giá trị diện tích đất sử dụng làm lối đi lại cho bà Phạm Thị H, ông
3
Nguyễn Hữu T1 và anh Nguyễn Văn Ngũ H1 với giá 15.000.000đồng (cao hơn
giá tại biên bản định giá).
* B Phm Th H, ông Nguyn Hu T1 trình bày: Ông bà không
đồng ý với yêu cầu mở lối đi của nguyên đơn, vẫn giữ nguyên ý kiến như đã
trình bày trước đây.
Đối với bản án phúc thẩm có nhận định về việc cấp sai vị trí đất, ông bà có
ý kiến như sau: Theo bản án phúc thẩm thì bà T3, bà N2 được chia thừa kế theo
bản án phúc thẩm số 377, tuy nhiên bà T3 không được nhận thừa kế theo bản án
phúc thẩm số 377 và phần đất thửa 187 này bà T3 mua lại từ ông N3. Sau đó, bà
T3 để thừa kế lại cho bà H là thửa 187 hiện nay. Đối với việc cấp nhầm hay sai
vị trí, ông bà không có ý kiến vì các bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay, nên không có ý kiến về nguồn gốc
đất hay cấp nhầm vị trí đất và vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý mở lối đi vì
đã bán phần đất này cho ông H2, bà C nên không còn quyền quyết định đối với
thửa đất 187.
Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2026/DS-ST, ngày 13/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, 157, 169, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 266,
273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 245, 254, 357, 468 Bộ luật dân sự; Điều 95,
171 Luật Đất đai và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Luật số: 85/2025/QH15 của Quốc hội về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N và bà Nguyễn
Thị Ngọc N1 có đại diện theo ủy quyền của bà N1 là bà Tạ Kim T.
Buộc hộ bà Phạm Thị H gồm: Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 và ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị Nguyệt C phải mở cho bà Lê Thị N,
Nguyễn Thị Ngọc N1 01 lối đi có diện tích theo đo đạc là 60,1m
2
chiều ngang
01m dài hết thửa 187 là 60,1m), nằm trong thửa đất 187, tờ bản đồ số 33, diện
tích 1989,8m
2
tọa lạc ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp do bà Phạm Thị H đại diện hộ
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị
Nguyệt C quản lý sử dụng thực tế.
Lối đi có tứ cận như sau: Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Ngọc N1;
Hướng Nam giáp đường đất; Hướng Tây giáp phần đất đất còn lại thửa 187;
Hướng Đông giáp đất ông Trần Văn Đ.
(Kèm phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 21/11/2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đ2 – Đồng Tháp)
Ghi nhận bà Lê Thị N, Nguyễn Thị Ngọc N1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho
4
ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị Nguyệt C giá trị lối đi được mở là
15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng). Thực hiện việc trả tiền ngay khi án có
hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông H2, bà C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà N1 chậm thi
hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm
trả.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc N1 số tiền
chi phí tố tụng là 5.000.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Ngọc N1 phải chịu 750.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà
N1 đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002173, ngày
21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, cấn trừ nên bà N1
phải nộp tiếp 450.000đồng án phí.
Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương
sự;
Ngày 26/3/2026, bị đơn Phạm Thị H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ
thẩm, đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê
Thị N, Nguyễn Thị Ngọc N1;
m:
Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn H2 là chị Phạm
Thị Phương T2 đưa ra nhiều luận cứ cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Ngọc N1 là không có cơ sở, bởi vì bà N, bà N1 đã
sử dụng lối đi trước đây là đường đi giáp đất với ông Lê Thanh S và ông Trần
Văn T4 để ra đường công cộng; Lối đi để ra đường công cộng là Đường T
Đường Nước là đường nhựa có chiều rộng 3,5m và cũng là trục đường chính để
ra Quốc lộ A; Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định của Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp ngày 05/8/2026 thể hiện từ thửa đất của bà Lê Thị N đi đến Đường T
Đường N là gần nhất để đi ra Quốc lộ A thuận tiện hơn so với yêu cầu của
nguyên đơn; Theo Công văn số 1041 ngày 21/8/2026 của Chi nhánh Văn phòng
Đ2 xác định: Theo Quyết định số 02 ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân
huyện C, tỉnh Tiền Giang ban hành quy định kết cấu hạ tầng giao thông đường
bộ đối với hệ thống đường xã trên địa bàn huyện C quy định trên địa bàn xã M
(nay là xã M) có 17 tuyến đường, trong đó có tuyến Đường T Đường N (điểm
đầu là Quốc lộ A, điểm cuối là cầu Cả Gáo); Căn cứ vào sơ đồ bản vẽ ngày
21/11/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ2 – Đồng Tháp thể hiện cạnh hướng
Nam của thửa đất 187 là một đường đất và hiện tại cũng không có cầu để bắt
qua Kênh máng rộng gần 05m. Do đó nếu mở qua lối đi này thì không thuận tiện
và chiều dài dài hơn so lối đi cũ mà bà N, bà N1 đã đi trước đây;
5
Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N,
bà Nguyễn Thị Ngọc N1.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc N1 là bà Tạ Kim T đưa ra
nhiều luận cứ như án sơ thẩm đã nhận và đề nghị không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà Phạm Thị H, giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến trong
quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đưa ra nhiều luận cứ như án sơ
thẩm đã nhận định và đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà
Phạm Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát
viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:
[1]. Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hạn
kháng cáo, sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị N, Nguyễn Thị Ngọc
N1 thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Quyền về lối đi qua bất động
sản liền kề” được quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự. Vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng
Dân sự;
Căn cứ vào đơn kháng cáo của bà Phạm Thị H, biên lai nộp tạm ứng án phí
thì bà H kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của Bộ
luật Tố tụng Dân sự;
Xét trong quá trình thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
Dân Sự, có mặt chị T2, bà T, chị N1; Ông T1, anh Ngũ H1, chị C, anh S vắng
mặt; Bà Lê Thị N có văn bản xin vắng mặt; Đương sự có mặt tại phiên tòa đề
nghị xét xử vắng mặt đối với đương sự vắng mặt; Đại diện viện kiểm sát đề nghị
xét xử vắng mặt đối với đương sự vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định vẫn
tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Phạm Thị H, Hội đồng xét xử
xét thấy:
[2.1]. Xét nguyên nhân phát sinh tranh chấp:
Căn cứ trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các
thửa đất số 182, 404, 361 và 187, nhận thấy:
Thửa đất 182, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.812,3m
2
, tại ấp A, xã M, huyện
6
C, tỉnh Tiền Giang do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH00770 ngày 30/5/2012 cho bà Lê Thị N;
Thửa đất 404, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.000m
2
, tại ấp A, xã M, huyện C,
tỉnh Tiền Giang do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CN05653 ngày 10/10/2023 cho bà Nguyễn Thị Ngọc N1;
Thửa đất 361, tờ bản đồ số 33, diện tích 2.000m
2
, tại ấp A, xã M, huyện C,
tỉnh Tiền Giang do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS03717 ngày 22/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Ngọc N1;
Thửa đất số 187, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.990,1m
2
do Ủy ban nhân dân
huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/5/2011 cho bà Trần
Thị T3 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận cấp lại
cho bà Phạm Thị H ngày 17/3/2020.
Căn cứ vào phiếu đo đạc, chỉnh lý thửa đất ngày 21/11/2025 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai khu vực VIII – Đồng Tháp thể hiện:
Thửa đất số 403 của bà Lê Thị N có cạnh hướng Đông – Bắc giáp thửa đất
số 163 của ông Lê Thanh S;
Thửa đất số 404 của bà Lê Thị N có cạnh hướng Đông – Bắc giáp thửa đất
số 403 của bà Lê Thị N;
Thửa đất số 361 của bà Nguyễn Thị Ngọc N1 có cạnh hướng Đông – Bắc
giáp thửa đất số 404 của bà Lê Thị N;
Thửa đất số 187 của bà Phạm Thị H có cạnh hướng Đông – Bắc giáp thửa
đất 361 của bà Nguyễn Thị Ngọc N1;
Thửa đất số 187 của bà Phạm Thị H có cạnh hướng Tây - Nam giáp đường
đất, kênh.
Bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Lê Thị N cho rằng: Các thửa đất số 403, 404,
361 được bao bọc bởi các thửa đất liền kề, không có lối đi. Các phần đất trên đã
được lên líp trồng cây ăn trái nhưng không có lối đi nên hiện tại đã bị bỏ hoang.
Để có lối đi ra đường công cộng thì chỉ có mở lối đi qua thửa đất số 187 của bà
Phạm Thị H là thuận tiện nên bà N1, bà N yêu cầu bà Phạm Thị H, ông Nguyễn
Hữu T1, anh Nguyễn Văn Ngũ H1 phải mở cho bà N, bà N1 một lối đi có chiều
ngang 1m, chiều dài khoảng 70m đến kênh Máng qua thửa đất số 187 của hộ bà
Phạm Thị H;
Bà N, bà N1 đồng ý trả giá trị diện tích đất sử dụng làm lối đi cho bà Phạm
Thị H, ông Nguyễn Hữu T1, anh Nguyễn Văn Ngũ H1 với giá 15.000.000đồng;
Bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Hữu T1, anh Nguyễn Văn Ngũ H1 không
đồng ý nên dẫn đến phát sinh tranh chấp.
[2.2]. Xét các thửa đất số 182, 404, 361 và 187 có bị bao bộc bởi các thửa
đất liền kề hay không, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của
Tòa án nhận dân huyện C, tỉnh Tiền Giang; Bản án phúc thẩm số 264/2025/DS-
7
PT ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang;
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/10/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 4 – tỉnh Đồng Tháp;
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/8/2026 của Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp;
Có cơ sở xác định: Các thửa đất số 182, 404, 361 bị bao bọc bởi các bất
động sản liền kề và hiện tại không có lối đi vào các thửa đất này;
Thửa đất 187 cũng không có lối đi vào, để đi vào được thửa đất 187 theo
hướng Tây – Nam thì phải qua con kênh (kênh M) và hiện tại cũng không có cầu
bắt qua kênh Máng.
[2.3]. Xét các thửa đất số 182, 404, 361 có lối đi nào khác, thuận tiện để đi
ra đường công cộng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.3.1]. Xét sự kiện năm 2020, hộ ông Lê Thanh S dùng lưới B40 rào thửa
đất 163, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn: Để đi vào các thửa đất số
182, 404, 361 và 187 trước năm 2020 thì các bên đã sử dụng bờ ranh của đất
ông Lê Thanh S và ông Trần Văn T4 làm lối đi để ra đường công cộng và bờ
ranh giữa đất ông T4 và các thửa đất 182, 404, 361, 187 làm lối đi để ra đường
công cộng;
Trước năm 2020, hộ ông T4 lên líp trồng cây ăn trái và hộ ông S cũng lên
líp trồng cây ăn trái nên hộ ông S đã cắm trụ, rào lưới B40 nửa bờ ranh đang làm
lối đi cho các thửa 182, 404, 361, 187;
Bà N cũng thừa nhận vào năm 2020, bà rào thửa đất 403 và có làm cổng
hướng ra bờ ranh giữa đất ông T4 và đất ông S. Sau đó, ông S cắm trụ, rào lưới
B40 giữa bờ ranh ông S và ông T4 nên từ năm 2020, cây trái của bà N không
còn thu hoạch và để đất hoang;
Bà N1 cũng thừa nhận vào năm 2020, ông T4 cắm trụ, rào lưới B40 giữa bờ
ranh bà N1 và ông T4 nên từ năm 2020, cây trái của bà N1 không còn thu hoạch
và để đất hoang;
Bà H cũng thừa nhận vào năm 2020, ông T4 cắm trụ, rào lưới B40 giữa bờ
ranh bà H và ông T4 nên từ năm 2020, cây trái của bà H không còn thu hoạch và
để đất hoang;
Do đó có cơ sở xác định, từ trước năm 2020, bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị
Ngọc N1, bà Phạm Thị H để đi ra đường công cộng phải đi bờ ranh giữa thửa
đất 188 và các thửa đất 187, 361, 404, 403, 163;
Sau năm 2020, các thửa đất 187, 361, 404, 403 đều không có lối đi vào.
[2.3.2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc mở lối đi qua thửa đất số 187
của bà Phạm Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Bản án phúc thẩm số 264/2025/DS-PT ngày 21/4/2025 của Tòa
8
án nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phần nhận định đã xác định:  c
m li thc t t ti
v trí m lnh ti ch ngày 28/3/2025 ca Tòa án
nhân dân tnh Tin Giang th hin t t bà N1 t bà H là giáp Kênh M
ri mng công cng và hin không có c
 li th hin là l 
Tòa án cấp sơ thẩm tại phần nhận định đã xác định: 
cc m c th t tht 187 ca bà H
 c tha 187 ca bà H t
c các tht ca nhng h  dân s d
i và vn chuyn vc 294)) giáp kênh Máng rng 04m, hin ti
không có cu bt qua kênh. B  ng dân sinh, hin trng vn
c nhng h dân trong khu vc s d i và vn chuyn v
si din tha 187 là tht 203 ca Trn Ngc N4
n trình bày ý king ý cho bà H bt ct ca N4. Tip
t ca Trn Ngc N4 là tha 214 ca Trn Th Bé T5, bà T5 có bn t
t cu t ng hc Tòa án
chp nhn cho nguyê lt 187 ca bà Hng thi
nhng h ng dân sinh, tip giáp vt bà T5 là Lê Th
Tuyt L, Nguyn Tn T6,  Duy H3 n ghi ý king ý cho bà
N1  t canh tác. Vic bt cu qua
kênh M do bà N1, bà N t liên h vi bà T5  thc hi
Căn cứ vào Bản án phúc thẩm số 264/2025/DS-PT ngày 21/4/2025 của Tòa
án nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phần nhận định đã xác định: i biên bn xem
xét thnh ti ch ngày 28/3/2025 ca Tòa án nhân dân tnh Tin Giang th
hin: Bà N và ch N1  t bà N t ông Lê Thanh S chiu
dài khong l nha T t ông S hii
B40, t t bà N t ông S thì bà N có làm mt cng rào, t t ông S ra
n ng N thì bà N t cng rào. Ch N1 tha nhn
thnh thong ch  bán mít kho
không yêu cu m lc, ch yêu cu cu m qua
t bà H vì hin nay ch  dt ông Tr
D;
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/8/2026 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp thì thửa đất 187 thì cạnh hướng Tây – N thì không xác
định có giáp đường đất do bị rào chắn bởi các thửa đất của ông Trần Văn T4,
ông Trần Văn Đ1 đến sát mí kênh nên thể hiện không rõ ràng con đường đất và
không có cầu bắt qua kênh;
Các thửa đất 188, thửa đất số 186 đều được cắm trụ và rào lưới B40 đến sát
mí kênh Máng và cũng không có bắt cầu để đi vào các thửa đất 188, 186; Dọc
theo các thửa 188, 187, 186 và các hộ dân khác đều không có đường đất; Để đi
vào thửa đất 187 thì phải bắt cầu mới tiếp giáp đường dân sinh chạy dọc theo bờ
kênh;
9
Đại diện Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Đồng Tháp cung cấp thông tin được
thể hiện trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/8/2026 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp xác định: ng T c nha 3,5m có tên gi
ng vào ng mm non, p A, M  p tc
c xây dt ông T4t ông Lê Thanh S và mt th tip
nn trng chính ni ra Quc l A. Hin ti, y ban nhân dân xã V
n khai d án xây dn hành gii tn bù;
D án này không có b hy b, thu h
Tại phiên tòa ngày 17/8/2026, theo yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc N1 là bà Tạ Kim T về việc tạm ngừng phiên tòa
để thu thập chứng cứ về thửa đất 187 có cạnh hướng Nam (hướng T) giáp về
đường đất; Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tạm ngừng phiên tòa và thu thập
các chứng cứ sau:
Căn cứ Công văn số 1041 ngày 21/8/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ2,
xác định: t 187, t b s 3, din tích 1.989,8m
2
ta lc ti p A, xã
M, tng Tháp có ct rng 4,5m;
Theo Quynh s 02 ngày 10/12/2019 ca y ban nhân dân huyn C, tnh
Tinh kt cu h tnng b i vi h
tha bàn huyn C a bàn xã M (nay là xã M)
có 17 tuyn n ng N u là Quc l
Am cui là cu C ;
Căn cứ Công văn số 817 ngày 07/9/2026 của Phòng kinh tế - Ủy ban nhân
dân xã M, tỉnh Đồng Tháp, xác định: t 187, t b  s 3, do bà
Phm Th H qun lý, s dng có v trí tip giáp vi mt phn dic
th hin trên b t này không phi
là phn dit thuc quyn qun lý, s dng riêng ca bà Phm Th H
c cht là lu thc t ci
dân, gn vi h thng hin hu. Trong quá trình s dng,
do tuyi dân s dng xuyên làm cho tuyn
ng b thu hp, xung cp và vii trc tip trên tuyng gp khó
 dân có nhu ci trong khu v to lng
cách bt cc i di phc v nhu ci
h
Do đó, có căn cứ xác định:
Các thửa đất số 361, 404, 403 của nguyên đơn bị vây bọc bởi thửa đất 187, hiện
không có bất cứ lối đi nào để đi vào đất canh tác mà phải bỏ hoang nhiều năm gây ảnh
hưởng và thiệt hại kinh tế, nên yêu cầu mở lối đi của nguyên đơn là chính đáng;
Bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Ngọc N1 yêu cầu mở lối đi ngang 01m dài hết thửa
đất 187 của bà Phạm Thị H, đi ra đến đường đất tiếp giáp thửa 187 của bà H và tiếp
giáp kênh Máng rộng 04m, hiện tại không có cầu bắt qua kênh. Bên kia kênh là đường
dân sinh, hiện trạng vẫn được những hộ dân trong khu vực sử dụng để đi lại và vận
chuyển vật tư, nông sản;
10
Bà Phạm Thị H thừa nhận đã chuyển nhượng thửa số 187 cho ông Phạm Văn H2
và bà Lê Thị Nguyệt C, nên ông H2, bà C là người sử dụng đối với thửa đất. Cần buộc
ông H2, bà C có nghĩa vụ cùng bà H và thành viên hộ gia đình là ông T1, ông H1 mở
lối đi cho bà N, bà N1 lối đi có diện tích 60,1m
2
;
Bà Lê Thị N, Nguyễn Thị Ngọc N1 phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn H2,
bà Lê Thị Nguyệt C giá trị lối đi được mở là 15.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Ngọc N1
là phù hợp;
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn
H2 không cung cấp được chứng cứ nào khác ngoài những chứng cứ mà Tòa án
cấp sơ thẩm đã xem xét;
Vì thế Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm
Thị H cho nên cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[4]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là mở lối đi
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 nên không phải chịu chi phí tố tụng.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định.
[6]. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử;
Vì các lẽ trên,
QUYNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 245, 254, 357, 468 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng điều 29 Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.
Xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị H.
Giữa nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 68/2026/DS-ST, ngày 13/3/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Đồng Tháp.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị
Ngọc N1 về việc mở lối đi.
Buộc hộ bà Phạm Thị H gồm: Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 và ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị Nguyệt C phải mở cho bà Lê Thị N,
Nguyễn Thị Ngọc N1 01 lối đi có diện tích theo đo đạc là 60,1m
2
chiều ngang
01m dài hết thửa 187 là 60,1m), nằm trong thửa đất 187, tờ bản đồ số 33, diện
tích 1989,8m
2
, tại ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp do bà Phạm Thị H đại diện hộ
11
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị
Nguyệt C quản lý sử dụng thực tế.
Lối đi có tứ cận như sau: Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Ngọc N1;
Hướng Nam giáp đường đất; Hướng Tây giáp phần đất đất còn lại thửa 187;
Hướng Đông giáp đất ông Trần Văn Đ.
(Kèm phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 21/11/2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đ2 – Đồng Tháp)
Ghi nhận bà Lê Thị N, Nguyễn Thị Ngọc N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả
cho ông Phạm Văn H2, bà Lê Thị Nguyệt C giá trị lối đi được mở là
15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày ông H2, bà C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà N1 chậm thi
hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm
trả.
Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn Ngũ H1
không phải chịu chi phí tố tụng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị H, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Văn
Ngũ H1 phải liên đới chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Ngọc N1 phải chịu 750.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà
N1 đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002173, ngày
21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, cấn trừ nên bà N1
phải nộp tiếp 450.000đồng án phí.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà bà
H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004282 ngày 26/3/2026 của Thi
hành án Dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8, 34,
36, 71, 72 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 15/9/2026, có mặt bà N1, bà H.
Nơi nhận:
- TPT-TANDTC tại TPHCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 4 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
TM. HNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
12
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 796/2026/DS-PT Bản án số 796/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 796/2026/DS-PT Bản án số 796/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất