Bản án số 172/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 172/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 172/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 172/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bản án H - D phát hành mã hóa
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 172/2026/DS-PT Bản án số 172/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 172/2026/DS-PT Bản án số 172/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH PHÚ TH
Bn án s: 172/2026/DS - PT
Ngày 28 - 6 - 2026
V/v Tranh chp hợp đồng vay tài sản”
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do -Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và ông Nguyễn Văn Nghĩa
-Thư phiên toà: Nông Thị Lụa - Thư Toà án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 6 01 tháng 7 năm 2026; tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 94/2026/TLPT-DS ngày
03 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản".Do bản án dân
sự sơ thẩm số: 02/2026/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 10 – Phú Thọ bị kháng cáo:
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 162/2026/QĐXXPT – DS ngày 01
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Kim Văn H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn H, xã V,
tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm
1983; địa chỉ: Thôn K, xã V, tỉnh Phú Thọ,(Có mặt khi xét xvắng mặt khi tuyên
án).
2. Bị đơn: Ông Văn D, sinh năm 1980 và bà Thị N, sinh năm 1983;
cùng địa chỉ: Thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên
án).
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Việt H2, sinh
năm 1978; địa chỉ: Thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ, (Vắng mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền của H2: Ông Nguyễn Khánh H1, sinh năm
1983; địa chỉ: Thôn K, xã V, tỉnh Phú Thọ,(Có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên
án).
4. Người kháng cáo: Ông Lê Văn D và bà Lê Thị N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, người đại diện theo y quyền
của ông Kim Văn H Trần Thị Việt H2 trình bày: Từ tháng 12/2021 đến
tháng 01/2022 thì ông Văn D, Thị N đã vay của ông Kim Văn H, Trần
Thị Việt H2 04 lần với tổng số tiền 2.200.000.000 đồng. Số lần vay cụ thể lần thứ
nhất 800.000.000 đồng, lần thứ hai 700.000.000 đồng, lần thứ ba 400.000.000
đồng (đều vay trong tháng 12/2021) lần thứ 300.000.000 đồng (tháng
01/2022), mức lãi suất là 1,2%/tháng. Khi vay tiền thì các bên lập giấy xác
nhận việc vay tiền. Do chưa có tiền trả nợ nên ngày 18/01/2022 vợ chồng ông D,
N và ông H, bà H2 đã xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
diện tích 88,1m2 tại thửa số 385, tờ bản đồ s14 thuộc thôn H, B, huyện V,
tỉnh Vĩnh Phúc (cũ). Nay thôn H, V, tỉnh Phú Thọ. Đất đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Văn D. Ngày 28/01/2022 ông H,
H2 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên ông H H2 theo quy định của pháp luật đất đai. Sau
khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì ông H đã hủy bỏ toàn bộ giấy vay tiền.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xét xử phúc thẩm và tuyên hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D, bà N với ông H, H2 vô hiệu,
xác định quan hệ giữa ông D, bà N với ông H, bà H2 là vay tài sản.
Ngay sau khi Tòa án nhân dân tỉnh PThọ xét xử phúc thẩm vụ án thì ông H,
H2 đã thông báo yêu cầu ông D, bà N thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không
kết quả (thông báo ngày 20/10/2025 và ngày 25/10/2025).
vậy để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình ông H, H2 đề nghị
Tòa án giải quyết buộc ông Văn D, Thị N phải trả cho v chồng ông
Kim Văn H, bà Trần Thị Việt H2 số tiền tiền gốc 2.200.000.000 đồng và tiền lãi
từ tháng 8/2023 đến ngày 08/01/2026 765.600.000 đồng (với mức lãi suất
1,2%/tháng). Tổng số tiền ông D, N nghĩa vụ trả cho ông H, H2
2.965.600.000 đồng.
Kể từ ngày 09/01/2026 ông D, N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi
trậm trả cho toàn bộ số tiền 2.965.600.000 đồng với mức lãi suất 0,8%/tháng.
3
Bị đơn ông Văn D trình bày: Ông D cho rằng số tiền 2.200.000.000 đồng
tiền gốc ông H đòi là bao gồm cả tiền lãi. Ông xác định vợ chồng ông chỉ nợ ông
H, bà H2 số tiền gốc 1.340.000.000 đồng, số tiền này bao gồm cả tiền ông vay
của ông H để đánh bạc tại nhà ông H. Ông xác định kể từ ngày 01/8/2023 đến nay
thì vợ chồng ông không trả lãi cho ông H, H2.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H và bà H2, ông chỉ đồng ý trả cho
ông H, H2 số tiền 1.340.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của ông H, H2 về
mức lãi suất, số tiền lãi thì ông đồng ý, không ý kiến gì (kể từ ngày 08/01/2026
trong thời hạn 03 tháng ông sẽ trả từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng,
sau đó cứ 06 tháng trả 100.000.000 đồng).
Bị đơn bà Lê Thị N, trình bày: đồng ý với ý kiến, lời trình bày của ông
Lê Văn D.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2026/DS-ST ngày 12 tháng
01 năm 20265 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ các Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự; Điều
147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Căn cứ vào các vào các Điều 166, 280, 351, 357, 468 B luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Kim Văn H. Buộc ông
Văn D và Thị N phải phải trả nợ cho ông Kim Văn H Trần Thị
Việt H2 số tiền 2.965.600.000đ (Hai tỷ, chín trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm
nghìn đồng).
Kể từ ngày 09/01/2026 ông D N còn phải chịu khoản tiền lãi chậm
trả đối với số tiền 2.965.600.000 đồng với mức lãi suất 0,8%/tháng (9,6%/năm).
Ngoài ra quyết định còn tuyên về án phí quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Văn D Thị N kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không đồng ý với quyết định bản án là
buộc vợ chồng ông D N phải trả cho ông H, bà H2 số tiền 2.965.600.000
đồng mà chỉ đồng ý trả cho ông H số tiền 1.340.000.000 đồng và đề nghị ông
H miễn lãi suất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu và có quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bluật tố tụng dân sự
năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Văn D Thị N, giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh
tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Văn D Thị N
nộp trong hạn luật định; ông D bà N đã nộp tạm ứng án pphúc thẩm nên đơn
kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Văn D và bà Thị N, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
Tại bản án số 15/2025/DS-ST ngày 11/4/2025 của Toà án nhân dân huyện
Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), ông D và bà N trình bày: “..Vợ chồng ông ch
vay của ông H s tiền 2.200.000.000 đồngtại Bản án số 155/2025/DS-PT
ngày 16/9/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ ông D, bà N đều xác nhận số
tiền vay ông H 2.200.000.000 đồng,“…cho hạn mc vay 2.200.000.000 đồng
ông H vay hNgân hàng”. Đồng thời tại phiên tòa các đương sự đều xác
nhận từ ngày 01/8/2023 đến nay thì ông D, bà N đã không thực hiện nghĩa vụ trả
tiền lãi cho ông H, bà H2. Vì vậy, đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông D, N cho rằng
chỉ nợ số tiền gốc là 1.340.000.000 đồng và cho rằng số tiền 2.200.000.000 đồng
là bao gồm cả tiền lãi nhưng không có bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh
số tiền 2.200.000.000 đồng bao gồm cả tiền lãi . Đồng thời tại Đơn kiến nghị
xem xét đngày 09/01/2026 ông D trình bày ông vay tiền của ông H cả khi chơi
cờ bạc tại nông H, quá trình giải quyết vụ án ông D cũng không bất cứ tài
liệu, chứng cứ gì để chứng minh hay việc ông D chủ động đến cơ quan Công an
có thẩm quyền để trình báo về việc đánh bạc của mình, nên Hội đồng xét xử cấp
thẩm đã không đủ căn cứ để chuyển hồ đến quan Công an thẩm quyền
xử theo quy định. Ông D, bà N đều không thuộc trường hợp bị mất hay hạn
chế hành vi dân sự. Từ phân tích, đánh giá trên khẳng định yêu cầu của ông H,
H2 buộc ông D, bà N phải trả số tiền 2.200.000.000 đồng là tiền gốc là có căn
cứ và đúng pháp luật.
Xét yêu cầu tính lãi của ông H, H2 thấy rằng: Ông D, N thừa nhận từ
ngày 01/8/2023 đến khi Tòa án xét xử thẩm vụ án (ngày 08/01/2026) thì đã
không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi cho ông H. Đồng thời không có ý kiến gì về
mức lãi suất 1,2%/tháng theo yêu cầu của ông H, H2. vậy việc ông H,
5
H2 yêu cầu ông D, N phải trả khoản tiền lãi kể từ ngày 01/8/2023 đến ngày
08/01/2026 với số tiền 765.600.000 đồng.
Tuy nhiên, cấp thẩm tính toán tiền lãi đang sự nhầm lẫn, từ ngày
1/8/2023 đến ngày 8/1/2026 29 tháng 7 ngày, số tiền gốc 2.2000.000.000
đồng x 1,2 % x 29 tháng= 765.600.000 đồng, còn thiếu tiền lãi của 7 ngày trên số
tiền gốc 2.2000.000.000 đồng 6.160.000 đồng chưa tính; sau khi xử thẩm
xong nguyên đơn không kháng cáo tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo
uỷ quyền của nguyên đơn cũng trình bày vì số tiền lãi của 7 ngày không lớn nên
không yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi của 7 ngày 6.160.000 đồng để giữ
nguyên kết quả của bản án sơ thẩm, bị đơn cũng không có ý kiến gì. Vì vậy, cấp
phúc thẩm không sửa một phần bản án sơ thẩm về tính toán lãi suất chưa đúng để
giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuy nhiên cấp sơ thẩm cần phải nghiêm túc rút kinh
nghiệm.
Đối với tuyên lãi suất chậm trả cấp thẩm xác định ông H, H2 yêu cầu
ông D, N phải trả khoản tiền lãi chậm trả kể từ ngày 09/01/2026 đối với số tiền
2.965.000.000 đồng với mức lãi suất 0,8%/tháng (9,6%/năm) phù hợp, đúng
quy định, không vi phạm quy định về mức lãi suất chậm trả quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự là đúng. Vì vậy kháng cáo của ông D, bà N không
được chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có n cứ, được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của ông Văn D Thị N không được
chấp nhận nên ông D, bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn D Thị N.Căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự s
02/2026/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 10
Phú Thọ.
Căn cứ vào các vào các Điều 166, 280, 351, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Kim Văn H. Buộc ông
Văn D và Thị N phải trả nợ cho ông Kim Văn H và bà Trần ThViệt H2
6
số tiền 2.965.600.000 đồng (Hai tỷ, chín trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn
đồng).
Kể từ ngày 09/01/2026 ông D N còn phải chịu khoản tiền lãi chậm
trả đối với số tiền 2.965.600.000 đồng với mức lãi suất 0,8%/tháng (9,6%/năm).
Về án phí sơ thẩm: Ông Văn D, Thị N phải chịu 91.312.000 đồng.
Ông H, H2 không phải chịu án phí dân sự thẩm. Trả lại cho ông H số tiền
52.850.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005021 ngày
07/11/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sphúc thẩm: Ông Lê Văn D, Thị N phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai số 000942 ngày 02 tháng 2 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người
phải thi hành án không thi hành khoản tiền còn nợ thì còn phải trả tiền lãi theo
quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền
thời gian chậm thi hành án.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi nh
án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy
định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 10 – Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thu Hiền
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 172/2026/DS-PT Bản án số 172/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 172/2026/DS-PT Bản án số 172/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất