Bản án số 79/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 79/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 79/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 79/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T, ông Kiều Hùng C. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 79/2026/DS-PT
Ngày: 11 - 6 - 2026.
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Hữu Truyền.
Bà: Lý Thị Thúy.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Hoàng Ánh
Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tán nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 29/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 3
năm 2026 về việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 5 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 68/2026/QĐPT-
DSngày 06 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm: 1981. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm L, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn:
Kiều Hùng C, sinh năm: 1982. mặt khi khai mạc phiên tòa sau đó
vắng mặt và ủy quyền cho bà Trần Thị T tham gia tố tụng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Trần Thị T, sinh năm:
1986. Có mặt.
2.2. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1986. Có mặt.
Đều có địa chỉ: Xóm V, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2
3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T, ông Kiều Hùng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Do mối quan hệ anh em họ hàng giữa Nguyễn Thị Hoàng A sau
đây gọi tắt là Hoàng A) vợ chồng ông Kiều Hùng C Trần Thị T. Do tin
tưởng ông C sỹ quan công tác trong Quân đội, vợ làm giáo viên, n khi ông
C hỏi vay tiền bằng miệng, không ngần ngại đã cho vợ chồng ông C vay,
hình thức nhận bằng tiền mặt chuyển khoản vào tài khoản theo yêu cầu của
ông C. Tổng số tiền ông C vay của Hoàng A 600.000.000 đồng (Sáu trăm
triệu đồng) đã trả 200.000.000 đồng, còn nợ 400.000.000 đồng.
* Cụ thể những lần vay như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 18/11/2022, vợ chồng ông C hỏi vay tiền của để
trả tiền mua ô tô, bà đã chuyển khoản đến tài khoản của bà Trần Thị T
100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Lần thứ hai: Ngày 03/8/2023 vợ chồng ông C hỏi bà vay thêm
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), đã chuyển khoản vào tài khoản của
Trần Thị T (vợ ông C).
- Lần thứ ba: Ngày 17/9/2023, ông C lại vay 50.000.000 đồng (Năm
mươi triệu đồng) hẹn 06 tháng sau thanh toán; do không nhà, nên
vay hộ ông C chỗ cậu ruột ông Nguyễn Mạnh T1, địa chỉ xóm L, Đ.
Ông C đã đến nhà ông T1 lấy tiền mặt.
- Lần thứ tư: Ngày 28/9/2023, vợ chồng ông C hỏi vay “nóng”
200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), hẹn 15 ngày sau thanh toán, ông C
bảo bà chuyển khoản vào tài khoản của Trần Thị T (vợ ông C). Bà đã chuyển
khoản 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) vào tài khoản của T theo
thông tin bà T đưa ra.
- Lần thứ 5: Ngày 5/10/2023, ông C đến nhà hỏi vay 200.000.000
đồng (Hai trăm triệu đồng), đã đưa cho ông C 200.000.000 đồng (Hai trăm
triệu đồng) tiền mặt tại nhà.
* Cụ thể những lần bà Trần Thị T trả tiền cho bà:
- Lần 1: Ngày 5/12/2023, Trần Thị T trả 100.000.000 đồng, hình
thức chuyển khoản Ngân hàng.
- Lần 2: Ngày 7/12/2023, Trần Thị T trả 105.000.000 đồng, nh
thức chuyển khoản Ngân hàng.
Do vợ chồng ông C không trả nợ bà, đòi nhiều lần, ông C còn lời lẽ
đe dọa sẽ giết mẹ đẻ của bà, làm bà cùng lo sợ, khủng hoảng về tinh
thần nên gửi đơn kêu cứu lên Thủ trưởng Bộ các quan chức năng của
Quân khu đề nghị giúp đỡ.
Ngày 18/9/2024, Đại Văn L, Trưởng phòng Phòng không chủ trì
buổi làm việc giữa bà và ông Kiều Hùng C, sự chứng kiến ghi chép biên bản
Trung Nguyễn Quang C1, trợ Phòng Phòng không của Quân khu. Tại
3
buổi làm việc này, ông C nhận nhứa ng vợ là Trần Thị T trách nhiệm
trả 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) tiền đã vay của bà, chậm nhất
ngày 20/10/2024.
- Lần 3: Ngày 30/11/2024, Trần Thị T trả bà 4.000.000 đồng tiền lãi,
hình thức chuyển khoản Ngân hàng.
- Lần 4: Ngày 10/01/2025, Trần Thị T trả 10.000.000 đồng, hình
thức chuyển khoản Ngân hàng.
Hiện nay, vợ chồng ông Kiều Hùng C, Trần Thị T còn nợ
386.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi sáu triệu đồng) tiền gốc.
T yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Kiều Hùng C Trần Thị T
phải trả cho số tiền gốc 386.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi sáu triệu
đồng). Về lãi suất: Khi cho vợ chồng ông C, T vay thỏa thuận miệng
với nhau về lãi suất tháng. Nay bà yêu cầu vợ chồng ông C, bà T trả tiền gốc
lãi suất theo quy định của pháp luật không thể thỏa thuận được với vợ
chồng ông C. Về thời điểm tính lãi, yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 5 -
Thái Nguyên tính lãi với vợ chồng ông C, T nh tthời điểm T chuyển
khoản trả nợ cho bà 10.000.000 đồng vào ngày 10/01/2025 cho đến ngày xét
xử sơ thẩm là ngày 26/01/2026.
Bị đơn Trần Thị T, ông Kiều Hùng C trong quá trình Tòa án giải
quyết trình bày:
- Bà Trần Thị T trình bày: Trong năm 2022 và năm 2023 bà có vay của bà
Nguyễn Thị Hoàng A số tiền mặt chuyển khoản 600.000.000 đồng (Sáu
trăm triệu đồng) mục đích vay tiền chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình, nhưng
bà chỉ nhận được số tiền 590.200.000 đồng (Năm trăm chín mươi triệu, hai trăm
nghìn đồng), stiền còn lại 9.800.000 đồng Hoàng A đã cắt lãi, cụ thể:
250.000.000 đồng bằng tiền mặt, bà nhờ chồng (ông C) lên nhà Hoàng A
cầm tiền từ nhà Hoàng A mang về cho bà, bà đã trả cho Hoàng A bằng
chuyển khoản tiền mặt với số tiền: 317.415.000 đồng (Ba trăm mười bảy
triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng). Bà xác định số tiền còn nợ của bà Nguyễn
Thị Hoàng A là: 272.785.000 đồng (Hai trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm tám
mươi lăm nghìn đồng). Tại phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ, Trần Thị T cung cấp 01 tgiấy học sinh dòng kẻ ngang liệt
các ngày trả nợ cho A qua tài khoản MB nhưng không chứng cứ kèm
theo là bản sao kê của các Ngân hàng về thời gian, số tiền trả nợ cho bà A.
- Ông Kiều Hùng C trình bày: Ông không nhất trí ý kiến trình bày của
Nguyễn Thị Hoàng A, ông xác nhận có cầm số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm
năm mươi triệu đồng) từ bà Hoàng A và ông Nguyễn Mạnh T1. Địa chỉ: Xóm L,
xã Đ, số tiền này ông cầm về đưa cho bà Trần Thị T để vợ ông làm gì ông không
biết. Nay Hoàng A khởi kiện vợ chồng ông. Ông xác định cầm stiền
250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) tiền mặt (trong đó
50.000.000 đồng ông nhận từ ông T1) vợ ông đã chuyển 250.000.000 đồng (Hai
trăm năm mươi triệu đồng) trả nợ cho bà Hoàng A. Ông xác định số tiền vay của
4
Hoàng A ông không liên quan mà trách nhiệm nghĩa vụ trả nợ cho Hoàng
A thuộc về T.
Về biên bản làm việc ngày 18/9/2024 tại Phòng phòng không bộ tham
mưu với Nguyễn Thị Hoàng A ông xác định vphương hướng giải quyết
trả ncùng với T sẽ trách nhiệm trả 400.000.000 đồng cho Hoàng A
chậm nhất ngày 20/10/2024 do ông không xác định được số tiền vợ ông (bà
T) đã chuyển khoản trả nợ cho bà Hoàng A trước đó rồi.
Tại bản án dân sự thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, 227, 228, 271, 273, 482,483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 210,
213, 274, 275, 276, 280, 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự, Điều 37 Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao ớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt
vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng A khởi kiện bà
Trần Thị T và ông Kiều Hùng C về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
2. Buộc bà Trần Thị T ông Kiều Hùng C phải nghĩa vụ liên đới trả
nợ bà Nguyễn Thị Hoàng A số tiền gốc là 386.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi
sáu triệu đồng); Số tiền lãi 40.688.000 đồng (Bốn mươi triệu, sáu trăm tám
mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và lãi: 426.688.000 đồng (Bốn trăm hai
mươi sáu triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).
3. Nguyễn Thị Hoàng A được nhận số tiền gốc 386.000.000 đồng
(Ba trăm m mươi sáu triệu đồng); Số tiền lãi 40.688.000 đồng (Bốn mươi
triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền gốc lãi: 426.688.000
đồng (Bốn trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm tám mươi m nghìn đồng) do
Trần Thị T và ông Kiều Hùng C nghĩa vụ liên đới trả.
Ngoài ra, bản án dân sự thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27 tháng 02 năm 2026, bị đơn Trần Thị T, ông Kiều Hùng C
kháng cáo toàn bộ bản án dân sự thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải
quyết xem xét lại vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
5
- Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện. Đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, đồng ý giảm cho bị đơn đơn một nửa
của số tiền lãi suất 40.688.000 đồng như Tòa án sơ thẩm đã tính.
- Bị đơn: Đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án thẩm với do bà T không được
lên nhà Hoàng A để xác nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng T không
được ký vào biên bản làm việc ngày 18/9/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết ván, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 5 -
Thái Nguyên do tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện giảm một nửa lãi suất cho
bị đơn. Do đó cần sửa bản án sơ thẩm đối với số tiền lãi suất và án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết qutranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Thị
T, ông Kiều Hùng C Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tổng số tiền vợ chồng Trần Thị T, ông Kiều Hùng C vay của
Nguyễn Thị Hoàng A 600.000.000 đồng. Hai bên đều thừa nhận nên đây
tình tiết không phải chứng minh. Tại phiên tòa các đương sự đều khẳng định số
nợ gốc mà bà T, ông C còn phải có trách nhiệm trả cho bà Hoàng A là
386.000.000 đồng.
Phía bà T cho rằng trong tổng số nợ 386.000.000 đồng thì bà đã trả cho bà
Hoàng A 63.000.000 đồng trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc
13.000.000 đồng tiền lãi suất, nhưng bà Hoàng A không đồng ý cho rằng số
tiền 63.000.000 đồng T trình bày đã được trả vào nợ gốc lãi trước thời
điểm ngày lập biên bản về việc xác nhận lại số nợ 400.000.000 đồng ngày
18/9/2024 tại Phòng P. Sau ngày 18/9/2024 thì T trả thêm số tiền
14.000.000 đồng, nên số nợ còn lại là 386.000.000 đồng.
6
Hội đồng xét xử thấy rằng tại biên bản làm việc ngày 18/9/2024 tại Phòng
P thì ông C với Hoàng A đã chốt số nợ 400.000.000 đồng và cam kết cùng
với T trả nợ cho Hoàng A, biên bản ông C, bà Hoàng A đều tên xác
nhận, việc xác nhận trong tình trạng minh mẫn, tnguyện, không bị ai ép
buộc. Sau đó phía ông C, bà T cũng không ai có ý kiến đối với biên bản làm việc
đó cũng như không thỏa thuận nào khác về việc hủy bỏ biên bản làm việc
ngày 18/9/2024. Như vậy, khẳng định rằng biên bản làm việc ngày 18/9/2024 tại
Phòng P các bên đương sự ông C với Hoàng A đã chốt số nợ
400.000.000 đồng căn cứ để Tòa án xem xét việc trả nợ của T, ông C cho
Hoàng A. T, ông C cho rằng trong số tiền 386.000.000 đồng thì đã trả nợ
cho Hoàng A số tiền 63.000.000 đồng hiện còn nợ 323.000.000 đồng
nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho việc trả nợ
đó.
Sau ngày 18/9/2024 thì T ông C chỉ trả cho Hoàng A 14.000.000
đồng. Như vậy, số tiền ông C, T còn nợ Hoàng A 386.000.000 đồng.
Bản án sơ thẩm đã buộc T, ông C phải trách nhiệm trả số nợ gốc lãi
suất cho bà Hoàng A hoàn toàn căn cứ. T cho rằng không được lên
nhà bà Hoàng A nhận nợ 400.000.000 đồng và tại buổi làm việc ngày 18/9/2024
bà không được tham gia nên không có trách nhiệm đối với khoản nợ. Tuy nhiên,
tại phiên tòa T trình bày số tiền ông C vay mục đích để chi trả
cho sinh hoạt, chi tiêu của gia đình nên mặc dù T không được vào biên
bản làm việc ngày 18/9/2024 nhưng do T ông C có quan hệ vợ chồng nên
bà T vẫn phải có trách nhiệm liên đới trả nợ số tiền này.
Đối với phần tính lãi suất của Tòa án cấp thẩm các đương sự đều đồng
ý không ý kiến gì. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn tự
nguyện giảm cho bị đơn một nửa lãi suất của số tiền 40.688.000 đồng, s
giảm 20.334.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc nguyên đơn giảm một
nửa lãi suất cho bị đơn là quyền tự định đoạt của đương sự, không trái pháp luật,
không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn.
Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan
toàn bộ các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng
minh yêu cầu kháng cáo căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của
bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Tuy nhiên, do nguyên
đơn tự nguyện giảm cho bị đơn một nửa số tiền lãi như đã nêu trên nên Hội
đồng xét xử cần sửa bản án thẩm về số tiền bị đơn trách nhiệm trả cho
nguyên đơn và án phí sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm nên c đương sự
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 308,
Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Trần Thị T, ông
Kiều Hùng C. Sửa Bản án dân sthẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên, cụ thể:
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Hoàng A khởi kiện
Trần Thị T và ông Kiều Hùng C về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
1.2. Buộc bà Trần Thị T và ông Kiều Hùng C phải có nghĩa vụ liên đới trả
nợ bà Nguyễn Thị Hoàng A số tiền gốc là 386.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi
sáu triệu đồng); Số tiền lãi 20.344.000 đồng (Hai mươi triệu, ba trăm bốn
mươi bốn nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và lãi: 406.344.000 đồng (Bốn trăm
linh sáu triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Việc thi hành án dân sự được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều
468 của Bộ luật dân sự.
1.3. Về án phí dân sự thẩm: Buộc Trần Thị T ông Kiều Hùng C
phải liên đới chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch với số tiền là 20.253.360
đồng (Hai mươi triệu hai trăm năm mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng A số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0001172 ngày 01/10/2025 của Cơ quan Thi hành án Dân sự tỉnh Thái
Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Trần Thị T ông Kiều Hùng C mỗi người
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000912 và 0000913 ngày 10 tháng
3 năm 2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
8
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 5 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 5 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất