Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 545/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 545/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nay ông Nguyễn Vinh T yêu cầu ông Lê Văn C và ông Nguyễn Ngọc B liên đới trả cho ông T số tiền vay 325.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 11/01/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 545/2026/DS-PT
Ngày: 24-6-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kim sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25/5/2026 ngày 24/6/2026, tại trụ sTòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp t xử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ số:
254/2026/TLPT-DS ngày 16/4/2026, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực T - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 976/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Vinh T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh
năm 1997 (có mặt); Địa chỉ: Số B, KDC X, ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp (theo
Hợp đồng ủy quyền ngày 04/3/2026).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật Phan
Thị T1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật tỉnh Đ (có mặt); Địa chỉ: Số C,
khóm H, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Lê Văn C, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Văn C: Ông Văn V,
sinh năm 1972 (có mặt); Địa chỉ: Ấp L, L, tỉnh Vĩnh Long (theo Giấy ủy
quyền ngày 20/5/2026).
2.2. Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1967 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người làm chứng:
3.1. Văn Hoàng M, sinh năm 1965 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Phạm Thị M1, sinh năm 1964 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: A N, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Vinh T trình bày: Do bạn quen biết nên
ngày 11/01/2025 ông T cho ông Văn C vay số tiền 325.000.000 đồng,
lập biên nhận vay tiền. Ông T đã giao số tiền 325.000.000 đồng cho ông C nhận
xong một lần bằng tiền mặt tại quán phê Công ty D, khi giao nhận tiền vay
chỉ ông T ông C, ngoài ra không ai khác chứng kiến. Theo thỏa thuận
ông C vay tiền mục đích để nhận chuyển nhượng thửa đất 300, tờ bản đồ số 9,
diện tích 765,6m
2
tọa lạc tại xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Về thời hạn vay
thỏa thuận 6 tháng (từ ngày 11/01/2025 đến ngày 11/7/2025), lãi suất thỏa
thuận miệng 3%/tháng. Khi vay ông C nói khi nhận chuyển nhượng đất sẽ
nhờ ông Nguyễn Ngọc B đứng tên dùm để ông B đứng ra vay tiền Ngân hàng
cho dễ, phía ông B cũng đồng ý nên sau đó ông B đã xác nhận cùng tên
vào biên nhận ngày 11/01/2025. Ông C nói khi thủ tục giấy tờ sang tên cho ông
B xong sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất cho ông T giữ coi
như thế chấp cho ông T để đảm bảo, do thời hạn vay ngắn nên không làm thủ
tục đăng ký thế chấp.
Ngày 10/02/2025 ông B được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện V xác nhận cho ông B đứng tên thửa 300 do nhận chuyển nhượng của
ông Nguyễn Thanh T2, sau đó ông C, ông B đã giao giấy chứng nhận QSD đất
bản chính cho ông T giữ để đảm bảo theo thỏa thuận. Tuy nhiên, khi đến thời
hạn 6 tháng trả tiền nhưng ông C không thực hiện trả cho ông T theo thỏa thuận,
về tiền lãi từ lúc vay đến nay ông C cũng không có đóng lãi lần nào cho ông T.
Đối với thửa đất 300 ông B đứng tên, sau đó do phát sinh tranh chấp
với chủ (ông Nguyễn Thanh T2 Văn Thị Ánh N), nên Tòa án nhân dân
Khu vực 1 - Vĩnh Long đã xét xtuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa
chủ với ông B, công nhận QSD đất thửa 300 cho chủ và tuyên chủ trả
lại cho ông B số tiền tổng cộng 385.852.333 đồng, hiện bản án đã hiệu lực
pháp luật đưa ra thi hành.
3
Nay ông Nguyễn Vinh T yêu cầu ông Văn C ông Nguyễn Ngọc B
liên đới trả cho ông T số tiền vay 325.000.000 đồng tiền lãi với lãi suất
0,83%/tháng từ ngày 11/01/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong.
Nguyên đơn không yêu cầu liên quan đến thửa đất 300. Ngoài ra,
nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn ông Văn C trình bày: Ông C với ông T, ông B mối quan
hệ quen biết nhau qua uống cà phê. Ông C không thừa nhận có vay của ông T số
tiền 325.000.000 đồng theo biên nhận ngày 11/01/2025 mà chỉ thừa nhận có vay
của ông T số tiền 20.000.000 đồng ngày 21/3/2025 để làm thủ tục vay Ngân
hàng, khi vay ông T đưa cho ông C mẫu Biên nhận vay tiền chưa điền nội
dung, khi đó ông T nói ông C lăn tay vào biên nhận ông T sẽ điền nội
dung sau, do tin tưởng nên ông C đồng ý.
Đối với biên nhận vay stiền 325.000.000 đồng ngày 11/01/2025 mà ông
T giao nộp ông C thừa nhận đúng biên nhận để trống nội dung trước đó
ông C đã lăn tay, khi ông T điền nội dung biên nhận không nói cho
ông C biết, đến ngày 28/8/2025 tại quán C1 (S) ông T đưa cho ông C xem
biên nhận đã điền tên họ của ông C vào bên vay, điền ngày tháng năm là
11/01/2025 và điền số tiền vay 325.000.000 đồng đã chữ lăn tay của
ông C trước đó nói ông C ký xác nhận thêm nhưng ông C không đồng ý
nữa không nhận số tiền 325.000.000 đồng của ông T. Ông C cũng
không thừa nhận việc ông T nói ông C vay tiền để nhận chuyển nhượng đất
Vĩnh Long rồi nhờ ông B đứng tên dùm.
Về số tiền ông C vay 20.000.000 đồng của ông T ngày 21/3/2025 thì ông
C đã trxong bằng chuyển khoản từ tài khoản của ông C mở tại Ngân hàng T3
(chuyển 10.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản ghi: chuyển mượn chạy giấy
Ngân hàng) và V1 (chuyển 20.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản ghi:
chuyển trả đủ tiền mượn giấy Ngân hàng) qua tài khoản của ông T mở tại Ngân
hàng M3.
Ông C không có tranh chấp với ông B, cũng không tranh chấp đối
với số tiền 385.852.333 đồng ông B được tuyên trả trong vụ án Tòa án
nhân dân Khu vực 1 - Vĩnh Long theo bản án số 191 ngày 29/9/2025, theo ông
C số tiền này ông B nhận sẽ đưa lại hết toàn bộ cho ông T nhận coi nthỏa
thuận xong tranh chấp. Nay ông C không đồng ý trả số tiền 325.000.000 đồng và
lãi theo yêu cầu khởi kiện của ông T. Ngoài ra, ông C không yêu cầu nào
khác.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc B trình bày: ông B với ông T, ông C quen biết
nhau qua làm ăn. Ông B hoàn toàn không liên quan về tiền bạc với ông T
mà việc giao dịch tiền bạc chỉ giữa ông T với ông C. Ông B thừa nhận biên nhận
vay tiền ngày 11/01/2025 nội dung xác nhận nội dung trên đúng sự thật,
Sa Đéc ngày 23/9/2025” do ông B và viết ra. Thửa đất 300 ông B đứng
4
tên dùm cho ông C mục đích để vay tiền Ngân hàng ông B sẽ nhận hoa hồng
0,3% trên số tiền vay được từ Ngân hàng. Tuy nhiên, sau đó không vay được
tiền Ngân hàng do ông T2 (chủ đất cũ) có tranh chấp Tòa án nhân dân Khu
vực 1 - Vĩnh Long và Tòa án xét xử hiệu hợp đồng chuyển nhượng, trong vụ
án đó ông B tham gia tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu
cầu độc lập, hiện bản án đã hiệu lực pháp luật. Theo bản án đã tuyên buộc
ông T2, N, M1 trả cho ông B số tiền tổng cộng 385.852.333 đồng, hiện
chưa được thi hành án. Theo ông B toàn bộ số tiền này (385.852.333 đồng) khi
ông B được thi hành án sẽ đưa lại cho ông T coi như hết tranh chấp giữa các
bên.
Do đó, ông B không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, ông B không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực T - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Vinh T.
- Buộc ông Lê Văn C và ông Nguyễn Ngọc B liên đới trả cho ông Nguyễn
Vinh T số tiền vốn 325.000.000 đồng và lãi 33.988.500 đồng, tổng cộng vốn, lãi
358.988.500 đồng (ba trăm năm mươi tám triệu chín trăm tám ơi tám nghìn
năm trăm đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà
người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho
đến khi thi hành án xong.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 12/02/2026 bị đơn ông Văn C nộp đơn
kháng o đngày 10/02/2026 đkháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn ông Văn C ủy quyền cho ông Văn V đại diện trình bày:
Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Văn C về việc hủy
toàn bộ bản án thẩm để xét xử lại. Bởi các do như: a án cấp thẩm vi
phạm trong việc lấy lời khai, đối chất giữa đại diện nguyên đơn với bị đơn theo
quy định tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự, lẽ ra đối chất được thực hiện giữa
các đương sự với nhau, không phải giữa người đại diện theo ủy quyền với đương
sự; bỏ sót người liên quan tham gia trong vụ án như ông Văn Hoàng M,
Phạm Thị M1, vợ chồng ông Nguyễn Thanh T2, bà Văn Thị Thanh N1 là chủ tài
sản liên quan trực tiếp giao dịch vay mượn tiền trong vụ án vi phạm các Điều
5
68, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Văn Hoàng M tham gia phiên tòa nhằm mục
đích làm hai nội dung: Thứ nhất, xác định ông M góp vốn trong số tiền
325.000.000 đồng hay không?; thứ hai, ông Minh xác N2 rằng việc ông T cho
ông C vay số tiền 325.000.000 đồng giao tiền mặt tại quán phê Công ty D
là không xảy ra, vì theo ông M thì ông T đã giao tiền cho ông M tại quán cà phê
N3, gần Văn phòng C2, để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
ông Nguyễn Thanh T2, Văn Thị Ánh N sang Phan Thị M2. Ngoài ra, số
tiền giao dịch thực tế là 300.000.000 đồng, chứ không phải là 325.000.000 đồng.
Sau khi ông T ghi số tiền 325.000.000 đồng vào biên nhận thì ông M không
đồng ý. M2 là người trực tiếp nhận tiền, việc giao nhận tiền được thực hiện
02 lần, tổng stiền khoảng 300.000.000 đồng, việc này M2 ng văn bản
xác nhận gửi Hội đồng xét xử. Vụ án này không đơn thuần chỉ là quan hệ vay tài
sản giữa ông C và ông T mà còn liên quan đến quyền lợi của nhiều người, trong
đó có ông M bị ảnh hưởng quyền lợi số tiền 60.000.000 đồng. Ông M đã đề nghị
được tham gia tố tụng, nếu Hội đồng xét xử hủy án thẩm thì đề nghị đưa ông
M tham gia ván để bảo vquyền lợi ích hợp pháp; mặt khác theo Điều 463
Bộ luật Dân sự, hợp đồng vay tài sản thể hiện việc bên cho vay giao tài sản cho
bên vay, nên ông T phải nghĩa vụ chứng minh việc đã giao tiền cho ông C,
không thể chuyển nghĩa vụ chứng minh sang cho ông C.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông C, hủy bản
án thẩm, giao hồ về Tòa án nhân dân Khu vực T - Đồng Tháp để giải
quyết lại theo quy định.
- Luật Phan Thị T1 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
nguyên đơn ông Nguyễn Vinh T trình bày: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đặc biệt Biên
nhận vay tiền ngày 11/01/2025 có chữ ký, dấu lăn tay của ông C. Ông C cho
rằng chỉ vào giấy trắng, không nội dung nhưng không đưa ra được chứng
cứ chứng minh. Sau thời điểm ký biên nhận, trong thời gian dài ông C không
ý kiến phản đối, khiếu nại hoặc yêu cầu giải quyết về việc này. Đối với ông B,
thừa nhận trực tiếp ký xác nhận vào biên nhận, biết nội dung giao dịch, đứng
tên giúp ông C nhận chuyển nhượng thửa đất số 300 giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông T giữ. Ông B cũng không kháng cáo đối với bản
án sơ thẩm. Như vậy, có đủ căn cứ xác định giữa ông C và ông T có xác lập giao
dịch vay tài sản. Vụ án này chỉ là tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông C và
ông T, không liên quan đến các giao dịch khác. Việc đưa thêm người tham gia tố
tụng là không cần thiết. Việc ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được
chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là không có căn cứ.
vậy, căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6
- Nguyên đơn ông Nguyễn Vinh Thành ủy Q cho chị Nguyễn Ngọc H đại
diện trình bày: Thống nhất với ý kiến của Luật sư. Chị H xin bổ sung việc người
đại diện theo y quyền của ông C cho rằng cần hủy bản án thẩm do không
thực hiện đối chất giữa các đương sự. Tuy nhiên, việc ủy quyền của ông T cho
người đại diện là ủy quyền toàn quyền quyết định trong phạm vi vụ án, nên việc
đối chất giữa người đại diện đương sự không làm ảnh hưởng đến việc giải
quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C thc hiện đúng
quy định và hp l theo quy định của Bộ luật Ttụng dân sự. Về việc tuân theo
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư những người tham gia tố tụng từ khi thụ vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã thc hin đúng, đầy đủ quyền nghĩa
v tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Văn C; giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực T - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
930/PB-VKS-DS ngày 24/6/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực T - Đồng Tháp thụ lý giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đúng quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự vquan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x
thẩm bị đơn ông Lê Văn C không thng nhất bản án thẩm nên đã kháng cáo.
Vic ông C kháng cáo vào ngày 12/02/2026 là trong thi hn kháng cáo theo
quy đnh tại Điều 273 B lut T tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo
th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm bà Phạm Thị M1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt, còn ông Nguyễn Ngọc B vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy định
tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Vinh T cho rằng ông cho
ông Văn C vay stiền 325.000.000 đồng; ông C biên nhận vay tiền
7
ngày 11/01/2025; mục đích ông C vay tiền để nhận chuyển nhượng đất; thời hạn
vay các bên thỏa thuận 6 tháng (từ ngày 11/01/2025 đến ngày 11/7/2025); lãi
suất thỏa thuận 3%/tháng. Khi vay ông C nói sẽ nhờ ông Nguyễn Ngọc B
đứng tên dùm khi nhận chuyển nhượng đất để ông B đứng ra vay tiền Ngân
hàng cho dễ, phía ông B cũng đồng ý nên sau đó ông B đã xác nhận và cùng
tên vào biên nhận ngày 11/01/2025. Ông T yêu cầu ông C và ông B liên đới trả
cho ông T stiền vay 325.000.000 đồng tiền lãi với lãi suất 0,83%/tháng từ
ngày 11/01/2025 đến khi Tòa án giải quyết xong.
Bị đơn ông Văn C cho rằng ông không vay của ông T số tiền
325.000.000 đồng theo biên nhận ngày 11/01/2025 mà chỉ vay của ông T số
tiền 20.000.000 đồng ngày 21/3/2025 để làm thtục vay Ngân hàng, khi vay
ông T có đưa cho ông C mẫu Biên nhận vay tiền chưa điền nội dung, khi đó ông
T i ông C lăn tay vào biên nhận ông T sẽ điền nội dung sau, do tin
tưởng nên ông C đồng ý. Về số tiền ông C vay 20.000.000 đồng của ông T ngày
21/3/2025 thì ông C đã trả xong bằng việc chuyển khoản cho ông T, nên không
thống nhất theo khởi kiện của ông T. Còn bị đơn ông Nguyễn Ngọc B cho rằng
ông không liên quan đến việc giao dịch vay tiền giữa ông T với ông C; ông B
thừa nhận ông xác nhận vào biên nhận vay tiền ngày 11/01/2025 nội
dung “xác nhận nội dung trên là đúng sự thật, Sa Đéc ngày 23/9/2025”; thửa đất
300 ông B đứng tên dùm cho ông C mục đích để vay tiền Ngân hàng để được
hưởng hoa hồng nhưng sau đó có tranh chấp đất nên không vay được tiền Ngân
hàng. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Văn C yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Ông Văn C thừa nhận chữ ký tên, chữ viết họ tên “Lê Văn C” và dấu
lăn tay tại vị trí phía dưới cùng mặt trước của biên nhận ngày 11/01/2025 và chữ
tên, chữ viết họ tên “Lê Văn C” dấu lăn tay tại vị trí Bên B (bên vay) phía
dưới cùng mặt sau của biên nhận cùng dòng chữ “Tôi đã đọc và hiểu rõ đồng
ý” do ông C tviết và lăn tay vào biên nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm ông C
cho rằng ng điện thoại chụp lại biên nhận ngày 11/01/2025 sau khi ông
tên vào biên nhận đưa cho ông T; theo hình ảnh biên nhận ngày 11/01/2025
ông C đã chụp được in ra, đối chiếu với bản gốc biên nhận ngày 11/01/2025 do
ông T cung cấp tbản gốc biên nhận chỉ bsung thêm thông tin về ngày sinh,
CCCD, HKTT của ông C nội dung xác nhận của ông B ngày 23/9/2025, còn
các nội dung khác của biên nhận không thay đổi, trong đó thể hiện nội
dung ông C đã vay của ông T số tiền 325.000.000 đồng.
- Việc ông C cho rằng ông tên lăn tay vào biên nhận để trống, cũng
như chỉ thừa nhận vay của ông T số tiền 20.000.000 đồng nhưng ông không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình là có cơ sở,
mặt khác việc này cũng không được sthống nhất của ông T. Ngoài ra, số tiền
20.000.000 đồng ông C thừa nhận vay ông T vào ngày 21/3/2025, trong khi số
8
tiền 325.000.000 đồng ông T tranh chấp theo biên nhận ngày 11/01/2025, đây là
hai giao dịch khác nhau.
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Ngọc B
nghĩa vụ liên đới cùng ông C trả nợ. Xét thấy, mặc trong biên nhận vay
tiền ngày 11/01/2025 ông B không phải bên vay tiền, nhưng ông B thừa nhận
do quen biết nên đồng ý đứng tên dùm quyền sử dụng đất cho ông C để ởng
hoa hồng khi vay tiền Ngân hàng, trong khi nguồn gốc tiền chuyển nhượng đất
do ông C vay của ông T. Do đó, trong biên nhận vay tiền ngày 11/01/2025
ông B viết “xác nhận nội dung trên đúng sự thật, Sa Đéc ngày 23/9/2025”.
Thực tế sau khi ông C vay được tiền của ông T thì ông B hợp đồng nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 300 của ông Nguyễn Thanh T2, do
phát sinh tranh chấp đã được Tòa án nhân n Khu vực 1 - Vĩnh Long xét xử
theo bản án dân sự thẩm số 191/2025/DSST ngày 29/9/2025 tuyên hiu
hợp đồng chuyển nhượng tuyên ông B được nhận lại số tiền tổng cộng
385.852.333 đồng (bản án đã hiệu lực pháp luật), ngoài ra ông B xác định
không phải tiền của ông B tiền của ông T, khi ông B được thi hành án
đồng ý giao lại hết cho ông T nhận, nội dung này ông C cũng không phản đối
đồng ý theo ý kiến ông B ông C không có tranh chấp số tiền này. Do đó,
sở xác định giữa ông T ông C có xác lập giao dịch dân sự về việc vay
tiền, bên cho vay là ông T, bên vay ông C đối với số tiền vay là 325.000.000
đồng, mục đích vay để ông C lấy tiền chuyển nhượng đấttỉnh Vĩnh Long, cho
đến nay ông C chưa thanh toán cho ông T số tiền này.
- Đối với trình bày của ông n Hoàng M cho rằng đưa cho ông T số
tiền 60.000.000 đồng, còn ông T đưa số tiền 240.000.000 đồng, tổng cộng
300.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng QSD đất, ông M không trực tiếp
chứng kiến việc các bên ký biên nhận ngày 11/01/2025. Xét trình bày của ông M
không đủ n cứ chứng minh ông liên quan đến quan hệ vay tiền giữa ông T
với ông C, ông B trong vụ án này, nên Tòa ánthẩm không đưa ông và những
người khác như bị đơn trình bày để tham gia ttụng là cơ sở, không xem là
vi phạm nghiêm trọng tố tụng để hủy án. Trường hợp các bên tranh chấp liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền khởi kiện bằng vụ án
khác.
- Về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với số tiền 325.000.000 đồng x
0,83%/tháng x 12 tháng 18 ngày = 33.988.500 đồng, xét là phù hợp với quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nên Tòa án cấp thẩm chấp nhận là
căn cứ.
Từ sở trên, cho thấy việc Tòa án cấp thẩm buộc ông Văn C
ông Nguyễn Ngọc B có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Vinh T số tiền vốn
325.000.000 đồng lãi 33.988.500 đồng, tổng cộng vốn, lãi 358.988.500 đồng
là có căn cứ. Việc ông C cho rằng Tòa án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng cũng như vi phạm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ giải quyết vụ
9
án nên yêu cầu hủy bản án thẩm, tuy nhiên ông C không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa bị đơn ông Lê Văn C vẫn giữ yêu cầu kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày
của ông C không đủ căn cứ, đồng thời bị đơn cũng không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình sở như đã
phân tích trên, nên kháng cáo của ông C không được Hội đồng xét xchấp
nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca ông Lê Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Lê Văn C không được chấp nhận,
nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực T - Đồng Tháp.
3. Án phí dân s phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Ông Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ
vào số tiền tạm ứng án pmà ông C đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002778, ngày 25/02/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
10
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc T - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc T - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất