Bản án số 160/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 160/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 160/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 160/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 160/2026/DS-PT Bản án số 160/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 160/2026/DS-PT Bản án số 160/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 160/2026/DS - PT
Ngày 16/6/2026
“V/v Tranh chấp tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Duy Sơn
- Thư phiên t: Nguyễn Th- Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Phùng Ngọc Tuấn
- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử phúc thẩm công khai ván dân sphúc thẩm thụ số: 72/2026/TLPT- DS
ngày 19/3/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do bản án dân sự
thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 8 - PThọ kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 140/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn H, Y, tỉnh
Tĩnh.
2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn C, Y, Thành phố
Hà Nội, “có mặt”.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Chị Nguyễn Thị H theo giấy ủy
quyền ngày 13/5/2025, “có mặt”.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1977;
2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường P, tỉnh Phú Thọ, “vắng măt”.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị L.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 12 năm 2025, đơn bổ sung đơn khởi
kiện ngày 17/01/2025 những lời khai tiếp theo tại tòa Nguyễn Thị L
nguyên đơn sau đó thay đổi tư cách thành bị đơn trình bày:
và ông Nguyễn Quốc T1 kết hôn với nhau từ ngày 25/12/2009, quá
trình chung sống vợ chồng đến năm 2021, thì phát sinh mâu thuẫn do đó bà làm
đơn xin ly hôn ông T1. Quá trình hòa giải tại Tòa án xét thấy vợ chồng vẫn còn
tình cảm với nhau, nên ngày 19/9/2025 bà L đã đơn xin rút Đơn khởi kiện về
việc ly hôn, nuôi con với ông T1.
Về các khoản vay nợ: và ông T1 nợ chung vợ chồng khoản vay
của ông Nguyễn Quốc T cụ thể, ngày 28/8/2017 ông T1 vay của ông T
anh trai ông T1 số tiền 250.000.000đồng, lãi suất theo giấy vay nợ
1%/tháng, trả lãi hàng tháng, hai bên viết giấy nhận nợ với nhau trên giấy
không ghi thời gian trả nợ cụ thể. Khoản vay này bà và ông T1 đã trả được nhiều
lần tiền gốc cho ông T nay thống nhất với ông T là đã trả được
64.000.000đồng tiền gốc, nên còn nợ lại 186.000.000đồng tiền gốc. Tiền lãi
chưa trả được cho ông T. Nay ông T đề nghị ông T1 trả cho ông T stiền
nợ gốc còn lại là 186.000.000đồng và lãi phát sinh từ ngày vay đến ngày
18/11/2025 là 186.000.000đồng số tiền lãi từ ngày 19/11/2025 ông T không yêu
cầu. Tổng cộng cả gốc lãi 372.000.000đồng. Ông T đề nghị bà L, ông T1
mỗi người thanh toán cho ông T ½ stiền nợ phải trả là 186.000.000đồng.
nhất trí trả nợ gốc lãi cho ông T, tuy nhiên đề nghị ông T cho bà trả dần
1.000.000đồng/tháng bắt đầu từ tháng 4/2026 cho đến khi trả nợ xong.
Ngoài ra ông T1 nợ chị Nguyễn Thị H số tiền
200.000.000đồng là khoản vay chung vợ chồng, tuy nhiên nay ông T1 nói chỉ nợ
chung vợ chồng 65.000.000đồng chia đôi số nợ chung này, ông T1 trả chị
H 32.500.000đồng, số tiền còn lại 167.500.000đồng đồng ý trách nhiệm
trả cho chị H, tuy nhiên hiện nay tình hình kinh tế gặp khó khăn nên đề nghị
trả dần cho chị H.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc T1 trình bày: Ông Nguyễn Thị L đăng ký
kết hôn với nhau từ ngày 25/12/2009, quá trình chung sống vợ chồng tình cảm
vợ chồng ban đầu đầm ấm hạnh phúc. Sau phát sinh mâu thuẫn nên L mới
làm đơn xin ly hôn ông. Nay bà L đã rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ thì ông
nhất trí việc rút đơn của bà L.
Về các khoản vay: Đối với khoản nợ chị Nguyễn Thị H số tiền
200.000.000đồng, trong đó có 65.000.000đồng tiền vay làm nhà ông đồng ý chia
đôi 65.000.000đồng, ông chịu 32.500.000đồng số còn lại L có trách nhiệm trả
3
cho chị H.
Đối với khoản vay của ông T thì vợ chồng ông vay của ông T số tiền
250.000.000đồng và viết giấy nhận nợ ngày 28/8/2017 cho ông T, lãi suất
1%/tháng. Tuy nhiên mọi việc tiền nong trong nhà đều doL quản lý, nên ông
không biết L đã thanh toán cho ông T bao nhiêu tiền, khi ông T đi viện thì
L cho chăm lo, tiền thuốc tháng cho ông T nhưng số tiền cụ thể bao nhiêu
ông không biết. Ông không biết L đã trả cho ông T được bao nhiêu tiền
tiền gốc hay tiền lãi. Nay L thống nhất với ông T đã trả được
64.000.000đồng tiền gốc, nên còn nợ lại 186.000.000đồng tiền gốc ông hoàn
toàn đồng ý với quan điểm của bà L. Tiền lãi ông và bà L chưa trả được cho ông
T. Ông T đề nghị ông và bà L trả cho ông T số tiền nợ gốc còn lại là
186.000.000đồng lãi phát sinh từ ngày vay đến ngày 18/11/2025
186.000.000đồng, số tiền lãi từ ngày 19/11/2025 ông T không yêu cầu. Tổng
cộng cả gốc lãi là 372.000.000đồng. Ông T yêu cầu L, ông T1 mỗi người
thanh toán cho ông T ½ số tiền nợ phải trả 186.000.000đồng. Ông nhất trí trả
nợ gốc và lãi cho ông T, ông có nghĩa vụ trả ông T 186.000.000đồng và L
nghĩa vụ trả ông T 186.000.000đồng.
Ông Nguyễn Quốc T chNguyễn Thị H người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan, có yêu cầu độc lập trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Do
Nguyễn Thị L nguyên đơn đơn xin rút Đơn khởi kiện nên ông T chị
H trở thành nguyên đơn trình bày:
Chị H ông Nguyễn Quốc T1 chú cháu ruột (bố chị anh trai ruột
ông T1, bố chị đã chết), Nguyễn Thị L thím chị (bà L lấy ông T1). Chị bắt
đầu cho L vay tiền bắt đầu từ năm 2012, lúc đó chị đi làm công ty được tiền
lương về nhờ L gihộ, mỗi tháng vài triệu. Sau đó chị nhờ L đóng họ
giúp, đến khi lấy họ thì bà L bảo cho L vay nên chị đồng ý. Đến ngày
05/8/2023, thì hai thím cháu nhắn tin nói chuyện chốt stiền L nợ chị
204.800.000đồng. Từ thời điểm bà L chốt còn nợ chị số tiền trên thì L không
thanh toán cho chị. NayL i còn nợ chị số tiền 200.000.000đồng chị nhất trí
đề nghị L trả số tiền 200.000.000đồng, chị không yêu cầu tính lãi. Chị
không đề nghị ông T1 trách nhiệm đối với khoản tiền này, chị cho L
vay tiền chứ không cho ông T1 vay tiền.
Với cách người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc T, chị H
trình bày: Ngày 28/8/2017 ông T1, L vay của ông Nguyễn Quốc T số tiền
250.000.000đồng với lãi suất 1%/Tháng, trả lãi hàng tháng, hai bên không
thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể, và có viết giấy nhận nợ với nhau, ông T1, bà L
đã giấy nhận nợ cho ông T. L, ông T1 trả lãi cho ông T được 04 tháng
trong năm 2017 gồm các tháng 9, 10, 11, 12 10.000.000đồng. Đầu năm
4
2018 L trả 8.000.000đồng; đến cuối năm 2020 ông trí, L trả
7.000.000đồng sau đó trả 5.000.000đồng; tháng 8/2019 L chuyển khoản trả
ông T 24.000.000đồng nội dung chuyển khoản ghi trả tiền gốc. Đến tháng 8
năm 2023 thì bà L trả được 10.000.000đồng. Tổng tiền lãi bà L, ông T1 trả được
cho ông T là 64.000.000.000đồng. Nay toàn bộ số tiền L, ông T1 trả cho ông
T, ông T nhất trí trừ vào tiền gốc.
Nay ông T đ nghị L, ông T1 trả cho ông T tiền gốc
186.000.000đồng tiền lãi cho thời gian chưa trả t khi vay đến ngày
18/12/2025 186.000.000đồng. Số tiền lãi từ ngày 19/12/2025 ông T không
yêu cầu L, ông T1 phải thanh. Tổng cộng ông T yêu cầu L, ông T1 phải
thanh toán cả gốc lãi 372.000.000đồng. Ông T đề nghị L, ông T1 mỗi
người thanh toán cho ông T ½ số tiền nợ phải trả là 186.000.000đồng.
Với các nội dung như trên, tại bản án dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST
ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ đã quyết
định:
Áp dụng các Điều 26, 35, 147, 217, 227, 228 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; các Điều 463, 466, 468 B luật dân s năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa
án, xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con của Nguyễn Thị L đối
với ông Nguyễn Quốc T1.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T chị Nguyễn
Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Quốc T1
và bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Thị L trách nhiệm trả cho ông
Nguyễn Quốc T số tiền gốc lãi 372.000.000 đồng trả cho chị Nguyễn
Thị H số tiền 65.000.000đồng.
Buộc Nguyễn Thị L trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị H số tiền
135.000.000đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xthẩm, ngày 27/01/2026 ông Nguyễn Quốc T1 đơn
kháng cáo, không đồng ý với bản án sơ thẩm, ông T1 cho rằng đối với khoản nợ
của ông với ông T, thì ông, L và ông T sẽ tự thỏa thuận không cần Tòa án
giải quyết, ông T chỉ đòi phần nợ của bà L. Đề nghị hủy nội dung đóng án phí và
xác định sai cách đương sự, ông người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
5
không phải là bị đơn.
Ngày 26/01/2026 Nguyễn Thị L đơn kháng cáo, không đồng ý với
bản án sơ thẩm, đối với khoản nợ của ông T thì ông T đã tthỏa thuận,
ông T hứa rút đơn đòi nợ không đề nghị Tòa án giải quyết; đề nghị hủy phần
giải quyết khoản nợ của bà H do không đủ chứng cứ đòi nợ.
Tại cấp phúc thẩm ông T1, L xin xét xử vắng mặt giữ nguyên nội
dung kháng cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo của ông T1 L, giữ nguyên Bản án dân s thẩm số
31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 -
Phú Thọ. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T1, L làm trong hạn luật định,
đơn hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thẩm quyền và xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng.
[1.1]. Tại cấp phúc thẩm ông T1, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ
khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt đối với ông T1, bà L.
[2]. Đối với yêu cầu kháng cáo của ông T1 cho rằng Tòa án cấp thẩm
xác định sai cách tham gia tố tụng đương sự ông người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan không phải bị đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ
án này nguyên đơn L đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn ông T1, quá
trình giải quyết vụ án, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T chị H
yêu cầu độc lập đề nghị L ông T1 trả cho chị H và ông T stiền nợ đã
vay. Tòa án cấp thẩm đã thụ yêu cầu độc lập của ông T chị H để giải
quyết theo quy định. Tuy nhiên ngày 19/9/2025, L đơn xin rút đơn khởi
kiện ly hôn, nuôi con với ông T1, nhưng người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông T H không rút yêu cầu độc lập. Do đó Tòa án cấp thẩm đình chỉ
giải quyết đối với yêu cầu của L, đồng thời thay đổi tư cách tham gia tố tụng
của đương sự, xác định nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T chị Nguyễn Thị
6
H, còn bị đơn ông Nguyễn Quốc T1 Nguyễn Thị L theo quy đinh tại
Điều 245 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ, đúng quy định.
[3]. Đối với yêu cầu kháng cáo ông T1, L không đồng ý với bản án
thẩm và cho rằng, khoản nợ của vợ chồng ông bà với ông T, thì ông bà và ông T
sẽ tự thỏa thuận không cần Tòa án giải quyết, ông T chỉ đòi phần nợ của L.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù ông T1 và bà L trình bày về việc tự thỏa thuận
với ông T về số tiền, thời gian trả nợ ông T hứa rút đơn, tuy nhiên quá trình
giải quyết vụ án tại cấp thẩm phúc thẩm, ông T người đại diện theo ủy
quyền là bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc, buộc ông T1, bà L trả nợ, ông T1
L không xuất trình thêm được tài liệu gì khác về việc các bên tự thỏa thuận
giải quyết.
[3.1]. Quá trình giải quyết ông T người đại diện theo ủy quyền H
vẫn giữ nguyên yêu cầu, buộc ông T1 trả số tiền gốc là 186.000.000đồng và tiền
lãi cho thời gian chưa trả từ khi vay đến ngày 18/12/2025 là 186.000.000đồng.
Tổng cộng ông T yêu cầu L, ông T1 phải thanh toán cả gốc và lãi là
372.000.000đồng. Ông T đề nghị L, ông T1 mỗi người thanh toán cho ông T
½ số tiền nợ phải trả 186.000.000đồng đồng. Số tiền lãi từ ngày 19/12/2025
trở về sau ông T không yêu cầu L, ông T1 phải thanh toán. Bà L, ông T1 đều
thừa nhận có vay tiền của ông T và đến nay còn nợ ông T số tiền nợ gốc và lãi là
372.000.000 đồng và cùng có trách nhiệm mỗi người trả ½ số nợ chung này.
[3.2]. Tại cấp sơ thẩm giải quyết, tiến hành hòa giải bà L, ông T1 đều thừa
nhận đây nợ chung vợ chồng. Sau đó tại phiên tòa thẩm ngày 18/12/2025
bà L không thừa nhận còn nợ ông T số tiền gốc 186.000.000đồng và đề nghị tạm
ngừng phiên tòa để cung cấp tài liệu thể hiện, đã trả được cho ông T số
tiền gốc nhiều hơn 64.000.000đồng tiền gốc hai bên thống nhất đã trả. Tuy nhiên
sau đó bà L không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh việc trả nợ gốc
cho ông T, đồng thời đơn xin vắng mặt khi xét xử. Cấp thẩm sau khi xem
xét đã chấp nhận yêu cầu của ông T, buộc ông T1, L phải trả cho ông T s
tiền vay chung cả nợ gốc lãi là 372.000.000 đồng căn cứ, đúng quy
định.
[4]. Đối với nội dung kháng cáo của L đề nghị xem xét lại khoản nợ
200.000.000 đồng của chị H do không đủ chứng cứ đòi nợ, tại phiên tòa sơ thẩm
ngày 18/12, L đề nghị chị H phải cung cấp bằng chứng về việc bà L vay tiền,
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị H và bà
L thừa nhận, việc vay tiền của nhau việc vay tiền L và chị H diễn ra
trong một thời gian dài, cụ thể chị H bắt đầu cho L vay tiền bắt đầu từ năm
2012, lúc đó chị đi làm công ty được tiền lương về nhờ bà L giữ hộ, mỗi tháng
vài triệu. Sau đó chị nhờ bà L đóng họ giúp, đến khi lấy họ thì L bảo cho bà L
7
vay, nên chị đồng ý. Đến ngày 5/8/2023 thì chị H L nhắn tin nói chuyện,
chốt stiền L nợ chị H 204.800.000đồng. Từ thời điểm L chốt còn
nợ chị H số tiền trên, thì L không thanh toán trả cho chị H bất kỳ khoản tiền
nào. Nay L trình bày nợ chị H số tiền 200.000.000đồng, chị H nhất trí, đề
nghị bà L trả số tiền 200.000.000đồng và không yêu cầu lãi.
[4.1]. Mặc chị H cho rằng đây khoản vay riêng của L chị yêu
cầu bà L trả, không yêu cầu ông T1 phải trả, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án
ông T1, L đều thừa nhận, trong tổng số tiền 200.000.000đồng nợ chị H,
65.000.000đồng tiền vợ chồng ông vay để làm nhà. Ông T1 L đnghị chia
đôi 65.000.000đồng mỗi người chịu 32.500.000đồng; số tiền còn lại
135.000.000đồng L thừa nhận nợ riêng, nhất trí trả số tiền còn lại cho
chị H. Tòa án cấp thẩm sau khi xem xét chấp nhận yêu cầu của chị H, buộc
ông T1, L trách nhiệm trả nợ chung cho chị H số tiền vay 65.000.000
đồng, đồng thời buộc L trách nhiệm trả nợ riêng cho chị H số tiền
135.000.000 đồng, là có căn cứ đúng quy định.
[5]. Đối với nội dung kháng cáo đề nghị xem xét lại về án phí: Do yêu cầu
của ông T và chị H được Hội đồng xét xử chấp nhận, do vậy ông T1 và L
phải chịu án phí theo quy định, Tòa án cấp thẩm căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa
án để buộc ông T1, bà L phải chịu án phí là đúng quy định.
[6]. T nhng phân tích trên, Hội đồng xét x phúc thm không chp
nhn kháng cáo ca ông T1 và L, gi nguyên bn Bn án dân s thẩm s:
31/2025/DS - ST ngày 26/12/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 8 - Phú Th. Ý
kiến của đại din Vin kim sát nhân dân tnh Phú Th tại phiên tòa là có căn c
cn chp nhn.
[7]. Các ni dung khác ca bản án thm không kháng cáo kháng
ngh đã có hiệu lc pháp lut.
[8]. Về án phí: Ông T1 và bà L mỗi người phải chịu 300.000đ án phí phúc
thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Quốc T1 bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án
dân sự thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 - Phú Thọ.
8
Áp dụng các Điều 26, 35, 147, 217, 227, 228 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa
án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T chị Nguyễn
Thị H, buộc vợ chồng ông Nguyễn Quốc T1, Nguyễn Thị L trách nhiệm
trả nợ chung cho ông Nguyễn Quốc T số tiền 372.000.000 đồng, trong đó nợ gốc
186.000.000 đồng, nợ lãi 186.000.000 đồng và trả cho chị Nguyễn Thị H số tiền
65.000.000 đồng.
Về nợ riêng: Buộc bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm trả nợ cho chị
Nguyễn Thị H số tiền 135.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án đơn yêu cầu thi hành án số
tiền nêu trên, người phải thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải trả
tiền lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Bà
Nguyễn Thị L phải chịu 6.750.000 đồng tiền án phí dân sthẩm, được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án s0004256, ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (Nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 8 Phú Thọ), bà Nguyễn Thị L còn phải nộp tiếp số tiền
6.450.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị L phải chịu 21.480.000đồng tiền
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Hoàn trả ông Nguyễn Quốc T số tiền tạm ứng án phí 5.470.000đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004422, ngày 06 tháng 6 năm
2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Phú Thọ).
Hoàn trả chị Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí 5.120.000đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004423, ngày 06 tháng 6 năm
2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Phú Thọ).
Ông Nguyễn Quốc T1 Nguyễn Thị L mỗi người phải chịu 300.000
đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, đều được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
ông đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0001324 001323 ng ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự
9
tỉnh Phú Thọ; xác nhận ông T1, bà L đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Duy Sơn Nguyễn Thị Thu Hiền
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 160/2026/DS-PT Bản án số 160/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 160/2026/DS-PT Bản án số 160/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất