Bản án số 238/2026/KDTM-PT ngày 24/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 238/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 238/2026/KDTM-PT ngày 24/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 238/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty D- Công ty L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 238/2026/KDTM-PT Bản án số 238/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 238/2026/KDTM-PT Bản án số 238/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 238/2026/KDTM-PT
Ngày: 24-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thanh Trúc;
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh ( sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh
doanh, thương mại thụ số 134/2026/TLPT-KDTM ngày 13 tháng 4 năm 2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”,
Do Bản án kinh doanh, thương mại thẩm 33/2026/KDTM-ST ngày 02
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3275/2026/QĐ-PT ngày
19/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Mt thành viên C; số doanh nghiệp:
5901093464; địa chỉ: thôn B, T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay Đ, tỉnh Gia
Lai).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Thị Hồng N, sinh năm
1985 Thị Thúy K, sinh năm 2001; địa chỉ: số D, đường số F, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền; N mặt, bà K
vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH S; số doanh nghiệp: 3703006498; địa chỉ:
Thửa đất số 480, tờ bản đồ số 08, đường B, khu phố K, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Thế A, sinh năm 1976; nơi
trú: 77, đường N, Khu dân P, Tổ G, khu G, phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh, là người đại diện theo ủy quyền; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo, kháng nghị: Bị đơn Công ty TNHH S Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình ttụng, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày:
Giữa Công ty TNHH Một thành viên C (nguyên đơn) và Công ty TNHH S
(bị đơn) đã giao kết 06 Hợp đồng kinh tế về việc mua bán gỗ phôi cao su từ
tháng 12/2022 cho đến tháng 10/2023. Hàng hóa là gỗ phôi cao su sấy; hợp
đồng cũng các điều khoản về quy cách, chất lượng hàng hóa. Phương thức
thanh toán chuyển khoản; thời gian thanh toán là khi có biên bản giao nhận hàng
hoá đơn tài chính, thời gian thanh toán chậm nhất 30 ngày kể từ ngày bị
đơn nhận hàng.
Tính đến ngày 15/04/2024, tổng số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn
1.362.091.437 đồng (một tỷ ba trăm sáu mươi hai triệu không trăm chín mươi
mốt nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng). Số tiền này được xác nhận theo Biên
bản thỏa thuận về việc cam kết thu hồi công nợngày 15/4/2024 chữ xác
nhận của người đại diện theo pháp luật của hai công ty, đồng thời bị đơn cam kết
thanh toán dứt điểm khoản công nợ này trước ngày 30/9/2024.
Nguyên đơn sau đó đã nhiều lần chủ động làm việc, đôn đốc tạo mọi
điều kiện để bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nhưng phía bị đơn vẫn thiếu thiện
chí, liên tục trì hoãn không thực hiện cam kết đã đưa ra. Đến nay, bị đơn chỉ
mới thanh toán cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng. Xét thấy hành vi
chậm thanh toán này xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, tác
động trực tiếp đến dòng tiền vận hành của nguyên đơn.
Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình Công ty TNHH Một thành
viên C yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh giải
quyết những vấn đề sau:
Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành
viên C khoản nợ 1.625.085.993 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc: 1.262.091.437
đồng và tiền lãi là:
T
T
Hợp
đồng
Số tiền
chậm
thanh toán
Số năm
Số tiền lãi
chậm thanh
toán
Từ ngày
Đến ngày
1
162/202
2
105.272.373
đ
28/12/20
22
02/3/2026
3 năm 2
tháng 2
33.456.425đ
3
Buộc Công ty TNHH S1 một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Bị đơn
thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quá trình kết thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa. Xác nhận còn nợ số tiền hàng là 1.262.091.437 đồng.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến của đương sự ngày 18/12/2025, bị đơn thống nhất
với số ntrên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý thanh toán cho
nguyên đơn số tiền theo yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế của bị
đơn đang rất khó khăn, không khả năng thanh toán số tiền trên 1 lần cho
nguyên đơn. Bị đơn đưa ra phương án thanh toán là mỗi tháng sẽ trả cho nguyên
đơn 200.000.000 đồng vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 25/01/2026 cho
đến khi hết số nợ. Tuy nhiên nguyên đơn không đồng ý. Tại phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 19/01/2026, bị đơn
xác nhận đồng ý trả tiền nợ gốc, không đồng ý trả tiền lãi vì giữa nguyên đơn và
bị đơn không có thoả thuận về việc thanh toán lãi suất.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số 33/2026/KDTM-ST ngày
02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí
Minh, đã tuyên xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành
viên C với bị đơn Công ty TNHH S về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa”.
Buộc Công ty TNHH S hoàn trả cho Công ty TNHH Một thành viên C số
tiền 1.625.085.993 đồng (một tỷ sáu trăm hai mươi lăm triệu không trăm m
ngày
2
7/2023
301.193.970
đ
18/02/20
23
02/3/2026
3 năm 14
ngày
91.430.937đ
3
39/2023
276.282.276
đ
11/07/20
23
02/3/2026
2 năm 7
tháng 20
ngày
73.044.492đ
4
62/2023
306.154.512
đ
30/08/20
23
02/3/2026
2 năm 6
tháng 4
ngày
76.748.323đ
5
66/2023
130.258.206
đ
02/10/20
23
02/3/2026
2 năm 5
tháng
31.476.093đ
6
72A/20
23
242.927.100
đ
30/10/20
23
02/3/2026
2 năm 4
tháng 2
ngày
56.838.286đ
TỔNG TIỀN LÃI CHẬM THANH TOÁN
362.994.556
đ
4
mươi lăm nghìn chín trăm chín mươi ba đồng), trong đó: Số tiền nợ gốc
1.262.091.437 đồng và tiền lãi là 362.994.556 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06 tháng 3 năm 2026 bị đơn Công ty TNHH S kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm đối với phần tính lãi suất chậm trả.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh Quyết định kháng nghị số 55/QĐ-VKS-KDTM, yêu cầu
Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm đối với phần tính lãi chậm trả.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định kháng nghị. Nguyên đơn vẫn ginguyên
yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc, về tiền lãi chậm trả nguyên đơn đồng ý
khấu trừ 100.000.000 đồng tiền gốc của hợp đồng đầu tiên để làm căn cứ xác
định lãi chậm trả, đối với việc tính lãi chậm trả của các hợp đồng khác nguyên
đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn có văn bản giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định thời điểm tính
lãi chậm thanh toán không phù hợp với thỏa thuận của các bên. Công ty C
Công ty S đã kết 06 hợp đồng mua bán gỗ phôi cao su từ tháng 12/2022 đến
tháng 10/2023. Theo các hợp đồng, thời hạn thanh toán chậm nhất là 30 ngày kể
từ ngày bên mua nhận hàng. Tuy nhiên, ngày 15/4/2024, các bên đã lập Biên
bản thỏa thuận về việc cam kết thu hồi công nợ, trong đó Công ty S cam kết
thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ chậm nhất vào ngày 30/9/2024. Đây là sự thỏa
thuận mới nhằm xác định lại thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay thế
thời hạn thanh toán theo các hợp đồng trước đó. Do vậy, thời điểm phát sinh
nghĩa vụ chậm thanh toán phải được xác định kể từ ngày hết thời hạn đã được
gia hạn, tức từ ngày 01/10/2024. Việc Hội đồng xét xử thẩm xác định thời
điểm chậm thanh toán theo thời hạn của từng hợp đồng và tính lãi từ các thời
điểm trong năm 2022, 2023 không phợp với thỏa thuận của các bên, chưa
bảo đảm nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận.
Hội đồng xét xử thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu tính lãi của nguyên
đơn trên số tiền nợ gốc không căn cứ tài liệu trong hồ vụ án lời
trình bày thống nhất của các bên tại phiên tòa thẩm, Công ty S đã thanh toán
cho Công ty C số tiền 100.000.000 đồng. Do đó, số tiền nợ gốc thực tế còn lại là
1.262.091.437 đồng.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thẩm vẫn tính lãi chậm thanh toán trên
toàn bộ số tiền 1.362.091.437 đồng đến thời điểm xét x thẩm (ngày
02/3/2026) không khấu trừ khoản tiền 100.000.000 đồng bị đơn đã thanh
5
toán trước đó. Việc xác định như vậy không phù hợp với tình tiết khách quan
của vụ án, dẫn đến việc xác định nghĩa vụ thanh toán của bị đơn không chính
xác.
Xét ý kiến của bị đơn đưa ra phương án trả dần mỗi tháng 200.000.000
đồng vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu thanh toán từ ngày 25/01/2026 cho đến
khi hết số nợ trên. Tuy nhiên, không được nguyên đơn chấp nhận nên không
căn cứ bắt buộc phải chấp nhận.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án
thẩm đối với phần tiền lãi bị đơn có nghĩa vụ thanh toán.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định và quyết định
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
được thực hiện đúng thẩm quyền thời hạn theo quy định tại Điều 272, Điều
273, Điều 288, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân snên đủ điều kiện để thụ
xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt nên Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định
tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bị đơn thừa nhận nợ gốc và kháng cáo
phần lãi chậm thanh toán, đồng thời Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về việc tính lãi trên nợ
gốc thời gian tính lãi chậm thanh toán, do đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem
xét lại phần bản án thẩm kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều
293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các bên đương sự thống nhất thừa nhận ttháng 12/2022 cho đến
tháng 10/2023, hai bên nguyên đơn và bị đơn đã kết 06 Hợp đồng kinh tế về
việc mua bán gỗ phôi cao su, nội dung thỏa thuận về việc mua bán gỗ phôi cao
su sấy, quy cách, chất lượng hàng hóa, phương thức, thời gian thanh toán. Đến
ngày 15/4/2024, hai bên kết “Biên bản thỏa thuận về việc cam kết thu hồi
công nợ”. Sau khi ký thỏa thuận, bị đơn thanh toán cho nguyên đơn
100.000.000 đồng, số tiền còn lại là 1.262.091.437 đồng bị đơn chưa thanh toán.
Sự thừa nhận nêu tn những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo
quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
6
[2.2] Xét kháng cáo của bị đơn kháng nghị của Viện kiểm sát thấy
rằng:
[2.2.1] Bị đơn kháng cáo không đồng ý với bản án thẩm về việc buộc
bị đơn phải thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán 362.994.556 đồng cho
rằng việc xác định thời điểm tính lãi, phương pháp tính lãi số tiền lãi của cấp
sơ thẩm tính là không bảo đảm đúng quy định pháp luật.
[2.2.2] Bị đơn cho rằng theo các hợp đồng đã kết, thời hạn chậm nhất
30 ngày kể từ ngày bị đơn nhận hàng và nhận đầy đủ hồ sơ thanh toán theo thỏa
thuận nhưng Tòa án lại tính lãi kể từ ngày xuất hóa đơn chưa làm ngày
giao hàng thực tế, ngày bđơn nhận đầy đủ chứng từ và thời điểm hết hạn thanh
toán.
[2.2.3] Viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu tính thời điểm tính lãi từ ngày
01/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm trên số nợ gốc 1.262.091.437 đồng.
[2.3] Xem xét nội dung các hợp đồng hai bên đã kết thấy rằng: tại Hợp
đồng kinh tế (v/v mua bán gỗ phôi cao su) ngày 23/12/2022, khoản 3 Điều 3
nội dung Bên B thanh toán tiền hàng cho Bên A khi có biên bản giao nhận hàng
hóa và hóa đơn tài chính Bên A xuất cho Bên B, thời gian thanh toán chậm nhất
30 ngày kể từ ngày bên B nhận được hàng. Các Hợp đồng số 07/2023/HĐKT
ngày 14/02/2023, Hợp đồng kinh tế số 39/2023/HĐKT ngày 08/7/2023, Hợp
đồng kinh tế số 62/2023/HĐKT ngày 29/8/2023, Hợp đồng kinh tế số
66/2023/HĐKT ngày 25/9/2023, tại khoản 3 Điều 3 của các Hợp đồng nêu trên
về thời gian thanh toán: bên B thanh toán tiền hàng cho bên A khi biên bản
giao nhận hàng hóa và hóa đơn tài chính bên A xuất cho bên B”. Theo Hợp đồng
kinh tế số 72A/2023/HĐKT ngày 21/10/2023, tại khoản 3 Điều 3 của Hợp đồng
về thời gian thanh toán: bên B thanh toán tiền hàng cho bên A khi biên bản
giao nhận hàng hóa hóa đơn tài chính bên A xuất cho bên B chậm nhất ngày
30/10/2023”. Như vậy, theo thỏa thuận của các hợp đồng nêu trên thì thời gian
thanh toán khi biên bản bàn giao hàng hóa hóa đơn tài chính hoặc chậm
nhất 30 ngày khi có biên bản bàn giao và hóa đơn tài chính.
[2.4] Xem xét các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp liên quan đến việc
giao nhận hàng và xuất hóa đơn thấy rằng, tại các bút lục số 47 (Biên bản giao
nhận gỗ phôi cao su ngày 24/10/2023), bút lục số 53 (Biên bản giao nhận gỗ
phôi cao su ngày 02/10/2023), bút lục số 60 (Biên bản giao nhận gỗ phôi cao su
ngày 30/8/2023), bút lục số 67 (Biên bản giao nhận gỗ phôi cao su ngày
11/7/2023), bút lục số 74 (Biên bản giao nhận gỗ phôi cao su ngày 18/02/2023),
bút lục số 79 (Biên bản giao nhận gỗ phôi cao su ngày 28/12/2022) chỉ thể hiện
chữ ký của bên giao hàng, còn bên nhận hàng có thể hiện mộc dấu bán hàng qua
điện thoại chữ của người vận chuyển. Như vậy, nguyên đơn không
chứng minh được thời gian giao nhận hàng thời gian giao nhận hóa đơn giữa
hai bên thực tế vào thời điểm nào, do đó, không có cơ sở để xác định căn cứ vào
khoản 3 Điều 3 của các hợp đồng để xác định thời điểm thanh toán.
[2.5] Xem xét các chứng cứ lời trình bày của các bên đương strong
quá trình xét xử thẩm, phúc thẩm thấy rằng: Bị đơn thừa nhận nợ nguyên
7
đơn tiền hàng theo các hợp đồng đã ký, không khiếu nại về số lượng, chất
lượng giá trị hàng hóa, nguyên đơn đã các Văn bản số 27/TB-CBG ngày
29/9/2023 “v/v thu hồi công nợ lần 1-2023”, số 47/TB-CBG ngày 13/11/2023
“v/v thu hồi công nợ lần 2-2023”, số 10/TB-CBG ngày 09/01/2024 v/v thu hồi
công nợ lần 3” s18/TB-CBG ngày 05/7/2024 “v/v thu hồi công nợ lần 4”
yêu cầu b đơn thanh toán tiền hàng còn nợ của 06 hợp đồng nhưng bị đơn
không thực hiện (bút lục 86-89). Đến ngày 15/4/2024, nguyên đơn bị đơn
kết Biên bản thỏa thuận về việc cam kết thu hồi công nợ (bút lục 91-92) với nội
dung xác định số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.362.091.437 đồng, bị đơn
cam kết thanh toán dứt điểm công nợ cho nguyên đơn với số tiền 1.362.091.437
đồng chậm nhất ngày 30 tháng 9 năm 2024, cụ thể thực hiện lộ trình trả nợ như
sau:
Ngày 01/5/2024, số tiền sẽ trả là 150.000.000 đồng.
Ngày 01/6/2024, số tiền sẽ trả là 300.000.000 đồng.
Ngày 01/7/2024, số tiền sẽ trả là 300.000.000 đồng.
Ngày 01/8/2024, số tiền sẽ trả là 300.000.000 đồng.
Ngày 01/9/2024, số tiền sẽ trả là 312.091.437 đồng.
[2.6] Bị đơn thừa nhận tính đến thời hạn cam kết nêu trên bị đơn vẫn chưa
thanh toán cho nguyên đơn, sau ngày 30/9/2024 bị đơn mới thanh toán cho
nguyên đơn 100.000.000 đồng vào các ngày 25/3/2025: thanh toán 10.000.000
đồng, ngày 09/5/2025: thanh toán 20.000.000 đồng, ngày 31/10/2025: thanh
toán 70.000.000 đồng. Số tiền còn lại bị đơn chưa thanh toán 1.262.091.437
đồng.
[2.7] Xét nội dung Biên bản ngày 15/4/2024 được xác lập giữa nguyên
đơn với bị đơn thể hiện việc nguyên đơn bị đơn đã thống nhất với nhau lộ
trình thanh toán chậm nhất đến ngày 30/9/2024 bị đơn phải thực hiện thanh toán
xong số tiền 1.362.091.437 đồng theo ltrình cụ thể từng số tiền theo thời điểm
xác định như đã nêu trên. Đây là căn cứ để xác định lại thời hạn bị đơn thực hiện
nghĩa vụ thanh toán thay thế cho điều khoản thanh toán tại các hợp đồng. Do đó,
các ngày theo lộ trình thanh toán do các bên thỏa thuận được xác định là ngày bị
đơn nghĩa vụ thanh toán. Sau khi thỏa thuận ngày 15/4/2024, bị đơn đã
thanh toán cho nguyên đơn được 03 lần: ngày 25/3/2025 thanh toán 10.000.000
đồng, ngày 09/5/2025 thanh toán 20.000.000 đồng ngày 31/10/2025 thanh
toán 70.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp
thẩm tính tiền lãi chậm trả từ ngày xuất hoá đơn của từng hợp đồng cho đến
ngày xét xử sơ thẩm là chưa phù hợp với thỏa thuận tại biên bản ngày 15/4/2024
diễn biến thực tế bị đơn thực hiện nghĩa vthanh toán. Tại phiên tòa phúc
thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu tính từ ngày xuất hóa đơn
nhưng không chứng cứ chứng minh thời điểm giao nhận hàng giữa hai bên,
do đó, chỉ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc tính lãi chậm trả trên số nợ gốc sở chấp nhận kháng cáo của bị
8
đơn, Hội đồng xét xử tính lại lãi chậm trả trên số nợ gốc phù hợp với thỏa thuận
theo lộ trình từng thời điểm hai bên thỏa thuận trong biên bản ngày 15/4/2024.
[2.8] Về lãi suất: nguyên đơn bị đơn đều tổ chức đăng kinh
doanh, giao dịch giữa hai bên mục đích lợi nhuận nên thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật Thương mại. Do đó, lãi suất chậm trả áp dụng theo Điều 306
Luật Thương mại.
[2.9] Theo xác minh của Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện: Mức lãi suất cho
vay trong hạn tại Ngân hàng N1 là từ 4%/năm đến 10,5%/năm, lãi suất cho vay
quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn tương đương từ 6%/năm đến
15,75%/năm, trung bình lãi suất quá hạn bằng 10,88%/năm; Ngân hàng Thương
mại Cổ phần S2 từ 12%/năm đến 12,5%/năm, lãi suất cho vay quá hạn bằng
150% của lãi suất trong hạn tương đương từ 18%/năm đến 18,75%/năm, trung
bình lãi suất quá hạn bằng 18,38%/năm; lãi suất quá hạn của Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Đ là từ 8,4%/năm đến 14,4%/năm, trung bình lãi suất quá hạn bằng
11,4%/năm. Như vậy, lãi suất quá hạn trung bình của ba ngân hàng nêu trên
13,55%/năm. Nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất 10%/năm là thấp hơn lãi suất
quá hạn trung bình ba ngân hàng nêu trên là có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận mức lãi suất 10% là phù hợp.
[2.10] Về số tiền tính lãi và thời gian chậm trả được xác định như sau:
Theo như phân tích tại các mục [2.5], [2.6], bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ
thanh toán đối với nguyên đơn số tiền 1.362.091.437 đồng, sau đó bị đơn đã
thanh toán cho nguyên đơn 03 lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng thực
hiện sau ngày cuối cùng bị đơn nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nngày
30/9/2024. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của tất cả các đợt thanh
toán nên được chuyển qua thành nquá hạn. Như vậy, tiền nợ gốc thời gian
tính lãi được xác định lại theo diễn biến thực tế thực hiện thỏa thuận, cụ thể:
- Ngày 01/5/2024, số tiền bị đơn nghĩa vụ thanh toán 150.000.000
đồng nhưng không thực hiện nên thời gian tính lãi quá hạn của số tiền này tính
từ ngày 02/5/2024 đến ngày 02/3/2026 01 năm 10 tháng, số tiền lãi bị đơn
phải thanh toán là: 150.000.000 đồng x 01 năm 10 tháng x 10%/năm =
27.500.000 đồng (1).
- Ngày 01/6/2024 số tiền bị đơn nghĩa vụ thanh toán 300.000.000
đồng nhưng không thực hiện nên thời gian tính lãi quá hạn của số tiền này tính
từ ngày 02/6/2024 đến ngày 02/3/2026 là 01 năm 9 tháng, số tiền lãi bị đơn phải
thanh toán là: 300.000.000 đồng x 01 năm 9 tháng x 10%/năm = 52.500.000
đồng (2).
- Ngày 01/7/2024 số tiền bị đơn nghĩa vụ thanh toán 300.000.000
đồng nhưng không thực hiện nên thời gian tính lãi quá hạn của số tiền này tính
từ ngày 02/7/2024 đến ngày 02/3/2026 là 01 năm 8 tháng, số tiền lãi bị đơn phải
thanh toán là: 300.000.000 đồng x 01 năm 8 tháng x 10%/năm = 50.000.000
đồng (3).
9
- Ngày 01/8/2024 số tiền bị đơn nghĩa vụ thanh toán 300.000.000
đồng nhưng không thực hiện nên thời gian tính lãi quá hạn của số tiền này tính
từ ngày 02/8/2024 đến ngày 02/3/2026 là 01 năm 7 tháng, số tiền lãi bị đơn phải
thanh toán là: 300.000.000 đồng x 01 năm 7 tháng x 10%/năm = 47.500.000
đồng (4).
- Số tiền lãi bị đơn nghĩa vụ thanh toán đối với đợt thanh toán cuối
cùng theo thỏa thuận sẽ xác định như sau:
+ Ngày vi phạm nghĩa vụ đối với khoản nợ gốc 312.091.437 đồng được
xác định từ ngày 02/9/2024 đến ngày 24/3/2025, tương đương 06 tháng 22 ngày.
Tiền lãi bị đơn phải thanh toán là: 312.091.437 đồng x 6 tháng 22 ngày x
10%/năm = 17.485.671 đồng;
+ Ngày 25/3/2025, bị đơn thanh toán được 10.000.000 đồng thì số tiền nợ
gốc đtính lãi kể tngày 25/3/2025 đến trước ngày bđơn thanh toán đợt tiếp
theo (ngày 08/5/2025) 312.091.437 đồng - 10.000.000 đồng = 302.091.437
đồng, thời gian tính lãi kể từ ngày 25/3/2025 đến ngày 08/5/2025 là 01 tháng 13
ngày, số tiền lãi bị đơn phải thanh toán là 302.091.437 đồng x 01 tháng 13 ngày
x 10%/năm = 3.593.371 đồng.
+ Ngày 09/5/2025, bị đơn thanh toán được 20.000.000 đồng thì số tiền nợ
gốc đtính lãi kể tngày 09/5/2025 đến trước ngày bị đơn thanh toán đợt tiếp
theo (ngày 30/10/2025) 302.091.437 đồng - 20.000.000 đồng = 282.091.437
đồng, thời gian tính lãi kể từ ngày 09/5/2025 đến ngày 29/10/2025 05 tháng
21 ngày, stiền lãi bị đơn phải thanh toán 282.091.437 đồng x 05 tháng 21
ngày x 10%/năm = 13.376.802 đồng.
+ Ngày 31/10/2025 bị đơn thanh toán 70.000.000 đồng thì số tiền nợ gốc
để tính lãi kể từ ngày 31/10/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm 02/3/2026 là
282.091.437 đồng - 70.000.000 đồng = 212.091.437 đồng, thời gian tính lãi kể
từ ngày 31/10/2025 đến ngày 02/3/2026 04 tháng 02 ngày, số tiền lãi bị đơn
phải thanh toán là 212.091.437 đồng x 4 tháng 02 ngày x 10%/năm = 7.185.929
đồng.
Số tiền lãi bđơn nghĩa vụ phải thanh toán kể từ ngày 02/9/2024 đến
ngày 02/3/2026: 17.485.671 + 3.593.371 + 13.376.802 + 7.185.929 =
41.641.773 đồng (5).
Như vậy, tổng số tiền lãi mà bị đơn nghĩa vụ thanh toán cho nguyên
đơn là: (1) + (2) + (3) + (4) + (5) = 219.141.773 (hai trăm mười chín triệu một
trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm bảy mươi ba) đồng.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của bị đơn đề nghị tòa
án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa một phần bản án
thẩm là phù hợp.
10
[5] Về án pthẩm: Do số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn thay
đổi nên Hội đồng xét xử tính lại án phí. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với
phần yêu cầu không được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu
cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
[6] Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Người kháng cáo không
phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH S.
2. Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số
33/2026/KDTM-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17
- Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Buộc Công ty TNHH S nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH
Một thành viên C số tiền nợ gốc 1.262.091.437 đồng tiền lãi
219.141.773 đồng, tổng cộng 1.481.233.210 (một tỷ bốn trăm tám mươi mốt
triệu hai trăm ba mươi ba nghìn hai trăm mười) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự.
2.2. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
- Công ty TNHH S phải chịu 56.436.996 (năm ơi sáu triệu bốn trăm ba
mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi sáu) đồng.
- Công ty TNHH Một thành viên C phải chịu 7.192.639 (bảy triệu một
trăm chín ơi hai nghìn sáu trăm ba mươi chín) đồng, được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 29.800.000 (hai mươi chín triệu tám trăm nghìn)
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0047682 ngày
09/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn trả cho Công
ty TNHH Một thành viên C số tiền là 22.607.361 (hai ơi hai triệu sáu trăm lẻ
bảy nghìn ba trăm sáu mươi mốt) đồng.
3. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Hoàn trả lại cho Công ty
TNHH S 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu
11
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016309 ngày 17/3/2026 của Thi hành án dân
sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 17 – Thành phố H
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 17 – Thành phố H
Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 238/2026/KDTM-PT Bản án số 238/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 238/2026/KDTM-PT Bản án số 238/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất