Bản án số 869/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 869/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 869/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 869/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Do quá trình hợp tác, ông T không minh bạch dòng tiền nên ông và ông T thống nhất mở tài khoản chung do ông T đứng tên vào ngày 21/11/2024. Số tiền thu được từ việc bán cát phải chuyển vào tài sản chung này và phải có sự đồng ý của cả hai mới được sử dụng. Tuy nhiên, sau khi mở tài khoản chung thì ông không có thông tin về việc Công ty P trả tiền. Và ông nhiều lần yêu cầu ông T phân chia lợi nhuận từ việc bán cát san lấp nhưng ông T luôn đưa ra lý do Công ty P chưa thanh toán tiền nên chưa có tiền chia. Do ông T vi phạm thỏa thuận về việc sử dụng dòng tiền khi các bên tham gia hợp tác nên ông yêu cầu hủy bỏ hợp đồng hợp tác. Ông yêu cầu ông Huỳnh Thanh T phải có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã góp là 1.059.000.000 đồng (một tỷ không trăm năm mươi chín triệu đồng).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 869/2026/DS-PT Bản án số 869/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 869/2026/DS-PT Bản án số 869/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 869/2026/DS-PT
Ngày: 02-7-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng hợp
tác”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Ông Nguyễn Văn Phương;
+ Bà Lê Thị Bích Tuyền.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc
Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai ván thụ số 421/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, về việc
Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do Bản án dân sự thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 07-04-2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 7 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 464/2026/QĐXX-PT, ngày 17 tháng 6 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1957, trú tại: Khóm D, xã S, tỉnh
Mau, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1981, trú tại: Số I, ấp T, T, tỉnh Tây
Ninh, có mặt.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1966, trú tại:
Ấp T, xã G, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
4. Người kháng cáo: ông Huỳnh Thanh T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2025, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải trong
quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày:
Vào khoảng tháng 5/2024, thông qua sự giới thiệu của ông Phan Văn T1, ông quen
biết với ông Huỳnh Thanh T. Tại đây, ông và ông T thỏa thuận hợp tác để thực hiện việc
mua cát san lấp cung cấp cho Công ty P tại tỉnh Ninh Thuận. Theo thỏa thuận bằng lời nói,
ông sẽ chuyển tiền cho ông T để mua cát theo tỷ lệ đóng góp là 7/3 (ông C góp 70%, ông
T góp 30%). Lợi nhuận phát sinh từ việc bán cát sẽ được chia tương ứng theo tỷ lệ đóng
góp sau khi đã trừ các chi phí sau mi đợt thanh toán.
Thực hiện thỏa thuận, trong năm 2024 ông đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản
của ông T, cụ thể các đợt chuyển khoản chính gồm:
- Ngày 07/5/2024: 120.000.000 đồng;
- Ngày 09/5/2024: 100.000.000 đồng;
- Ngày 28/5/2024: 10.000.000 đồng;
- Ngày 30/5/2024: 140.000.000 đồng;
- Ngày 05/6/2024: 30.000.000 đồng;
- Ngày 08/6/2024: 83.000.000 đồng;
- Ngày 11/6/2024: 40.000.000 đồng;
- Ngày 23/11/2024: 100.000.000 đồng;
- Ngày 29/11/2024: 250.000.000 đồng;
- Ngày 05/12/2024: 100.000.000 đồng.
Ngoài các đợt chuyển khoản trên, 01 lần ông trực tiếp trả tiền mua cát để giao
cho ông T với số tiền 86.000.000 đồng và có giấy xác nhận nợ của ông T. Do đó, ông xác
định tổng số tiền đã giao cho ông T để mua cát là 1.059.000.000 đồng.
Do quá trình hợp tác, ông T không minh bạch dòng tiền nên ông ông T thống
nhất mở tài khoản chung do ông T đứng tên vào ngày 21/11/2024. Số tiền thu được từ việc
bán cát phải chuyển vào tài sản chung này phải sự đồng ý của cả hai mới được sử
dụng.
Tuy nhiên, sau khi mở tài khoản chung thì ông không có thông tin về việc Công ty
P trả tiền. ông nhiều lần yêu cầu ông T phân chia lợi nhuận từ việc bán cát san lấp
nhưng ông T luôn đưa ra lý do Công ty P chưa thanh toán tiền nên chưa tiền chia. Nhưng
qua tìm hiểu, ông được biết phía ng ty P đã thanh toán cho ông T số tiền khoảng
780.000.000 đồng nhưng ông T không thông báo không thực hiện đúng cam kết vviệc
chuyển tiền vào tài khoản chung phải chữ hai bên mới được rút tiền để quản
dòng tiền. Ông cho rằng ông T đã không thực hiện đúng thỏa thuận, sử dụng tiền thu được
vào mục đích cá nhân mà không thông qua ý kiến của ông.
3
Đối với các nội dung ông T trình bày vviệc tham gia của ông Hoàng Mạnh T2, ông
Phạm Thanh B hay thực hiện dự án ng ty P1 thì ông khẳng định không biết những người
này là ai và không tham gia vào các dự án cung cấp cát nêu trên. Việc hợp tác mua bán cát
chỉ diễn ra giữa ông và ông T.
Do ông T vi phạm thỏa thuận về việc sử dụng dòng tiền khi các bên tham gia hợp
tác nên ông yêu cầu hủy bỏ hợp đồng hợp tác. Ông yêu cầu ông Huỳnh Thanh T phải
trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã góp là 1.059.000.000 đồng (một tỷ không trăm
năm mươi chín triệu đồng).
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn ông Hunh Thanh T trình bày:
Thông qua sự giới thiệu của ông Phan Văn T1, ông có quen biết thỏa thuận hợp
tác với ông Hoàng Văn C để mua bán cát san lấp cung cấp cho các công trình. Tuy nhiên,
ông T cho rằng việc hùn hạp này không chỉ ông và ông C, mà còn sự tham gia của
ông Phan Văn T1, ông Hoàng Mạnh T2 và ông Phạm Thanh B trong các dự án cung cấp
cát cho Công ty P (tại Ninh Thuận) Công ty P1 (tại Tiền Giang). Thỏa thuận giữa các
bên sau khi thực hiện xong hợp đồng, thu hồi được toàn bộ công nợ t các đối tác t
mới tiến hành đối soát chi phí và chia lợi nhuận.
Ông T xác nhận nhận tiền chuyển khoản từ ông C ông T1 đthực hiện việc
mua cát. Tổng số tiền ông đã nhận qua tài khoản 1.227.000.000 đồng (bao gồm tiền vốn
của ông C và ông T1). Riêng đối với số tiền 1.059.000.000 đồng ông C yêu cầu, ông T
thừa nhận đây số tiền ông C đã góp để mua cát san lấp. Bản thân ông T cũng đã góp vào
hoạt động hợp tác này số tiền là 626.245.000 đồng.
Hiện nay các hợp đồng cung cấp cát cho các công ty đã thực hiện xong nhưng chưa
thu được tiền từ các khách hàng, cụ thể:
- Đối với Công ty P: Tổng giá trị cát đã cung cấp là 1.490.975.000 đồng, phía công
ty mới thanh toán được 799.999.580 đồng, còn nợ lại 690.975.420 đồng.
- Đối với Công ty P1: Tổng giá trị cung cấp 1.193.217.057 đồng, đã thanh toán
450.000.000 đồng, còn nợ 743.217.057 đồng. Hiện nay Công ty P1 đã đóng cửa, không
liên lạc đưc.
Ngoài ra, hiện còn chi phí thuê lan chưa thanh toán 155.000.000 đồng lượng
cát tồn tại bãi trị giá khoảng 228.000.000 đồng. Tổng số công nợ tài sản chưa thu hồi
được là hơn 1.800.000.000 đồng.
Ông xác nhận giữa ông C ông thỏa thuận mở tài khoản chung vào ngày
21/11/2024 như phía ông C trình bày. Do chi phí vận hành nên ông đã sử dụng nguồn tiền
thu được từ Công ty P để xoay vòng vốn, chi trả các chi phí phát sinh nhằm duy trì hoạt
động chung của các bên.
Do đó, ông T thống nhất xác nhận còn nông C số tiền là 1.059.000.000 đng. Tuy
nhiên, ông không đồng ý trả ngay theo yêu cầu của ông C vì lý do chưa thu hồi được công
4
nợ từ Công ty P và Công ty P1. Ông đề nghị ông Công T1 tiếp tục hợp tác, hỗ trợ kinh
phí để xuất hóa đơn, thu hồi nợ, sau đó sẽ thanh toán đầy đủ cho ông C.
Tại phiên tòa, ông T trình bày: Do hợp đồng giữa các bên cũng đã thực hiện xong
nên đồng ý hủy bỏ hợp đồng bằng lời nói giữa ông T với ông C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T1 trình bày:
Ông xác định mình chỉ người quen biết cả hai bên người giới thiệu ông
Hoàng Văn C cho ông Hunh Thanh T đhai bên làm quen, bàn bạc việc hùn hạp mua
bán cát san lấp. Ông khẳng định bản thân không tham gia hùn vốn, không kết bất kỳ
thỏa thuận hợp tác nào cùng với ông T và ông C trong dự án cung cấp cát cho Công ty P
hay Công ty P1 như lời trình bày của ông T.
Trước đó, vào ngày 30/4/2024, ông và ông T có thỏa thuận đóng góp riêng để thực
hiện dự án làm cầu C. Trong giao dịch đó, ông T cam kết lo liệu việc cung cấp cát, còn
ông góp bằng tiền được chia lợi nhuận. Ông đã giao cho ông T tổng số tiền 333.500.000
đồng, nhưng đến nay ông T vẫn chưa thanh tn ctiền gốc và tiền lãi. Tuy nhiên, ông xác
định đây quan hệ giao dịch riêng biệt, không liên quan đến vụ án này nên ông không
đưa ra yêu cầu giải quyết trong đơn khởi kiện của ông C sẽ tự giải quyết với ông T sau.
Đối với việc ông T trình bày hiện nay cát vẫn còn tồn tại ở bãi chưa bán được, ông
khẳng định việc này không liên quan đến ông. Ông T toàn quyền xử lý, bán cho bên thứ
ba để thu hồi vốn. Ngoài ra, ông cũng xác định không biết ông Hoàng Mạnh T2 ông
Phạm Thanh B như lời ông T đã nêu.
Bản án dân sự thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 07-4-2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 7 - Tây Ninh quyết định:
Căn ckhoản 3 Điều 26; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 277, 228, 244 Bộ tố
tụng dân sự; Điều 117, 122, 405, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm; khoản 2 Điều 26
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn C.
Xác định hợp đồng hợp tác giữa ông Hoàng Văn C ông Hunh Thanh T, hợp
đồng xác lập bằng lời nói vào tháng 5/2024 là vô hiệu.
Buộc ông Huỳnh Thanh T phải trả cho ông Hoàng Văn C s tiền đã nhận là
1.059.000.000 đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo.
Ngày 20/4/2025, bị đơn là ông Huỳnh Thanh T nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp yêu cầu khởi
5
kiện của nguyên đơn ông C, khi nào công ty thu hồi được nợ ông T sẽ trả cho ông C số
tiền còn nợ là 665.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Thanh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông
Hoàng Văn C không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông T, đề nghị Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của pháp
luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân s Thư ký phiên tòa thực hiện đúng
nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của đương
sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh
Thanh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng: Ngày 07/4/2026 Tòa án nhân dân Khu vực 7-Tây Ninh xét xử thẩm
vụ kiện, ngày 20/4/2026 bị đơn ông Huỳnh Thanh T nộp đơn kháng cáo bản án thẩm,
kháng cáo trong hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
2 Về nội dung:
[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hoà giải
tại phiên toà thẩm, ông Hunh Thanh T ông Hoàng Văn C xác nhn ni dung thỏa
thuận hợp tác để mua bán cát san lấp cung cấp cho các công trình. Trong quá trình thực
hiện thoả thuận ông C đã chuyển khoản cho ông T số tiền là 1.059.000.000 đồng đ ông T
mua cát và chi phí khác trong vic thc hin hợp đồng mua bán cát. Ông T thống nhất xác
nhận còn nợ ông C stiền 1.059.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T không đồng ý trả ngay
theo yêu cầu của ông C do chưa thu hồi được công nợ từ Công ty P Công ty P1.
Ông T đề nghị ông C tiếp tục hợp tác, hỗ trợ kinh phí để xuất hóa đơn, thu hồi nợ, sau đó
s thanh toán đầy đủ cho ông C.
[2.2] Xét thấy, tha thun hp tác gia ông Hoàng Văn C ông Hunh Thanh T
đưc xác lp bng li nói mà không lập thành văn bản dẫn đến có mâu thun v s ng
ngưi tham gia-ông T cho rng ngoài ông C thì còn ông Phan Văn T1, ông Hoàng Mạnh
T2 và ông Phạm Thanh B và cung cấp cát dự án cho Công ty P và Công ty P1. Ông C xác
định ch mình ông tham gia với ông T và cung cấp cát cho Công ty P.
[2.3] Toà án cấp sơ thẩm xác định tho thun hp tác gia ông Hoàng Văn C ông
Hunh Thanh T đưc xác lp bng li nói vi phạm về hình thức và nội dung theo quy
6
định tại Điều 504; Điều 505 Bộ luật dân sựn tuyên b vô hiu và buc ông T tr li cho
ông C s tiền đã nhận 1.059.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Sau khi xét x thẩm ông T kháng cáo cho rng ông C đã chuyển khoản cho
ông gồm:
+ Ngày 07/5/2024 s tiền là 120.000.000 đồng (thuê sà lan);
+ Ngày 08/5/2024 s tiền 35.000.000 đồng (mua đồ máy);
+ Ngày 09/5/2024 s tiền 100.000.000 đồng (tiền đóng bãi cát);
+ Ngày 05/6/2024 s tiền 30.000.000 đồng (tin cát);
+ Ngày 03/6/2024 s tiền 2.000.000 đồng (không ghi ni dung);
+ Ngày 30/4/2024 s tiền 140.000.000 đồng (tr tin cát);
+ Ngày 28/5/2024 số tiền 10.000.000 đồng (tin công cng);
+ Ngày 11/6/2025 s tiền 40.000.000 đồng (tin mua cát);
+ Ngày 23/11/2024 s tiền 100.000.000 đồng (tr tin cát);
+ Ngày 29/11/2024 s tiền 250.000.000 đồng (chuyển tiền mua cát);
+ Ngày 05/12/2024 số tiền 100.000.000 đồng (chuyn tr tin cát).
Tng cng 11 ln chuyn khon ông T nhận 927.000.000 đồng. Ông T yêu cu
xem xét s tin chuyn khon vào ngày 07/5/2024 s tiền 120.000.000 đng (thuê
lan); ngày 08/5/2024 s tiền 35.000.000 đồng (mua đ máy) và 28/5/2024 s tin
10.000.000 đồng (tin công cng), tng s tiền là 165.000.000 đồng không dùng vào vic
mua cát nên chia 3 người, ông C chu 2 phn là 110.000.000 đồng ông T yêu cu ông
C phi chu tin l bãi cát 288.000.000 đng chia 03 người, ông C chu 02 phn
152.000.000 đồng. Khu tr s tin ông C phi chịu 927.000.000 đồng 262.000.000 đồng
(110.000.000 đồng + 152.000.000 đồng) ông T còn nợ ông C là 665.000.000 đồng.
[3.1] Như phân tích tại mục [2.1] thì ông T xác nhận còn n ông C số tiền
1.059.000.000 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T cho rằng còn nợ ông C số tiền
927.000.000 đồng và yêu cầu khấu trừ số tiền 165.000.000 đồng không dùng vào mua bán
cát, tiền lỗ bãi cát 288.000.000 đồng nhưng ông C không đồng ý và ông T không đưa ra
được chứng cứ, chứng minh.
Xét thấy, toàn bộ số tiền ông C chuyển khoản cho ông T dùng vào việc mua cát
san lắp để bán lại hoặc chi phí khác vào việc mua cát tất cả các lần chuyển khoản đều
được ông T xác nhận. Việc mua bán cát với các đối tác đều do ông T thực hiện thông qua
Công ty TNHH MTV X do ông T làm giám đốc quyết định. Việc các đối tác mua cát còn
nợ (theo ông T cung cấp là 1.434.192.000 đồng) thì Công ty TNHH MTV X ông T
trách nhiệm thu hồi nợ. Ông T cho rằng chờ thu hồi nợ mới trả cho ông C không có căn
cứ chấp nhận.
7
[3.2] Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không căn
cchấp nhận, đnghị của Viện kiểm sát n cchấp nhận giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí phúc
thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Thanh T.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 7/4/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7-Tây Ninh.
Căn ckhoản 3 Điều 26; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 277, 228, 244 Bộ tố tụng
dân sự; Căn c Điều 117, 122, 504, 505 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết
01/2019/NQ HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
về ớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm; khoản
2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn C.
Vô hiệu hợp đồng hợp tác giữa ông Hoàng Văn C và ông Hunh Thanh T, hợp đồng
xác lập bằng lời nói vào tháng 5/2024 .
Buộc ông Huỳnh Thanh T phải trả cho ông Hoàng Văn C số tiền đã nhận
1.059.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Án phí dân s sơ thẩm: Ông Huỳnh Thanh T phải chịu án phí là 43.770.000 đồng.
- Án phí dân sphúc thẩm: Ông Huỳnh Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng, được khấu trừ tiền tạm ng án phí đã nộp ngày 20-4-2026 theo Biên lai thu số
0008242 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND Khu vực 7-TN;
- THADS tỉnh TN;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 869/2026/DS-PT Bản án số 869/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 869/2026/DS-PT Bản án số 869/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất