Bản án số 820/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 820/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 820/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 820/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hồ Viết V - Lý Thai T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 820/2026/DS-PT Bản án số 820/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 820/2026/DS-PT Bản án số 820/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 820/2026/DS-PT
Ngày: 19-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Đinh Thị Ngọc Yến
bà Dương Thúy Hằng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng
Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số 307/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 4 năm 2026 về việc:
“Tranh hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 411/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm
2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Hồ Viết V, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn G (theo Văn bản ủy quyền ngày
08/6/2026).
2. Ông Trương Hữu T, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn:
1. Ông Lý Thái T1, sinh năm 1948; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
3. Bà Lý Thị T2, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
4. Ông Lý Hữu L, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
1. Ông Phạm Văn D, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp G, xã T, tỉnh Tây Ninh.
2. Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp G, T, tỉnh Tây Ninh (có
yêu cầu độc lập)
Người đại diện theo ủy quyền của N: ông Phạm Văn D, sinh năm 1975, địa chỉ:
ấp G, xã T, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 18/6/2026).
3. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
4. Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn V1, chức vụ Trưởng phòng
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-TâyNinh.
5. Văn phòng C; địa chỉ trụ sở: 107-109 đường Ba tháng H, thị trấn T, huyện V,
tỉnh Long An, nay là xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Đặng Trung T3 (Trưởng văn phòng).
- Người kháng cáo: các nguyên đơn ông Hồ Viết V, ông Trương Hữu T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 09/01/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại
cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Hồ Viết V trình bày:
Do quen biết nên ông cho Nguyễn Thị Hồng M tiền 03 lần với tổng số
tiền 8.415.000.000 đồng. Cụ thể: lần thứ nhất vào ngày 13/7/2024, bà H mượn số tiền
6.515.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 11/9/2024, mượn số tiền 1.400.000.000
đồng; lần thứ ba vào ngày 25/9/2024, mượn số tiền 500.000.000 đồng.
Khi mượn tiền, H nói mượn để đáo hạn khoản vay ngân hàng hứa sau vài
ngày, khi hoàn tất việc đáo hạn sẽ hoàn trả cho ông. Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền
trên, H nhiều lần kéo dài thời gian trả nợ. Mặc ông đã nhiều lần yêu cầu thanh
toán nhưng H chỉ hứa hẹn mà không thực hiện. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu ông
Thái T1 và Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền đã mượn
8.415.000.000 đồng; ông không yêu cầu tính lãi đối với khoản tiềny.
Đồng thời, ông đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong
tỏa tài sản quyền sử dụng đất do ông Thái T1 đứng tên tại các thửa đất số 589,
648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652 583, tờ bản đồ số 26 (thửa mới các thửa
số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938, 347, 215 và 939, tờ bản đồ số 26) và các thửa đất
số 586, 587, 588 và 590, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại xã V, tỉnh Tây Ninh nhằm bảo đảm
thi hành án.
Nay ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Lý Thái T1 và bà Nguyễn
Thị H; đồng thời giữ nguyên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa
các quyền sử dụng đất nêu trên để bảo đảm thi hành án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T về việc yêu cầu ông Thái
T1, Nguyễn Thị H, Thị T2 ông Hữu L thực hiện thủ tục chuyển nhượng
3
quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 581, 582, 583, 584, 585, 586, 587 và 589, tờ
bản đồ s9, tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh để cấn trừ khoản nợ của bà H đối với
ông T, ông không đồng ý. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông
Trương Hữu T vì các quyền sử dụng đất này hiện đang được ông yêu cầu phong tỏa để
bảo đảm thi hành án đối với khoản nợ của bà H.
Đối với yêu cầu của Nguyễn Thị Yến N khởi kiện ông Thái T1
Nguyễn Thị H, yêu cầu ông T1 H thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652 583, tờ
bản đồ số 26 (thửa mới các thửa số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938, 347, 215
939, tờ bản đồ số 26) các thửa đất số 586, 587, 588 590, tờ bản đồ số 9; đồng
thời yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-
BPKCTT ngày 17/3/2025 Quyết định thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 19/3/2025, cũng như yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Yến N với ông Lý Thái T1 và
Nguyễn Thị H đối với các thửa đất nêu trên, ông không đồng ý. Lý do là các quyền
sử dụng đất này hiện đang được ông yêu cầu Tòa án phong tỏa để bảo đảm thi hành án
đối với khoản nợ mà bà Nguyễn Thị H còn nợ ông.
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 13/01/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại
cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Trương Hữu T trình bày:
Vào ngày 29/10/2024, bà Nguyễn Thị H và con trai là ông Hữu L hỏi vay
của ông số tiền 1.861.000.000 đồng để đáo hạn khoản vay ngân hàng hứa sau 10
ngày shoàn trả. Khi vay tiền, H và ông L thỏa thuận rằng nếu không trả nợ đúng
hạn thì bà H sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông để cấn trừ nợ.
Đến hạn trả nợ, H không có khả năng thanh toán nên các bên thống nhất giao
cho ông quyền sử dụng đất diện ch khoảng 02 ha để cấn trừ khoản nợ nêu trên, với
giá quy đổi 100.000.000 đồng/1.000m
2
. Do số tiền H vay của ông
1.861.000.000 đồng nên ông phải hoàn trả lại cho bà H số tiền chênh lệch là
139.000.000 đồng. Đến ngày 10/01/2025, bà H đã giao đất cho ông quản lý, sử dụng.
Sau khi thu hoạch xong vụ lúa Đông Xuân năm 2025, gia đình H tự ý lấy lại đất để
sử dụng, dẫn đến phát sinh tranh chấp như hiện nay.
Do không đồng ý với việc làm của bà H, nên ông khởi kiện yêu cầu ông Lý Thái
T1, Nguyễn Thị H, Thị T2 ông Hữu L nghĩa vụ thực hiện thủ tục
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông đối vớic thửa đất số 581, 582, 583, 584,
585, 586, 587 589, tbản đồ số 9, tọa lạc tại ấp G, V, tỉnh Tây Ninh. Theo kết
quả đo đạc thực tế, tổng diện tích các thửa đất là 17.652,7m
2
; theo kết quả định giá tài
sản do a án trưng cầu, giá trị quyền sử dụng đất là 2.215.260.000 đồng. Ông đồng ý
hoàn trả cho ông T1, H, T2 và ông L số tiền chênh lệch giữa giá trị quyền sử
dụng đất và số tiền nợ là 354.260.000 đồng.
Ông không yêu cầu ông T1, H, T2 và ông L hoàn trả số tiền đã vay là
1.861.000.000 đồng mong muốn của ông tiếp tục thực hiện thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh
chấp về khoản tiền vay 1.861.000.000 đồng; trường hợp phát sinh tranh chấp đối với
4
khoản tiền này thì ông sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác và không yêu cầu giải quyết
trong cùng vụ án này.
Bị đơn, ông Thái T1 do ông Bùi Ngọc T4 đại diện theo ủy quyền tại cấp
thẩm trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V: ông Lý Thái T1 không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết Vĩnh B ông T1 liên đới với H trả nợ, việc thỏa
thuận vay tiền giữa Nguyễn Thị H ông Hồ Viết V, ông T1 hoàn toàn không
biết, không tham gia giao dịch cũng không nhận bất kỳ khoản tiền vay nào từ ông
V. Đối với việc ông Hồ Viết V yêu cầu Tòa án phong tỏa quyền sử dụng đất của ông
T1 đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Yến N là không có căn cứ. Ông T1 đề nghị
Tòa án hủy bỏ các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của
ông T1Nguyễn Thị H để các bên tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Yến N.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T: ông Lý Thái T1 không đồng ý
ông T1 không vay tiền của ông T, không thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất với ông T.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Yến N: ông Lý Thái T1 thừa nhận có chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Yến N, nên đồng ý tiếp tục thực hiện
việc chuyển nhượng đối với các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821,
652 583, tbản đồ s26 (thửa mới các thửa số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938,
347, 215 939, tờ bản đồ số 26) các thửa đất số 586, 587, 588 và 590, tờ bản đồ
số 9, tọa lạc tại xã V, tỉnh Tây Ninh. Ông T1 xác nhận đã nhận đủ tiền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Yến N đã giao đất cho N quản lý, sử dụng.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền tại cấp sơ thẩm là ông
Nguyễn Phước T5 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm như sau:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V: bà Nguyễn Thị H chỉ vay của ông
V tổng số tiền 840.000.000 đồng trong 03 lần vay, gồm: ngày 13/7/2024 vay
650.000.000 đồng, ngày 11/9/2024 vay 140.000.000 đồng ngày 25/9/2024 vay
50.000.000 đồng. Sau khi vay ngân hàng được tiền, bà H đã trả hết khoản nợ trên cho
ông V. Nay ông V tiếp tục yêu cầu H trả số tiền 8.415.000.000 đồng, thì H không
đồng ý vì không còn nợ ông V khoản tiền nào. H đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để và ông T1 tiếp tục thực hiện việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Yến N.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T: trước đây, H vay của ông
T số tiền 600.000.000 đồng đã thanh toán nhiều lần. Việc ông T cho rằng H
thỏa thuận chuyển nhượng khoảng 02 ha đất đcấn trừ nợ không đúng sự thật. Số
tiền 1.861.000.000 đồng ghi trong giấy là do ông T tự ý ghi và yêu cầu bà ký tên, thời
điểm không đọc lại nội dung và nghĩ đó là giấy xác nhận khoản nợ gốc và lãi.
H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, không việc tự nguyện thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T.
5
Đối với yêu cầu của Nguyễn Thị Yến N: Nguyễn Thị H đồng ý cùng ông
Lý Thái T1 tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Yến N ông T1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng
đất của bà N.
Bị đơn, Thị T2 trình bày: là con gái của ông Thái T1 Nguyễn
Thị H. Bà không vay tiền ca ông Trương Hữu T và cũng không thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông T. thừa nhận ký tên vào giấy do ông T đưa
với mục đích làm chứng cho việc mẹ bà vay tiền của ông T. Khi tên, không chứng
kiến việc giao nhận tiền giữa ông T H. Do không việc vay tiền hoặc thỏa thuận
giao đất với ông T nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bị đơn ông Lý Hữu L trình bày: ông là con của ông Thái T1 và Nguyễn Thị
H. Ông không vay tiền của ông Trương Hữu T và không có thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông T. Ông chỉ tên với cách người làm chứng theo đề nghị
của H. Thời điểm tên, ông T đã viết sẵn nội dung giấy, ông không đọc lại nội
dung cũng không chứng kiến việc ông T giao tiền cho H. Do đó, ông không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày
Ông Phạm Văn D, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị
Yến N (có yêu cầu độc lập), trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Yến N là vợ chồng. Ngày 06/11/2024, vợ chồng ông thỏa
thuận nhận chuyển nhượng của ông Lý Thái T1 và bà Nguyễn Thị H diện tích khoảng
50.000m
2
đất thuộc các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652 583,
tờ bản đồ số 26 (thửa mới các thửa số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938, 347, 215
939, tờ bản đồ số 26) các thửa đất số 586, 587, 588 590, tờ bản đồ số 9, tọa
lạc tại xã V, tỉnh Tây Ninh, với giá chuyển nhượng 127.000.000 đồng/1.000m
2
, diện
tích thực tế bao nhiêu sẽ tính tiền bấy nhiêu. Tổng giá trị tạm tính 6.350.000.000
đồng.
N đã giao trước cho ông T1 H số tiền 4.050.000.000 đồng; số tiền còn
lại là 2.300.000.000 đồng được thanh toán vào ngày 06/01/2025 khi các bên đến Ngân
hàng N2 đtất toán khoản vay nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm
thực hiện thủ tục sang tên.
Do các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải thực hiện thủ tục cấp đổi, n
đến ngày 14/3/2025, sau khi được cấp giấy chứng nhận mới, các bên đã đến Văn phòng
C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nộp hồ sơ đăng ký biến động tại
Trung tâm Hành chính công huyện T. Tuy nhiên, đến ngày 17/3/2025, theo yêu cầu
của ông HViết V, Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa các
quyền sdụng đất đang được chuyển nhượng cho bà N, nên việc sang tên không thể
tiếp tục thực hiện.
Do Nguyễn Thị Yến N đã thanh toán đủ số tiền 6.350.000.000 đồng cho ông
T1 H, nên ông đề nghị Tòa án hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời số 01/2025/-BPKCTT ngày 17/3/2025 Quyết định thay đổi, bổ sung
6
biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 19/3/2025; đồng thời công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thái T1, Nguyễn
Thị H với bà Nguyễn Thị Yến N đối với các thửa đất nêu trên.
Lê Thị H1 trình bày: bà là vợ của ông Hồ Viết Vĩnh . Số tiền mà ông Hồ Viết
V cho Nguyễn Thị H vay là tài sản riêng của ông V, không phải tài sản chung của
vợ chồng nên bà không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị được giải
quyết vắng mặt.
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9-Tây Ninh trình bày: bà Nguyễn Thị H đang
nghĩa vụ thi hành án với tổng số tiền 2.080.000.000 đồng (hai tỷ không trăm tám
mươi triệu đồng), theo các Quyết định số 24/2025/QĐST-DS ngày 18/4/2025, số
25/2025/QĐST-DS ngày 21/4/2025, số 26/2025/QĐST-DS ngày 23/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Hiện nay, quan Thi hành án chưa thực
hiện việc kê biên các quyền sử dụng đất do ông Lý Thái T1 đứng tên, nên không có ý
kiến đối với nội dung tranh chấp. Đnghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật và đề nghị được xét xử vắng mặt.
Văn phòng C trình bày: việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Thái T1, Nguyễn Thị H với Nguyễn Thị Yến N đúng trình tự,
thủ tục và quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định và
đề nghị được xét xử vắng mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V yêu cầu ông Lý Thái
T1 và bà Nguyễn Thị H trả số tiền nợ vay 8.415.000.000 đồng (tám tỷ bốn trăm mười
lăm triệu đồng).
Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT
ngày 17/3/2025 Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện
Tân Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh).
Tiếp tục duy trì số tiền gửi thực hiện biện pháp bảo đảm 1.300.000.000 đồng (một
tỷ ba trăm triệu đồng) tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh T6 trong thời hạn 03 (ba) tháng
kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật để quan thẩm quyền xem xét việc yêu
cầu bồi thường thiệt hại cho tổ chức, nhân bị ảnh hưởng bởi việc đề nghị áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời của ông Hồ Viết Vĩnh . Hết thời hạn 03 (ba) tháng, nếu
không ai khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại thì ông Hồ Viết V được quyền đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh ra quyết định giải tỏa số tiền trên.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T đối với ông Thái
T1, bà Nguyễn Thị H, Lý Thị T2 và ông Lý Hữu L về việc yêu cầu ông Lý Thái T1,
Nguyễn Th H, Lý Thị T2 và ông Lý Hữu L nghĩa vụ thực hiện thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông đối với các thửa đất số 581, 582, 583, 584, 585,
586, 587 và 589, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
7
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến N đối với ông Lý Thái T1
và bà Nguyễn Thị H.
Buộc ông Thái T1 Nguyễn Thị H nghĩa vụ thực hiện việc chuyển
nhượng giao quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584,
582, 821, 652 583, tờ bản đồ số 26 (thửa mới các thửa số 941, 759, 317, 937,
942, 940, 938, 347, 215 và 939, tờ bản đồ số 26) và các thửa đất số 586, 587, 588
590, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp G, V, tỉnh y Ninh cho Nguyễn Thị Yến N
quản lý, sử dụng.
4. Nguyễn Thị Yến N được quyền liên hệ với quan thẩm quyền (Văn
phòng Đăng đất đai C1 nơi đất) để đăng ký, khai cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652
583, tờ bản đồ số 26 (thửa mới các thửa số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938,
347, 215 và 939, tờ bản đồ số 26) các thửa đất số 586, 587, 588 và 590, tờ bản đồ
số 9, tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh; đồng thời thực hiện nghĩa vụ tài chính theo
quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
5. Văn phòng Đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường căn cứ vào bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để giải quyết việc thu hồi, chỉnh lý
biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Yến N
đối với các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652 và 583, tờ bản đồ
số 26 (thửa mới là các thửa số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938, 347, 215 và 939, tờ
bản đồ số 26) và các thửa đất số 586, 587, 588 590, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp
G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
6. Về chi phí tố tụng (đo đạc, định giá và thẩm định): ông Hồ Viết V phải bàu chi
phí thẩm định số tiền 4.000.000 đồng; ông V đã nộp xong. Bà Nguyễn Thị H phải bàu
chi phí giám định chữ số tiền 16.000.000 đồng. Khoản tiền này ông V đã nộp tạm
ứng nên H nghĩa vụ hoàn trả cho ông V số tiền 16.000.000 đồng. Ông Trương
Hữu T phải bàu số tiền 46.468.800 đồng; ông T đã nộp xong. Nguyễn Thị Yến N
không phải bàu chi phí tố tụng.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Hồ Viết V phải bàu án phí dân sự thẩm số tiền 116.415.000 đồng, được
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 23.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001601
ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 9, Tây Ninh); ông V còn phải nộp tiếp số tiền 93.215.000 đồng.
Nguyễn Thị H ông Thái T1 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được
miễn án phí.
Ông Trương Hữu T thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí.
Nguyễn Thị Yến N không phải bàu án phí; hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 600.000 đồng theo Biên lai thu số 0003347 ngày 22/8/2025 của Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 9 - Tây Ninh.”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc thi hành
án theo quy định của pháp luật.
8
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn ông Trương Hữu T đơn kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn ông Hồ Viết V đơn kháng cáo toàn
bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Nguyễn Văn G trình bày: ông Hồ Viết V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V,
buộc ông Thái T1 Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới trả cho ông V số tiền
8.415.000.000 đồng; tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng hiệu
các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1, bà H với
N, ông T.
Ông Trương Hữu T trình bày: tại Tòa án cấp thẩm, do không am hiểu pháp
luật, nên ông không trình bày ràng yêu cầu của mình liên quan đến số tiền
1.861.000.000 đồng. Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông về việc buộc gia
đình bà H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông đối
với các thửa đất số 581, 582, 583, 584, 585, 586, 587 và 589, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại
ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh, thì yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1, bà H và các con
phải trả lại tiền cho ông để giải quyết dứt điểm tranh chấp giữa hai bên. Ông không yêu
cầu tính lãi đối với khoản tiền này. Lúc ông cho bà H vay tiền thì ông T1 đang bị bệnh,
nên H xin ông đừng thông báo cho ông T1 biết. tình làng nghĩa xóm, nên ông chỉ
yêu cầu các con của H cùng giấy đồng ý giao đất cho ông nếu không trả được
nợ. Ông chỉ làm được 01 vụ Đông Xuân thì bà H lấy lại đất.
Ông Phạm Văn D trình bày: thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ
ông N với vợ chồng ông T1, H đang thực hiện thì ông V yêu cầu phong tỏa,
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và bà N. Do đó, ông yêu cầu Tòa án hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời để N tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển quyền, bởi vì N
mua đất vào ngày 06/01/2025, đến 03 tháng sau thì ông V mới khởi kiện yêu cầu
phong tỏa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Viết V, ông Trương Hữu
T đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo:
Đối với kháng cáo của ông Hồ Viết V: theo 03 biên nhận ngày 13/7/2024, ngày
11/9/2024 ngày 25/9/2024, tổng số tiền 8.415.000.000 đồng, H nhận nhưng
không thừa nhận mà xác định chỉ vay của ông V số tiền 840.000.000 đồng và cho rằng
đã trả xong, trong khi ông V xác định số tiền 840.000.000 đồng này là một khoản vay
khác. Kết luận giám định đã xác định H người tên trên 03 biên nhận, H
không chứng minh được đã thanh toán xong, nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông
V, buộc bà H phải trả cho ông V số tiền vay này. Đối với kháng cáo của ông V yêu cầu
không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa N với ông T1,
9
bà H yêu cầu tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì hợp đồng này được
xác lập vào ngày 06/01/2025, thời điểm đó quyền sử dụng đất ông T1 đứng tên
không bị kê biên, phong tỏa, N đã trả đủ tiền đã nhận đất, nên không căn cứ
chấp nhận kháng cáo của ông V về 02 nội dung này, mà cần công nhận hợp đồng giữa
bà N và ông T1, bà H.
Đối với kháng cáo của ông Trương Hữu T: ông T cung cấp 02 biên nhận xác định
bà H, ông L và bà T2 nợ số tiền 1.861.000.000 đồng, nhưng bà H chỉ thừa nhận có nợ
ông T 600.000.000 đồng, như vậy, giữa hai bên không thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc
buộc ông T1, bà H, bà T2ông L tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, là căn cứ. Đối với yêu cầu của ông T đòi ông T1, H, T2 ông
L phải trả lại số tiền 1.861.000.000 đồng, tại cấp sơ thẩm ông T không yêu cầu, nên đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo
của ông Hồ Viết V, bác kháng cáo của ông Trương Hữu T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của các nguyên đơn ông Hồ Viết V, ông Trương Hữu T thực
hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 ca B luật Tố
tụng dân sự. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ
vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về svắng mặt của đương sự: ông Hồ Viết V, Nguyễn Thị Yến N vắng
mặt, nhưng có người đại diện theo ủy quyền mặt; ông Thái T1, Nguyễn Thị
H, bà Lý Thị T2, ông Lý Hữu L, bà Lê Thị H1, Văn phòng C, Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 9-Tây Ninh vắng mặt, văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: ông Hồ Viết V kháng cáo toàn bộ bản án dân
sự thẩm. Ông Trương Hữu T kháng cáo một phần bản án dân sự thẩm yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T và H, ông T1, nếu hợp đồng không
được công nhận, thì yêu cầu giải quyết hậu quả. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án.
[4] Vviệc áp dụng pháp luật về nội dung: các giao dịch đang có tranh chấp được
xác lập vào năm 2024, 2025. Do đó, cầnn cứ pháp luật về đất đai và dân sự đang có
hiệu lực trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch đgiải quyết tranh chấp, cụ thể:
áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Đất đai năm 2013, năm 2024 và các văn bản
hướng dẫn thi hành luật có liên quan.
Xét kháng cáo của ông Trương Hữu T
[5] Ông Trương Hữu T cho rằng giữa ông với bà Nguyễn Thị H, Lý Thị T2
ông Hữu L đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để cấn trừ khoản
10
tiền 1.861.000.000 đồng H vay của ông, nên ông yêu cầu ông Thái T1,
Nguyễn Thị H, Thị T2 ông Hữu L thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đối với các thửa đất số 581, 582, 583, 584, 585, 586, 587 và 589, cùng tờ
bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp G, V, tỉnh Tây Ninh. Trường hợp không công nhận việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì yêu cầu ông T1, H 02 con phải hoàn trả
cho ông số tiền 1.861.000.000 đồng.
[6] Hồ sơ vụ án thhiện, ông Lý Thái T1, Nguyễn Thị H, Thị T2 và ông
Lý Hữu L đều không thừa nhận có việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông T để cấn trừ nnhư ông T đã trình bày (các bút lục số 87, 90, 91, 92, 101-103,
258). Mặt khác, theo các tài liệu do ông T cung cấp gồm “Biên bản thỏa thuận giao
giấy QSDĐ” ngày 06/12/2024, “Biên nhận mượn tiền” ghi ngày 29/10/2024 (các bút
lục số 58, 59, 64) thì thỏa thuận cũng không đầy đủ các nội dung về giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, nên theo quy định tại các Điều 500, 501, 502 và Điều 503
của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông
Trương Hữu T về việc công nhận hiệu lực pháp luật của hợp đồng, là có căn cứ.
[7] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông T đòi H và ông T1 phải hoàn trả số tiền
1.861.000.000 đồng nếu không được công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: tại cấp thẩm ông T xác
định không yêu cầu giải quyết giao dịch vay tiền hoặc hậu quả pháp trong trường
hợp ông T không được chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải thích cho ông T về
quyền yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; việc giải thích
đã được lập biên bản và lưu trong hồ sơ vụ án, nhưng ông T vẫn khẳng định không có
yêu cầu giải quyết đối với khoản tiền 1.861.000.000 đồng (các bút lục số 88, 320). Do
đó, Tòa án cấp thẩm không xem xét, giải quyết về số tiền 1.861.000.000 đồng,
đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự mục 2 phần III Công văn số
01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một
số vấn đề nghiệp vụ. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T mới kháng cáo đặt ra yêu cầu buộc
ông T1, bà H và 02 con là bà T2, ông L phải hoàn trả số tiền 1.861.000.000 đồng nếu
không được chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng. Đây được xem là
yêu cầu khởi kiện mới, chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục
thẩm nên căn cứ Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự về chế đxét xthẩm, phúc
thẩm trong tố tụng dân sự, Hội đồng xét xphúc thẩm không chấp nhận phần kháng
cáo này của ông T. Ông T có quyền khởi kiện tranh chấp số tiền 1.861.000.000 đồng
bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của ông Hồ Viết V
[8] Về yêu cầu ông Thái T1 Nguyễn Thị H liên đới trả nợ vay tổng số
tiền 8.415.000.000 đồng:
[8.1] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông Hồ Viết V đã cung cấp 03 giấy
nhận nợ ghi ngày 13/7/2024, 11/9/2024 và 25/9/2024 (các bút lục số 217-219), có nội
dung:
11
“Tôi tên: Nguyễn Thị H, sinh năn 1961, số CCCD: ************ nhận của V
số tiền 6.515.000.000đ (sáu tỷ năm trăm mười lăm triệu đồng). Ngày 13/07/2024.
Người nhận: chữ ký H và tên Nguyễn Thị H”.
“Tôi tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 nhận của ông V số tiền 1.400.000.000đ
(Một tỷ bốn trăm triệu đồng) để đáo nợ ngân hàng hẹn 5 ngày trả. Người nhận
11/9/2024 chữ ký H và tên Nguyễn Thị H”.
“Tôi tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 nhận của V số tiền 500.000.000đ (năm
trăm triệu đồng) để đáo nợ ngân hàng hẹn 10 ngày trả. 25/9/2024. Người nhận: chữ
H và tên Nguyễn Thị H”.
[8.2] Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã trưng cầu giám định đối với chữ
viết chữ trên các giấy nhận nợ này. Tại Kết luận giám định số 578/KL-KTHS
ngày 19/9/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã kết
luận chữ tên chữ viết họ tên ở mục “người nhận” trên 03 giấy nợ đều là của
Nguyễn Thị Hồng V2 tên (bút lục số 146). Sau khi nhận được kết luận giám định,
H không khiếu nại vkết luận giám định (bút lục số 247). Do đó, đủ căn cứ
xác định các giấy nhận nợ nêu trên chứng cứ hợp pháp, chứng minh việc H đã
xác lập nghĩa vụ của bên vay tiền đối với ông V là bên cho vay. Căn cứ khoản 1 Điều
466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 70, khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, bà H phải là bên có nghĩa vụ chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ trả
nợ vay, đối với ông V. Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào việc vợ chồng ông V
Thị H1 trình bày không thống nhất về nguồn thu nhập tài sản chung của vợ
chồng, từ đó nhận định bà H không còn nợ ông V số tiền mà bà H đã ký nhận theo 03
giấy nhận nợ ghi ngày 13/7/2024, 11/9/2024 và 25/9/2024, là không đúng quy định về
nghĩa vụ chứng minh và đánh giá chứng cứ.
[8.3] Tại biên bản ghi lời khai của H do Tòa án cấp thẩm lập vào ngày
04/11/2025, bà H thừa nhận có vay của ông V 03 lần tiền tổng số tiền là 840.000.000
đồng, gồm lần vay ngày 13/7/2024 vay 650.000.000 đồng, vay ngày 11/9/2024 vay số
tiền 140.000.000 dồng và vay lần 3 ngày 25/9/2024 vay số tiền 50.000.000 đồng. Như
vậy, trình bày của bà H về thời gian của 03 lần vay là thống nhất với trình bày của ông
V, cũng phù hợp với thời gian ghi trên 03 biên nhận nợ, chỉ không khớp về số tiền. Tuy
nhiên, qua xem xét, nội dung trên các biên nhận nợ này hoàn toàn không có sự tẩy xóa
và số tiền bà H nhận đã được ghi bằng số và bằng chữ, bà H đã ký nhận ngay phía bên
dưới dòng chữ kết thúc khoản tiền được ghi bằng chữ. H là người có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự, H cũng không chứng minh được, tại thời điểm tên nhận
tiền trên các biên nhận là ký trong tình trạng bị đe dọa, ép buộc, bị lừa dối, hoặc có sự
nhầm lẫn về số tiền đã nhận.
[8.4] H và người đại diện cho rằng, chỉ vay của ông V 03 lần, tổng số tiền
840.000.000 đồng và đã trả xong vào ngày 09/10/2024 khi bà H vay ngân hàng số tiền
2.300.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông V xác định, số tiền 840.000.000 đồng H trả
cho khoản vay khác. Ngoài ra, nếu H cho rằng đã trả xong hết nợ vào ngày
09/10/2024, thì sao theo nội dung đoạn hội thoại giữa H ông V, được ông Vĩnh
ghi  vào ngày 10/01/2025, đã được ông Hữu L, Thị T2 ông Nguyễn
12
Phước T5 là người đại diện theo ủy quyền của H thừa nhận giọng nói của bà H
thừa nhận nội dung đoạn hội thoại, thì bà H lại nói “…đâu phải một, hai trăm đâu mà
bây giờ con một hai con đòi như vậy thì nếu con quyết như vậy thì bác không nhà…”
(các bút lục số 310, 318).
[8.5] Tại cấp phúc thẩm, ông V văn bản trình bày bản thân ông V là nhân viên
ngân hàng, việc huy động nguồn tiền từ người thân, bạn để hỗ trợ khách hàng đáo
hạn khoản vay là không phù hợp với quy định nội bộ của ngành ngân hàng, nên trong
quá trình giải quyết vụ án những lời khai chưa thống nhất về nguồn tiền cho vay
nhằm tránh ảnh hưởng đến công việc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, việc ông V
trình bày không thống nhất về nguồn hình thành số tiền cho vay chỉ liên quan đến cách
thức tạo lập nguồn vốn, không phải là căn cứ phủ nhận sự tồn tại của giao dịch vay tài
sản đã được thể hiện bằng các giấy biên nhận nợ giữa H và ông V. Đối với phương
thức giao nhận tiền, ông V giải thích ban đầu dự kiến chuyển khoản cho các nhân
theo yêu cầu của bà H, nhưng sau đó thay đổi sang giao nhận tiền mặt do việc chuyển
khoản cho nhiều nhân không quen biết sẽ gây khó khăn trong việc đối chiếu
chứng minh giao dịch. Sự khác nhau trong lời khai của các bên đương sự về phương
thức giao nhận tiền tình tiết cần xem xét, đánh giá, nhưng không đủ căn cứ vững
chắc để bác bỏ toàn bộ nội dung các giấy nhận nợ, nghĩa vụ chứng minh đã trả xong
tiền vay phải do H là bên vay chứng minh. Đối với khoản tiền 1.060.000.000 đồng
không được đưa vào yêu cầu khởi kiện, ông V trình bày H đã thanh toán được
840.000.000 đồng nên ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Đây là quyền tự
định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự và không
ảnh hưởng đến việc xem xét các khoản nợ còn lại đang tranh chấp.
[8.6] Căn cứ các giấy nhận nợ ngày 13/7/2024, 11/9/2024 và 25/9/2024 với tổng
số tiền 8.415.000.000 đồng đã được bà Nguyễn Thị H ký tên nhận tiền, do bà H không
chứng minh được đã trả xong nợ, thì phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ
Viết V, buộc bà H phải có nghĩa vụ trả nợ vay cho ông V.
[8.7] Đối với yêu cầu của ông V về việc buộc ông Lý Thái T1 và bà Nguyễn Thị
H liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thấy rằng: mặc ông T1 cho rằng ông không
biết việc H vay tiền, ông không trực tiếp vay tiền, không ký tên trên các giấy nhận
nợ không nhận tiền từ ông V, nhưng, các khoản vay theo các giấy nhận nợ ngày
13/7/2024, 11/9/2024 và 25/9/2024 được Nguyễn Thị H xác lập trong thời kỳ hôn
nhân với ông Lý Thái T1 đang tồn tại và có khoản ghi mục đích để đáo nợ ngân hàng.
Căn cứ Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đây nghĩa vụ
chung về tài sản của vợ chồng ông Thái T1 và bà Nguyễn Thị H, nên ông Lý Thái
T1 phải liên đới với Nguyễn Thị H thanh toán cho ông Hồ Viết V số tiền còn nợ
trên.
[9] Từ nhận định tại đoạn [8], Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy kháng cáo
của ông Hồ Viết V là có căn cứ để được chấp nhận, nên sửa một phần bản án dân sự
sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V, buộc ông Lý Thái T1 và bà
Nguyễn Thị H liên đới thanh toán cho ông Hồ Viết V số tiền vay còn nợ là
8.415.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V không yêu cầu tính lãi.
13
[10] Đối với kháng cáo của ông V yêu cầu không công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Thái T1, bà Nguyễn Thị H với bà Nguyễn Thị
Yến N, thấy rằng:
[10.1] Ngày 13/3/2025 - thời điểm ông Thái T1 Nguyễn Thị H xác lập
hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất ông T1 đứng tên trên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Yến N, thì trước đó vào các ngày 13/7/2024,
11/9/2024 25/9/2024 H đã xác lập giao dịch vay tổng số tiền 8.415.000.000 đồng
với ông V, có nghĩa là từ thời điểm ký biên nhận nhận tiền thì trước hết, bà H đã phát
sinh nghĩa vụ trả nợ cho ông Hồ Viết Vĩnh . Ngoài ra, theo Công văn số 14/CVTHADS-
KV9 ngày 10/01/2026 của Thi hành án dân sự khu vực 9-Tây Ninh, tH đang
nghĩa vụ thi hành án với tổng số tiền 2.080.000.000 đồng (hai tỷ không trăm tám mươi
triệu đồng), theo các Quyết định số 24/2025/QĐST-DS ngày 18/4/2025, số
25/2025/QĐST-DS ngày 21/4/2025, số 26/2025/QĐST-DS ngày 23/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
[10.2] Mặt khác, bà H và ông Phạm Văn D là người đại diện cho bà N cũng trình
bày không nhất quán vsố tiền N đã thanh toán. Tại biên bản ghi lời khai của ông
D vào ngày 01/12/2025, ông D trình bày bà N đưa tiền mặt 4.050.000.000 đồng (bốn
tỷ không trăm năm mươi triệu đồng) cho ông T1bà H o ngày 06/11/2024, số tiền
còn lại 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu đồng) thì ngày 06/01/2025 bà N cùng
H, ông T1 đến Ngân hàng để nộp tiền trả nợ vay thay cho ông T1, bà H. Hội đồng
xét xphúc thẩm nhận thấy, đối với số tiền 2.300.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm triệu
đồng), theo chứng từ giao dịch, bà Nguyễn Thị Yến N người nộp cho Ngân hàng N2
Chi nhánh huyện V-Long An (bút lục số 154), nên căn cứ để chấp nhận N đã
thanh toán thay cho bà H, ông T1 số tiền vay ngân hàng. Đối với stiền 4.050.000.000
đồng còn lại, ttại biên bản ghi lời khai ngày 16/7/2025 (bút lục số 95), ông D trình
bày theo yêu cầu của H, ông chuyển khoản cho ông Trương Hữu T số tiền
2.400.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm triệu đồng) để trả tiền H vay nợ của ông T,
nhưng do ông V yêu cầu Tòa án phong tỏa nên ông chưa làm thủ tục chuyển nhượng
đất của ông T1bà H được; sau đó, tại biên bản ghi lời khai ngày 31/7/2025 (bút lục
số 95a), ông D lại trình bày số tiền 2.400.000.000 đồng mà ông chuyển khoản cho ông
T, để nhận chuyển nhượng đất của ông Lý Hữu L Thị N1 con của bà
H, còn số tiền 4.050.000.000 đồng thì ông trả bằng tiền mặt cho H. Lời trình bày
của ông D và bà H về số tiền 4.050.000.000 đồng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
thanh toán nợ nghĩa vụ thi hành án dân sự của H. Xét thấy, giao dịch chuyển
nhượng toàn bộ quyền sdụng đất giữa ông Thái T1, Nguyễn Thị H với
Nguyễn Thị Yến N được xác lập trong thời điểm ông T1, bà H đang có nghĩa vụ về tài
sản giá trị lớn đối với ông V, đồng thời, việc chuyển nhượng này ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án vtài sản khả năng bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ của H bên nghĩa vụ, nên có đủ căn cứ xác định giao
dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa
vụ đối với người thứ ba theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015,
thì hiệu. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của ông V, sửa bản án thẩm, không
chấp nhận yêu cầu độc lập ca bà Nguyễn Thị Yến N về việc công nhận hiệu lực pháp
luật của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký, cấp giấy chứng nhận
14
quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 941, 759, 317, 937, 942, 940, 938, 347, 215
và 939, tờ bản đồ số 26 và các thửa đất số 586, 587, 588 và 590, tờ bản đồ số 9, tọa lạc
tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
[10.3] Khi giải quyết yêu cầu khởi kiện độc lập của N, Tòa án cấp thẩm
không giải thích yêu cầu N xác định nếu trong trường hợp không được chấp nhận
yêu cầu độc lập, khi hợp đồng bị hiệu thì N yêu cầu xem xét giải quyết hậu
quả pháp của giao dịch dân sự vô hiệu hay không, là không thực hiện đúng hướng
dẫn tại mục 2 phần III Công văn số 01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa
án nhân dân tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Do Nguyễn Thị Yến N chỉ
yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất không yêu cầu giải
quyết hậu qupháp nếu giao dịch dân sự vô hiệu, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm
không xem xét giải quyết hậu quả pháp của giao dịch dân sự vô hiệu trong vụ án này
nhằm đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong tố tụng dân sự, được quy định
tại Điều 17 ca Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp phát sinh tranh chấp về việc hoàn
trả tiền, bồi thường thiệt hại hoặc các hậu quả pháp khác của giao dịch dân sự
hiệu giữa N ông T1, bà H, thì bà N quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy
định của pháp luật.
[11] Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị H và ông Thái T1 phải liên đới chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng và chi phí giám định 16.000.000
đồng, tổng cộng 20.000.000 đồng. Ông Hồ Viết V đã tạm ứng các khoản chi phí này
nên bà Nguyễn Thị Hông Lý Thái T1 có nghĩa vụ liên đới nộp để hoàn trả cho ông
Hồ Viết V số tiền 20.000.000 đồng. Ông Trương Hữu T phải chịu chi phí đo đạc, định
giá và thẩm định các thửa đất liên quan đến yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận
là 46.468.800 đồng và ông T đã nộp xong.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: do sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương
Hữu T và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Yến N, nên nghĩa vụ chịu án phí dân s
thẩm được xác định lại, trong đó, ông Hồ Viết V không phải chịu án phí được
hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp; ông Thái T1, Nguyễn Thị H phải chịu án
phí tương ứng với số tiền phải trả cho ông V; ông Trương Hữu T Nguyễn Thị
Yến N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu công nhận các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Tuy nhiên, ông
Thái T1, bà Nguyễn Thị H ông Trương Hữu T người cao tuổi, đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Hồ Viết V không phải chịu án pdo kháng
cáo được chấp nhận; ông Trương Hữu T phải chịu án phí do bị bác kháng cáo nhưng
ông T người cao tuổi, đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
[14] Một phần đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật và
nhận định của Hi đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[15] Do yêu cầu khởi kiện của ông V căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của ông
V về việc duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng để đảm bảo thi hành án.
15
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309, Điều 147, Điều 148, Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 119, 122, 124, 131, 288, 463, 466, 500,
501 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân
Gia đình m 2014; Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai 2013; Điều 45 của Luật
Đất đai năm 2024; Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hữu T.
3. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Viết Vĩnh .
4. Sửa một phần Bản án dân sthẩm số 13/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh.
5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Viết V về việc tranh chấp hợp đồng
vay tài sản đối với ông Lý Thái T1 và bà Nguyễn Thị H:
Buộc ông Thái T1 Nguyễn Thị H nghĩa vụ liên đới thanh toán cho
ông Hồ Viết V stiền vay gốc còn nợ 8.415.000.000đ (tám tỷ bốn trăm mười lăm
triệu đồng).
6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu T đối với ông
Thái T1, Nguyễn Thị H, bà Thị T2 ông Hữu L về yêu cầu ông Thái
T1, bà Nguyễn Thị H, Lý Thị T2ông Lý Hữu L nghĩa vụ lập thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trương Hữu T tại các thửa đất số: 581, 582, 583,
584, 585, 586, 587 589 tbản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long
An, nay là xã V, tỉnh Tây Ninh.
7. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Yến N về việc công nhận
hiệu lực pháp luật của các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông
Thái T1, bà Nguyễn Thị H:
- Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý Thái T1, bà
Nguyễn Thị H với Nguyễn Thị Yến N đối với các thửa đất số 215, 317, 347, 759,
937, 938, 939, 940, 941 và 942, cùng tờ bản đồ số 26), đất tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh
Tây Ninh, hợp đồng được công chứng số 372, quyển số 01/2025TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 13/3/2025 tại Văn phòng C;
- hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06/11/2024
(không được công chứng, chứng thực) giữa ông Thái T1, bà Nguyễn Thị H với bà
Nguyễn Thị Yến N đối với các thửa đất số 589, 648, 820, 581, 585, 584, 582, 821, 652
583, cùng tờ bản đồ số 26 các thửa đất số 586, 587, 588 590 tờ bản đồ số 9,
đất tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
8. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2025/-
BPKCTT ngày 17/3/2025 Quyết định thay đổi, bổ sung quyết định áp dụng biện
16
pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân
huyện Tân Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh) về áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: phong tỏa tài sản quyền sử dụng đất do ông Lý
Thái T1 đứng tên tại các thửa đất số 581, 582, 583, 584, 585, 589, 648, 652, 820
821, cùng tờ bản đồ số 26 (thửa mới là các thửa số 215, 317, 347, 759, 937, 938, 939,
940, 941 và 942, cùng tờ bản đồ số 26) và các thửa đất số 586, 587, 588 và 590, cùng
tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
9. Về chi phí tố tụng:
9.1. Buộc bà Nguyễn Thị Hông Lý Thái T1 phải liên đới chịu toàn bộ và phải
nộp 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để hoàn trả tạm ứng cho ông Hồ Viết Vĩnh .
9.2. Buộc ông Trương Hữu T phải chịu tổng cộng là 46.468.800đ (bốn mươi sáu
triệu bốn trăm sáu mươi tám ngàn tám trăm đồng), ông T đã nộp và chi xong.
10. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án ca
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
11.1. Ông Lý Thái T1, Nguyễn Thị H và ông Trương Hữu T được miễn án phí
dân sự sơ thẩm.
11.2. Ông Hồ Viết V không phải chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả cho ông
Hồ Viết V số tiền 23.200.000đ (hai mươi ba triệu hai trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0001601 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tân Hưng, tỉnh Long An (nay Phòng thi hành án dân skhu vực 9 - Tây
Ninh).
11.3. Bà Nguyễn Thị Yến N phải chịu tổng cộng 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng),
nhưng được khấu trừ vào số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà N
đã nộp theo Biên lai số 0003347 ngày 22/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Nguyễn Thị Yến N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
12. Về án phí dân sự phúc thẩm:
12.1. Ông Hồ Viết V không phải chịu và được hoàn trả số tiền 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) tạm ứng án phí ông V đã nộp theo Biên lai thu số 0002917 ngày 06/02/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
12.2. Ông Trương Hữu T được miễn án phí.
13. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi
hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
17
14. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 9-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 9 - Tây Ninh
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 820/2026/DS-PT Bản án số 820/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 820/2026/DS-PT Bản án số 820/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất