Bản án số 245/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 245/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 245/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 245/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần xây dựng và thiết bị B - Nguyễn Văn T - Tranh chấp hợp đồng kinh tế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 245/2026/DS-PT Bản án số 245/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 245/2026/DS-PT Bản án số 245/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số 245/2026/DS-PT
Ngày 27 tháng 8 năm 2026
V/v”Tranh chấp yêu cầu bồi thường
thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Phi Yến
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư phiên tòa: Đỗ Thị Thu Thảo _ Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Đoàn Thị Cẩm
_ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ 107/2026/TLPT-DS
ngày 17 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại
khi chấm dứt hợp đồng”.
Do Bản án dân sự thẩm số 32/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 7 năm 2026
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X1, địa chỉ: A ngõ B phố H, phường T,
Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh B, chức danh: Tổng
Giám đốc; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, địa chỉ: Số E H, phường H,
thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Quang C, sinh năm 1978; địa chỉ:
Tổ D phường T, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: 1 L, phường T, thành phố
Đà Nẵng; theo Giấy uỷ quyền lập ngày 17-6-2026 tại Văn phòng C1; có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần X1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo Bản án sơ thẩm, tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - Công ty C phần X1, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện quá trình tham gia tố tụng tại Toà
án:
Qua mối quan hệ quen biết giữa Nguyễn Thị T1 Giám đốc Chi nhánh
của Công ty Cổ phần X1 (sau đây viết tắt Công ty X1) và ông Nguyễn Văn T,
ông Trịnh Xuân T2 nhân viên kinh doanh của Chi nhánh tại Đà Nẵng được
giao nhiệm vụ phụ trách kinh doanh với công trình tại nhà của ông T. Hai bên có
nhắn tin làm việc qua zalo. Theo quy định của Công ty X1, Biểu mẫu hồ của
Hợp đồng kinh tế bao gồm: Hợp đồng kinh tế; Phụ lục Hợp đồng quy định chi
tiết về hàng hóa và giấy tờ của hàng hóa cung cấp cho hồ sơ thanh toán đợt 2.
Ngày 10/05/2023, ông T2 mang các giấy tờ trên theo mẫu của Công ty X1
đến gặp ông T để xem ký. Tuy nhiên, ông T chỉ Hợp đồng kinh tế số:
10052023/HĐKT/BLC-NGUYENVANTHO về việc cung cấp và lắp đặt thiết bị
bể bơi tại nhà riêng của ông T tại địa chỉ: E P, phường H, quận L, Tp .. Giá trị
Hợp đồng tạm tính 99.020.000 đồng Báo giá thiết bị bể bơi. Còn Phụ lục
Hợp đồng thì ông T không ký.
Nội dung của Hợp đồng kinh tế thể hiện ông T trách nhiệm thanh toán
tạm ứng 30% giá trị Hợp đồng trong vòng 1 ngày kể từ ngày 10/05/2024
thanh toán đợt 2 đến 80% giá trị của Hợp đồng trong vòng 01 ngày kể từ khi vật
tư, thiết bị về đến công trình đạt giá trị tương đương 80% giá trị của Hợp đồng
đã nhận được hồ thanh toán hợp lệ của Chi nhánh B1. Hồ thanh toán
đợt 2 bao gồm: Đề nghị thanh toán, Biên bản nghiệm thu bàn giao, Giấy tờ hàng
hóa theo quy định của Phụ lục Hợp đồng.
Từ ngày 27/05/2023 đến 29/05/2023, ông T đề nghị ông T2 gửi đề nghị
thanh toán để tạm ứng, ông T2 đã gửi ảnh chụp file world Đề nghị thanh toán có
số tài khoản của Công ty qua zalo của ông T. Ông T đã thanh toán tạm ứng 30%
giá trị Hợp đồng cho Công ty X1 vào ngày 29/05/2023 bằng tài khoản của
Huỳnh Thị Thu T3 và chụp ảnh bill giao dịch qua zalo cho Công ty X1 để thông
báo. Ngày 03/06/2023, đại diện Chi nhánh B1 ông T2 đã thông báo cho ông T
qua zalo về việc sẽ giao hàng lên từ ngày 05/06/2023. Từ ngày 05/06/2023 đến
ngày 06/06/2023 tCông ty X1 đã tiến hành giao hàng nhưng ông T việc,
không có mặt để ký giao nhận, cũng như nhận giấy tờ về hàng hóa. Sau khi giao
đủ hàng hóa theo Hợp đồng, ông T2 đã thông báo đã giao đủ hàng, lắp gần xong
đề nghị ông T thanh toán đợt 2 qua zalo. Ông T không ý kiến phản đối về
việc Công ty X1 đã giao đủ hàng lấy do theo ông phải thi công xong,
xác nhận nghiệm thu hoàn thành của ông T thì mới đủ điều kiện thanh toán tiếp.
Căn cứ quy định của Hợp đồng thì trường hợp này không cần biên bản
nghiệm thu do ông T đã không mặt tại hiện trường tại thời điểm nghiệm thu
theo thông báo của Công ty X1. Đồng thời, hai Bên không xác lập quy định về
giấy thàng hóa trong Phụ lục về thiết bị đính kèm (Phụ lục về Thiết bị đính
kèm Hợp đồng không được ông T đồng ý ký) nội dung Phụ lục không yêu
cầu cung cấp Giấy tờ hàng hóa nào trong hồ sơ thanh toán đợt 2 nên Công ty X1
không phải cung cấp. ng ty X1 quyền cung cấp Giấy tờ hàng hóa sau khi
3
ông T đã thanh toán đợt 2 theo quy định tại khoản 2, Điều 42 của Luật Thương
Mại 2005. Khi nhận được đề nghị thanh toán đợt 2, ông T viện do không
chính đáng phải làm xong, nghiệm thu xong mới thanh toán mặc đại diện
Công ty X1 đã chỉ quy định trong Hợp đồng. Cụ thể các tin nhắn zalo
ông T phản hồi lại như sau. Em thi công mà làm chi có chuyện giao hàng xong
thanh toán em. Anh không chấp nhận. Nói sếp em anh không chịu. Em lắp xong,
kiểm tra nghiệm thu xong mới thanh toán. Thanh toán chia làm 02 đợt, tạm ứng
làm xong thanh toán. Em muốn thu hồi hả, không dđâu em nhé”. Điều đó
thể hiện ông T đã vi phạm quy định Hợp đồng.
Căn cứ tại điều 10 của Hợp đồng thì khi ông T vi phạm thanh toán tạm ứng
hoặc thanh toán đợt 2 hoặc nghĩa vụ tiếp nhận nghiệm thu thì Công ty X1 đều có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, sở hữu hàng hóa khoản tiền đã nhận
không phải chịu bất cứ trách nhiệm yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải
bồi thường 30% giá trị tạm tính của Hợp đồng.
Ngày 14/06/2023, Công ty X1 tiến hành thu hồi thiết bị đã thu hồi được
một phần hàng hóa do ông T vẫn đưa thẻ cho nhân viên Công ty X1 đến làm
việc. Sau đó, ông T đã thay đổi mã khóa nên Công ty X1 không tiếp tục thu hồi
được hàng hóa nữa. Công ty X1 gửi thông báo vào ngày 12/07/2023 đến nhà
ông T để làm việc vào ngày 14/07/2023 nhưng ông T không hợp tác, không
hoàn trả tài sản của Công ty X1 cũng như không thanh toán đợt 2. Mặt khác, ông
T còn nộp đơn tố cáo cơ quan công an việc Công ty X1 xâm nhập gia cư bất hợp
pháp nhưng không kết quả. Tiếp đó, ông T làm đơn khởi kiện Chi nhánh B1
đến Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu yêu cầu Chi nhánh B1 trả lại tạm ứng
bồi thường thiệt hại.
Ngày 19/10/2023, Công ty Cổ phần X1 nhận được Thông báo số: 173/TB-
TLVA ngày 12/10/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp .. Nội dung
của Thông báo thụ như sau: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thụ vụ án
dân sự số: 173/2023/TLST-DS về việc: “Yêu cầu chấm dứt hợp đồng bồi
thường hợp đồng” theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1985;
Địa chỉ: E H, phường H, quận L, Tp .. Bị đơn là Chi nhánh Công ty Cổ phần X1.
Đại diện theo pháp luật là Bà Nguyễn Thị T1.
Ngày 15/10/2023, Công ty X1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân
quận Liên Chiểu thụ đơn khởi kiện nội dung: Buộc ông Nguyễn Văn T
phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X1 với số tiền 29.706.000 đồng, tương
đương 30% giá trị tạm tính của Hợp đồng đã ký hoàn trả 23 tài sản của Công
ty X1 theo danh mục đính kèm, trường hợp hao hụt tphải bồi thường theo
đơn giá tại Hợp đồng. Tuy nhiên, Thẩm phán Phan Văn T4 của Tòa án nhân dân
quận Liên Chiểu không thụ đơn khởi kiện của Công ty X1 viện do
không chính đáng là đã ban hành thông báo thụ sai đối tượng khởi kiện với
đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T vào ngày 12/10/2023 nên ép buộc Công ty
X1 phải sửa thành đơn phản tố nếu không sẽ không thụ lý. Công ty X1 không
đồng ý sửa đơn khởi kiện thành đơn phản tố nên ông T4 đã không thụ vụ
kiện.
4
Đến nay, số hàng hóa ông Nguyễn Văn T đang chiếm giữ bất hợp pháp
của Công ty X1 có giá trị là 29.420.000 đồng
Trong đó tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 08/04/2024 của Tòa án nhân
dân Quận Liên Chiểu thì hạng mục số 18 1 thùng Clorin và 01 Đèn xông ướt
đã không còn tại nhà riêng của ông Nguyễn Văn T. Tại thời điểm này, ông
Nguyễn Văn T đề nghị Công ty X1 phải thu hồi các thiết bị, vật tư.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 04/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Liên
Chiểu, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định không công tâm, ngụy tạo diễn biễn
phiên tòa, không khách quan, bênh vực cho ông T dẫn đến quy chụp lỗi đơn
phương chấm dứt Hợp đồng thuộc về Công ty X1, Công ty X1 phải bồi thường
30% giá trị tạm tính trả lại tạm ứng cho ông Nguyễn Văn T. Đối với số hàng
hóa tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 08/04/2024 thì ông Nguyễn Văn T phải
trả lại cho Công ty X1. Thực tế, tại phiên a thẩm thì Hội đồng xét xử, đều
nhận định ông T không ý kiến phản đối trong thời hạn hợp với thông
báo giao đủ hàng của Công ty X1 nên việc Công ty X1 giao đủ hàng theo Hợp
đồng sở chấp thuận. Mặt khác, tại phiên tòa thẩm, Công ty X1 đề
nghị xem xét lỗi vi phạm nghĩa vụ thanh toán tạm ứng của ông Nguyễn Văn T
nhưng trong Bản án thẩm lại đảo nghịch thành hai Bên đề nghị không xem
xét lỗi vi phạm tạm ứng của ông Nguyễn Văn T.
Sau đó Công ty X1 đã đơn kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm ngày
11/09/2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tông T đã nhận 24 hình
ảnh zalo là nội dung trao đổi của ông với ông Trịnh Xuân T2 Đại diện Công ty
X1. Tòa án cấp phúc thẩm đã căn cứ vào bằng chứng khách quan là 24 hình ảnh
tin nhắn zalo quy định pháp luật liên quan để phát hiện ra rằng ông T không
mặt tại hiện trường vào thời điểm giao nhận theo thông báo của Công ty X1,
không ý kiến phản đối về việc Công ty X1 đã giao đủ hàng, do dẫn đến
không thanh toán là muốn Công ty X1 phải làm xong và được ông nghiệm thu đi
vào sử dụng thì mới thanh toán.
Tòa án cấp phúc thẩm đã phát hiện ra lỗi vi phạm dẫn đến đơn phương
chấm dứt Hợp đồng của ông T. Do đó, bác yêu cầu trả lại tạm ứng bồi
thường của ông T. Căn cứ theo Điều 10 của Hợp đồng đã tCông ty X1
được sở hữu tiền tạm ứng, hàng hóa không phải chịu trách nhiệm nào. Tuy
nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm đã sai sót khi cho rằng Công ty X1 đã không thông
báo khi thu hồi hàng hóa vào ngày 14/06/2023 và không xem xét đến việc ông T
chống đối yêu cầu của Công ty X1 từ thời điểm đó đến nay. Tòa án cấp phúc
thẩm nhận định ông T chỉ phải trả lại 21 hàng hóa theo danh mục. Thực tế, qua
tin nhắn zalo ngày 13/06/2024, ông T đã biết Nguyễn Thị T1 chỉ đạo ông
Trịnh Xuân T2 thu hồi hàng về, đồng thời phản hồi với phía Công ty X1: Em
muốn thu hồi hả, không dễ đâu nhé. Sau đó, ông T không hợp tác hoàn trả tài
sản cho Công ty X1 trong 03 lần thu hồi tiếp theo, ngày 23/06/2023, ngày
14/07/2023 ngày 25/09/2024 dẫn đến Công ty X1 thiệt hại chi phí nhân lực
và phương tiện trong 03 lần trên.
Nay, Công ty X1 yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
5
1. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường 30% giá trị tạm tính của
Hợp đồng tương đương với 29.706.000 đồng cho Công ty X1 ngay khi bản án có
hiệu lực pháp luật.
2. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường chi phí phương tiện
nhân công do Công ty X1 đã 03 lần thông báo và đến thu hồi tài sản nhưng ông
Nguyễn Văn T không phối hợp. Chi phí phương tiện di chuyển các ngày
14/07/2023, 25/09/2024 4.000.000 đồng. Chi phí nhân công các ngày
14/07/2023, 25/09/2024 4.000.000 đồng. Chi phí nhân công soạn, in gửi
thông báo 03 lần các ngày 21/06/2023, 12/07/2023, 21/09/2024 là 600.000 đồng.
Tổng giá trị bồi thường là 8.600.000 đồng.
3. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T phải bồi thường bằng tiền theo đơn giá
của Hợp đồng đối với số tiền hàng hóa bị mất trong quá trình ông Nguyễn Văn
T chiếm giữ trái phép là 1 thùng Clorin 45 kg và 01 Đèn xông ướt hiệu
TAFUMA. Giá trị bồi thường là 625.000 đồng.
4. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T phải bồi thường bằng tiền với giá trị
bằng 90% đơn giá của Hợp đồng do chiếm giữ quá 01 năm dẫn đến hàng hóa đã
cũ, hết hạn bảo hành đối với 21 danh mục hàng hóa, thiết bị trong Bản án phúc
thẩm. Giá trị bồi thường 25.905.000 đồng hiện tại công ty không nhu
cầu nhận lại hàng hóa này.
* Bị đơn- ông Nguyễn Văn T trình bày trong quá trình tham gia tố tụng
tại Toà án:
Ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa ông T Chi nhánh Đ Công ty X1 đã
hợp đồng số: 10052023/HĐKT/BCL về việc cung cấp và thi công lắp đặt thiết bị
bể bơi. Tổng giá trị của hợp đồng 99.020.000 đồng, thanh toán làm 03 đợt.
Thực hiện theo nội dung Hợp đồng ông T đã tạm ứng cho Công ty X1 30%
tương đương với 29.706.000 đồng vào ngày 29/5/2023. Tuy nhiên, đến ngày
05/6/2023 06/6/2023 Công ty X1 mới đưa thiết bị, vật đến công trình bể
bơi khi không mặt ông T nhà, không bàn giao trực tiếp cho ông T, không
lập biên bản bàn giao vật tư, chủng loại số lượng cụ thể theo phụ lục hợp đồng.
Phía Công ty X1 cho rằng, căn cứ tại mục 7.1 Điều 7 của Hợp đồng thì coi như
công ty X1 đã hoàn thành việc giao vật tư, đồng thời yêu cầu ông T thanh toán
số tiền giai đoạn 2 theo hợp đồng, trong khi ông T chưa nhận được bộ hồ
thanh toán đợt 02 từ phía Công ty X1 gồm: “Giấy đề nghị thanh toán; biên bản
nghiệm thu bàn giao vật thiết bị; Giấy tờ của hàng hóa theo quy định tại Phụ
lục về thiết bị đính kèm hợp đồng này” nên ông T không đồng ý chi trả số tiền
theo điều khoản thanh toán mục b khoản 3.2 của Điều 3 trong hợp đồng 80%
giá trị hợp đồng bao gồm cả tiền tạm ứng tương đương với số tiền là 49.510.000
đồng.
Vài ngày sau đó ông T bận đi công tác, Công ty X1 đã đến công trình tự ý
tháo dỡ toàn bộ thiết bị đã lắp đặt, không thông báo trước bằng văn bản cho ông
T được biết để cùng tham gia, Công ty X1 đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Chính điều này đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình, gây thiệt
hại kinh tế cho ông T.
6
Ngày 24/7/2023, ông Nguyễn Văn T đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án
nhân quận L để yêu cầu buộc Chi nhánh Công ty X1 tại Đà Nẵng chấm dứt hợp
đồng, đền bù thiệt hại vật tư, thiết bị cũng như số tiền ông T đã tạm ứng cho
Công ty X1. Tại Bản án số: 27/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Toà án nhân
dân quận Liên Chiểu, Tp . (cũ) đã Quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với Công ty Cổ phần X1 về việc “Tranh
chấp yêu cầu chấm dứt hợp đồng bồi thường hợp đồng” và X: 1/ Tuyên bố
chấm dứt Hợp đồng kinh tế số 10052023/HĐKT/BCL ngày 10/5/2023 V/v cung
cấp thi công lắp đặt thiết bị bể bơi, được kết giữa ông Nguyễn Văn T
Chi nhánh Công ty Cổ phần X1. 2/ Buộc Công ty Cổ phần X1 phải thanh toán
cho ông Nguyễn Văn T số tiền 59.412.000đ. Trong đó tiền đã nhận tạm ứng:
29.706.000đ; Tiền bồi thường hợp đồng 29.706.000 đồng. Buộc Công ty Cổ
phần X1 phải tháo dỡ, di chuyển các thiết bị vật tư đã lắp đặt và tập kết tại nhà
ông Nguyễn Văn T (có 21 loại có bảng kê kèm theo bản án).
Nay, Công ty X1 căn cứ bản án số: 162/2024/DS-PT ngày 11/9/2024 của
Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng (cũ), khởi kiện ông Nguyễn Văn T về việc
tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng hoàn toàn
không căn cứ. Ông T đề nghị Tòa án bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn công ty X1 về việc yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại khi chấm
dứt hợp đồng.
* Bản án dân sự thẩm số 32/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 419, 422, 428, 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X1 đối với
ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chấm
dứt hợp đồng”.
Buộc ông Nguyễn Văn T trách nhiệm bồi thường cho Công ty Cổ phần
X1 số tiền là 29.706.000 đồng.
[2] Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X1
đối với ông Nguyễn Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường chi phí
thông báo và đến thu hồi tài sản với số tiền 8.600.000 đồng và buộc ông Nguyễn
Văn T bồi thường bằng tiền với giá trị bằng 90% đơn giá của Hợp đồng do
chiếm giữ quá 01 năm dẫn đến hàng hóa đã cũ, hết hạn bảo hành đối với 21
danh mục hàng hóa, thiết bị trong Bản án phúc thẩm với số tiền 25.905.000
đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vnghĩa vụ do chậm thi hành án, án
phí, chi phí thẩm định, quyền kháng cáo quy định về thi hành án của các
đương sự.
* Đơn kháng cáo:
7
Ngày 25/5/2026, Công ty Cổ phần X1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc ông
Nguyễn Văn T phải bồi thường bằng tiền theo đơn giá của Hợp đồng đối với số
tiền hàng hóa bị mất trong quá trình ông T chiếm giữ trái phép 01 thùng
Clorin 45kg 01 Đèn xông ướt hiệu TAFUMA, giá trị bồi thường 625.000
đồng; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông T bồi thường chi phí thông
báo và đến thu hồi tài sản với số tiền 8.600.000 đồng bồi thường bằng tiền
với giá trị bằng 90% đơn hàng của Hợp đồng do chiếm giữ quá 01 năm dẫn đến
hàng hóa đã cũ, hết hạn bảo hành với 21 danh mục hàng hóa, thiết bị (trong bản
án phúc thẩm số 162/2024/DS-PT ngày 11/9/2024 của Toà án nhân dân thành
phố Đà Nẵng) với số tiền 25.905.000 đồng; Buộc ông T phải chịu toàn bộ án phí
dân sự và chi phí thẩm định giá tài sản.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn
phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần X1 do không có căn cứ và giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Người kháng cáo Công ty Cổ phần X1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
để tham gia phiên tòa nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên không bị xem
từ bquyền kháng cáo mà Toà án cấp phúc thẩm vẫn xét đơn kháng cáo của
họ theo quy định tại Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần X1 (sau đây viết tắt Công ty
X1):
[2.1] Tranh chấp giữa Công ty X1 và ông Nguyễn Văn T đối với Hợp đồng
kinh tế số 10052023/HĐKT/BCL ngày 10/5/2023 (về việc cung cấp thi công
lắp đặt thiết bị bbơi) đã được giải quyết một số nội dung tại các Bản án
thẩm số 27/2024/DSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu
Bản án phúc thẩm số 162/2024/DSPT ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng, án đã có hiệu lực pháp luật.
Trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử Buộc ông Nguyễn Văn T
trách nhiệm bồi thường cho Công ty X1 stiền 29.706.000 đồng thì Công ty
X1 không kháng cáo. Công ty X1 kháng cáo đối với số tiền Toà án cấp thẩm
không chấp nhận buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường chi phí thông báo
8
đến thu hồi tài sản với số tiền 8.600.000 đồng buộc ông T bồi thường bằng
tiền với giá trị bằng 90% đơn giá của Hợp đồng do chiếm giữ q01 năm dẫn
đến hàng hóa đã cũ, hết hạn bảo hành đối với 21 danh mục hàng hóa, thiết bị
trong Bản án phúc thẩm với số tiền 25.905.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản án phúc thẩm đã hiệu lực số
162/2024/DSPT ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã
nhận định về việc qua xem xét thẩm định tại chỗ thì thiếu 02 hạng mục hàng hóa
là 1 thùng Clorin 45 kg và 01 Đèn xông ướt hiệu TAFUMA và giữa Công ty X1
ông T không biên bản giao nhận vật tư thiết bị nên không xác định được
nguyên nhân thiếu 02 hạng mục nên chỉ buộc ông T phải trả lại công ty X1 21
thiết bị, vật tư còn lại. Như vậy, bản án trên cũng đã xem xét, đánh giá đầy đủ cả
02 hạng mục hàng hoá mà nay Công ty X1 lại tiếp tục khởi kiện là không có căn
cứ.
[2.2] Đối với số tiền Công ty X1 buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường chi
phí phương tiện nhân ng 8.600.000 đồng thì Hợp đồng kinh tế số
10052023/HĐKT/BCL ngày 10/5/2023 giữa Công ty X1 ông T không
thỏa thuận gì về các chi phí nay Công ty X1 yêu cầu bồi thường không
phù hợp.
[2.3] Đối với số tiền Công ty X1 buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường bằng
tiền với giá trị bằng 90% đơn giá của Hợp đồng do chiếm giữ quá 01 năm dẫn
đến hàng hóa đã cũ, hết hạn bảo hành đối với 21 danh mục hàng hóa, thiết bị
25.905.000 đồng thì thấy: Sau khi Bản án phúc thẩm s162/2024/DSPT ngày
11/9/2024 có hiệu lực pháp luật nhưng Công ty X1 đã không yêu cầu thi hành án
nên thiệt hại xảy ra nếu do hàng hoá không hồi về được không phải trách
nhiệm của ông T.
[2.4] Công ty X1 còn kháng cáo yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T
phải chịu toàn bộ án phí dân sự và chi phí thẩm định giá tài sản. Tuy nhiên, theo
quy định tại các Điều 147, 157, 165, 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương s
phỉa chịu án phí các chi phí tố tụng trong trường hợp yêu cầu khởi kiện
không được Tòa án chấp nhận.
[2.5] Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Công ty X1 không cung cấp thêm
tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình
căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.6] Án phí phúc thẩm Công ty X1 phải chịu do không được chấp nhận
kháng cáo.
[3] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại
phiên tòa phúc thẩm phợp các tình tiết khách quan của vụ án quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
9
- Điều 148, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, các Điều 311, 312, 313 Bộ luật tố
tụng dân sự;
- Các Điều 419, 422, 428, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần X1;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 32/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X1 đối với
ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chấm
dứt hợp đồng”.
Buộc ông Nguyễn Văn T trách nhiệm bồi thường cho Công ty Cổ phần
X1 số tiền 29.706.000 đồng (hai mươi chín triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn
đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X1
đối với ông Nguyễn Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn T bồi thường chi phí
thông báo và đến thu hồi tài sản với số tiền 8.600.000 đồng và buộc ông Nguyễn
Văn T bồi thường bằng tiền với giá tr bằng 90% đơn giá của Hợp đồng do
chiếm giữ quá 01 năm dẫn đến hàng hóa đã cũ, hết hạn bảo hành đối với 21
danh mục hàng hóa, thiết bị trong Bản án phúc thẩm với số tiền 25.905.000
đồng.
3. Về Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.485.000 đồng (một triệu, bốn trăm tám
mươi lăm nghìn đồng).
Công ty Cổ phần X1 phải chịu 1.725.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền
tạm ứng án phí 1.333.075 đồng đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0007646 ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu,
thành phố Đà Nẵng. Công ty Cổ phần X1 phải tiếp tục nộp số tiền là 392.175
đồng (ba trăm chín mươi hai nghìn, một trăm bảy mươi lăm đồng).
4. Về chi phí thẩm định giá tài sản: Công ty Cổ phần X1 phải chịu
20.000.000 đồng (đã nộp và chi xong).
II. Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty Cổ phần X1 phải chịu 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0005948 ngày 04/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; đã nộp đủ.
10
III. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4,
Điều 6, Điều 7 Điều 8 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân snăm
2025.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Thành phố Đà Nẵng;
- THADS Thành phố Đà Nẵng;
- TAND KV4-ĐN; Đã ký
- Phòng THADS KV4-ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án. Trần Thị Thanh Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 245/2026/DS-PT Bản án số 245/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 245/2026/DS-PT Bản án số 245/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất