Bản án số 527/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 527/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 527/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 527/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà M yêu cầu ông C, bà T và Doanh nghiệp X trả cho bà số tiền là 2.265.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 527/2026/DS-PT Bản án số 527/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 527/2026/DS-PT Bản án số 527/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 527/2026/DS-PT
Ngày: 18-6-2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kim sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01/4/2026, 23/4/2026, 21/5/2026 ngày 18/6/2026 tại
trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩmng khai vụ án thụ
số: 126/2026/TLPT-DS ngày 03/3/2026, về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay i
sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 294/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực H - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 781/2026/QĐ-PT
ngày 17 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Th M, sinh năm 1962 (có mt);
Địa ch: 6 N, Khu phố I, phường L, tỉnh Đồng Tháp.
2. B đơn:
2.1. Bùi Quang C, sinh năm 1977 (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
2.2. Hunh Th T, sinh năm 1970 (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
Cùng địa ch: Khu phố H, phường S, tỉnh Đồng Tháp;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Bùi Quang C:
Luật sư Thái Bình T - Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
3. Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Công ty Trách nhim hu hn X, Thiết kế, Thương mi, Dch v X;
Người đại din theo pháp lut: Ông Bùi Quang C, sinh năm 1977 - chc
vụ: Giám đốc (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
Địa ch: Khu phố H, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
2
3.2. Đặng H, sinh năm 1969 (có mt ngày 21/5/2026, vng mt các
ngày 01/4/2026, 23/4/2026 và ngày 18/6/2026 có đơn xin vắng mt);
Địa ch: C N, p D, xã N, Thành ph H Chí Minh.
3.3. Nguyn Hi C1, sinh năm 1961 (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
3.4. Nguyn Hunh Hi Y, sinh m 2003 (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
3.5. Nguyn Hunh Hi P, sinh năm 1988 (vng mt, có đơn xin vắng mt);
Cùng địa ch: I P, Khu ph C, phường G, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Nguyễn Trung H1, sinh năm 1984 (vng mặt, có đơn xin vắng mt);
Địa ch: 6 N, Khu phố I, phường L, tỉnh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Bùi Quang C và Huỳnh Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Phan Thị M trình bày: Từ chỗ quen biết nên bà có cho
ông C, T Công ty Trách nhiệm hữu hạX (TNHH) Xây dựng, Thiết kế,
Thương mại , Dịch vụ X (viết tắt là Công ty X) vay số tiền 2.265.000.000 đồng
vào ngày 29 tháng 6 năm 2018, thời hạn vay 03 tháng. Hai n làm biên
nhận, ông C, T tên Doanh nghiệp X đóng mộc đỏ. Quá trình vay, ông
C, bà T và Doanh nghiệp X không trả vn và tránh mặt cho đến nay.
Yêu cầu ông C, T Doanh nghiệp X trả cho số tiền
2.265.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Trả ngay khi án hiệu lực pháp
luật.
L, ông C1 nợ bà số tiền 2.565.000.000 đồng, biên nhận ngày
03/3/2018. Sau khi L chết tđã nhận chuyển nhượng phần đất từ ông C1
để trừ nợ, xem như xóa nợ; bà L, ông C1 không còn nợ gì bà.
Tại phiên Tòa phúc thẩm lần 1 khi được hỏi đưa tiền cho ai thì trả lời
đưa tiền cho L trình bày nhầm lẫn, do L, bà T ai cũng nợ tiền của
nên bà đã trả lời nhầm.
Số tiền 2.265.000.000 đồng T, ông C nợ là riêng, không liên quan
đến số tiền bà L, ông C1. Không có việc ông C1 bán đất 1.000.000.000 đồng cấn
trừ nợ cho ông C, bà T và càng không có việc bà đồng ý cho bà H đứng ra trả nợ
thay ông C, T. Bà không biết H ai, sau khi nghe điện thoại từ ông C nói
rằng H trả nợ thay thì bà đã không đồng ý. Lý do khởi kiện chậm là lúc
đó chưa đủ 60 tuổi, không đtiền đóng tạm ứng án phí. Nay chỉ yêu cầu
đòi lại tài sản là tiền, không có yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn ông Bùi Quang C và Huỳnh Thị T trình bày: Không đồng
ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Số tiền 2.265.000.000 đồng trong biên nhận
ngày 29/6/2018 mà bà M đang khởi kiện ông C, bà T và Công ty X thật ra số
tiền trong biên nhận ngày 03/3/2018 của L, ông C1 là chị ruột anh rể của
bà T mượn của bà M để trị bệnh, vì bà L lúc này bệnh ung thư gan, chị em trong
nhà bao gồm T cũng cố gắng lo trả tiền lãi cho M để chạy chữa bệnh cho
bà L nhưng không ngờ bà L bệnh my tháng rồi chết (chết ngày 04/4/2018). Ông
3
C1 hiện còn sống, cha mẹ L đã chết, L 02 người con đang trú
phường G, tỉnh Đồng Tháp cùng ông C1.
Biên nhận ngày 03/3/2018 do Huỳnh Thị L Nguyễn Hải C1 tên
mượn tiền bà M số tiền 2.565.000.000 đồng, đã trả 300.000.000 đồng (không
biên nhận) nên còn lại s tiền là 2.265.000.000 đồng.
Khi L chết thì bà M đến nhà đòi tiền, để mọi chuyện trong nhà được
êm đẹp thì ông C, T mới đứng ra viết biên nhận ngày 29/6/2018 để nhận số
tiền nợ còn lại là 2.265.000.000 đồng. Việc chuyển nợ qua ông C, bà T thìM
thống nhất, không ý kiến gì. Việc chuyển nợ từ L, ông C1 sang cho T,
ông C thì bà H cũng là người chứng kiến.
Sau đó, ông C1 các con của ông C1, L chuyển nhượng cho con
của M anh H1 một thửa đất đ cấn trừ nợ của ông C1, bà L với giá
1.000.000.000 đồng, thửa 72, tờ bản đ16, diện tích 308.2m
2
. Việc này các bên
thỏa thuận miệng, không có văn bản để giảm phần nợ gốc xuống.
Vì đã trừ 1.000.000.000 đồng tiền nợ gốc, nên số tiền 2.265.000.000 đồng
chỉ còn lại 1.265.000.000 đồng. Số tiền 1.265.000.000 đồng được chuyển cho bà
Đặng H trả thay ông C ông C người đưa thửa đất của ông C cho H
đứng bán dùm, H lấy tiền đó trả cho M. Việc H trả tiền cho M xong
chưa thì bên ông C không biết khi chuyển giao nợ rồi thì cũng không còn
quan tâm. H ghi giấy trả nợ thay cho ông C, giấy trả nợ thay này ông C
không giữ. Số tiền là 1.500.000.000 đồng H nhận trả thay bao gồm
1.265.000.000 đồng gốc và 235.000.000 đồng tiền lãi.
Bị đơn khẳng định M biết việc chuyển giao nợ cho H thể hiện qua
tin nhắn bà M nhắn cho ông C. Bà M biết và đồng ý nên một thời gian rất dài
không có liên lạc cũng không có khởi kiện ông C, bà T để yêu cầu trả tiền.
Từ khi ghi biên nhận ngày 29/6/2018, ông C, T đóng lãi cho M
được 03 đến 04 tháng, lãi suất 10%/tháng với số tiền hơn 100.000.000
đồng/tháng. Bản thân ông C, bà T không có trực tiếp thanh toán tiền gốc cho bà
M.
- Đại diện Công ty Trách nhim hu hn X là ông Bùi Quang C trình
bày: ng ty hoàn toàn không liên quan đến việc nợ M, không đồng ý yêu
cầu của M. do dấu mc đỏ trong biên nhận ngày 29/6/2018 do cuốn
vở ghi biên nhận đóng dấu mộc sẳn để cho nhân viên đi đổ xăng dầu cho dễ, còn
việc mượn nợ hay không thì phải thành viên công ty đồng ý tên
đóng dấu tên đàng hoàng.
- Người quyền lợi, nga vụ liên quan Đặng H trình bày:
ông C mối quan hệ làm ăn, ông C làm bên xây dựng, làm bên vật liệu
xây dựng, hai bên làm ăn tin tưởng nhau. Khoảng năm nào không nhớ rõ,
cách đây khoảng vài năm, ông C làm ăn thất bại có lên nhà bà ở khoảng 10 ngày
đến 15 ngày; trước đó thì T cũng lên nhà ở. nhớ 01 ngày ông C
điện thoại, bà cũng mò hỏi là ai, có việc gì, ông C nói nợ tiền M nào đó
(bà không biết mặt M, chỉ nghe ông C nói qua chứ không biết mặt M,
chưa từng gặp M), tiền này vợ chồng ông C gây ra. Sau đó vài ngày ông C
4
nhờ đứng ra dàn xếp dùm ông C muốn trở về Công làm ăn, còn lo
cho con cái. hỏi ông C dàn xếp làm sao, thì ông C nói nhờ viết 01 tờ
giấy nhận nợ hứa trả nợ cho M thay cho ông C, còn ông C cầm tờ giấy đó
về điều đình với bà M xem sao. thấy ông C nào giờ làm ăn cũng đàng hoàng
nên mới viết giấy nhưng không đưa bản chính kêu ông C điện thoại cho
M, khi ông C điện thoại cho M mở loa lớn cho nghe, ông C đọc thỏa
thuận cho bà M nghe, M nghe xong thì chửi mắng lớn tiếng, không đồng ý
với cách trả nợ của ông C nên bỏ giấy trả nợ thay. xác định viết
giấy trả nợ thay ông C nhưng M không đồng ý nên đã hủy bỏ giấy tờ.
không nhận đất của ông C bán lấy tiền cọc để trả cho M. cũng không
nợ tiền vợ chồng ông C. nghe người khác nói lại M lên nhà
nhưng bà không gặp M, cũng chưa từng trả tiền cho M. ng
cám ơn M do đã không đồng ý phương án trả nợ thay ông C đưa ra, lúc
đó ông C nói là trường hợp bà M đồng ý thì ông C hàng tháng sẽ đưa tiền cho bà
trả cho bà M.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung H1 trình
bày: Anh đứng tên quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của ông C1, nghe
mẹ anh M nói trừ nợ của L, ông C1. Lấy đất coi như xóa nợ luôn. Anh
không ý kiến trình bày khác. Thống nhất với ý kiến của bà M, còn việc ông
C, bà T nợ tiền bà M thì anh không biết, không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự thẩm số 294/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Phan Thị M.
Buộc ông Bùi Quang C Huỳnh Thị T nghĩa vụ trả cho Phan
Thị M số tiền 2.265.000.000 đồng. Thời gian thực hiện khi án hiệu lực
pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu phần tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng thời gian chưa thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Thị M về việc buộc
Công ty TNHH X, Thiết kế, Thương mại, Dịch vụ T cùng có trách nhiệm trả số
tiền 2.265.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 25/11/2025, bị đơn ông Bùi Quang C
Huỳnh Thị T lần lượt có đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án thẩm giải quyết theo quy định pháp
luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Bùi Quang C
Luật Thái Bình Trần Thị Tường V trình bày: Tòa án cấp thẩm còn nhiều
5
thiếu sót trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ giải quyết vụ án chưa toàn
diện. Cụ thể:
+ Về tố tụng:
Về năng lực hành vi dân sự: Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 và
Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự, hồ vụ án thể hiện tại Đơn xin xét xử vắng
mặt ngày 22/9/2025 nội dung ghi nhận M đang hôn sâu nhưng vẫn có
chữ của M. Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, người
trong tình trạng hôn không thể hiện được ý chí một cách hợp pháp. Tuy
nhiên, Tòa án cấp thẩm không tiến hành xác minh tình trạng của M, ng
không xác định người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của M vẫn xét xử thẩm. Đây vi phạm nghiêm trọng
quyền tự định đoạt của đương sự và là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về việc niêm yết văn bản tố tụng: Căn cứ Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân
sự, thời hạn niêm yết phải đủ 15 ngày. Đối chiếu hồ sơ vụ án, biên bản niêm yết
đối với ông Nguyễn Hải C1, chị Nguyễn Huỳnh Hải Y anh Nguyễn Huỳnh
Hải P được lập ngày 15/9/2025, nhưng vụ án được đưa ra xét xử vào ngày
26/9/2025. Như vậy, thời gian niêm yết chỉ 11 ngày, không bảo đảm thời hạn
luật định. Do đó, việc triệu tập những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
này không hợp lệ; việc Tòa án tiến hành xét x vắng mặt họ vi phạm
nghiêm trọng thủ tục ttụng. Đây đều những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trực tiếp đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được cho là
dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ, nên việc họ vắng mặt đã ảnh hưởng đến quá
trình làm sự thật khách quan của vụ án dẫn đến nhận định chưa chính xác
về việc cấn trừ nghĩa vụ.
Về việc xác minh, thu thập và đánh giá chứng cứ: Căn cứ các Điều 70, 97
108 Bộ luật Tố tụng dân sự, hvụ án thể hiện căn cứ cho thấy đã phát
sinh việc chuyển giao nghĩa vụ từ bđơn sang người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Đặng H, nhưng Tòa án cấp thẩm chưa tiến hành xác minh
làm đầy đủ tình tiết này. Bị đơn đã cung cấp các tin nhắn từ tài khoản Zalo
Hang Cat L1” liên quan đến việc bà H nhận nghĩa vụ trả nợ thay. Tại phiên tòa,
H thừa nhận đã từng sdụng số điện thoại 0967.500.299, trùng với số điện
thoại đăng ký tài khoản Zalo nêu trên. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ
vào lời phủ nhận của H mà không tiến hành xác minh nguồn gốc, không
trưng cầu giám định, không đánh giá đầy đủ giá trị chứng minh của các tin nhắn
này, vi phạm nguyên tắc đánh gtoàn diện chứng cứ theo Điều 108 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
+ Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và nhận định chưa đúng quy định tại Điều
370 Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao nghĩa vụ dân sự. Cụ thể, các tin
nhắn điện tử do bị đơn cung cấp, được gửi từ số điện thoại +8434486979 của
M cho ông C o ngày 12/8/2023, thể hiện nội dung bà M biết việc bà H đứng ra
nhận nghĩa vụ trả nợ, đồng thời thể hiện việc M đã giữ giấy nợ liên quan đến
H trong một thời gian dài nhiều lần trách móc việc chưa đòi được tiền từ
H. Theo bị đơn, các tình tiết này cho thấy M đã biết chấp nhận việc
6
chuyển giao nghĩa vụ. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm lại nhận định bà M không
đồng ý việc chuyển giao nghĩa vụ mà không đánh giá đầy đủ các chứng cứ điện
tử nêu trên. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, dữ liệu điện
tử, trong đó tin nhắn Zalo, nguồn chứng cứ hợp pháp giá trị chứng
minh khi được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng trình tự luật định.
Lời khai của Đặng H còn tồn tại nhiều mâu thuẫn. Tại bản tự khai
năm 2025, H cho rằng không chứng kiến việc lập giấy nợ không giữ bất
kỳ giấy nợ nào. Tuy nhiên, nội dung các tin nhắn từ tài khoản “Hang Cat Lap”,
đặc biệt tin nhắn lúc 08 giờ 21 phút ngày 04/8/2023, lại thể hiện những thông
tin không phù hợp với lời khai này. Bên cạnh đó, trong quá trình tố tụng H
nhiều lần phủ nhận vai trò của mình trong việc chuyển giao nghĩa vụ, nhưng tại
phiên tòa sơ thẩm lại thừa nhận đã viết giấy nhận trả nợ thay với số tiền
1.500.000.000 đồng rồi sau đó bỏ. Nếu giấy nhận trả nợ thay đã bị bỏ
bà M hoàn toàn không biết, thì cần phải làm rõ bằng cách nào bà M lại biết rõ về
sự tồn tại và vai trò ca bà H trong việc xử lý khoản nợ này.
Về sự mâu thuẫn trong lời khai của M: Tại phiên tòa phúc thẩm ngày
15/01/2025, nguyên đơn trình bày rằng đã giao tiền nhiều lần cho L, sau
đó L giao lại cho T và M không trực tiếp chứng kiến việc giao nhận
tiền giữa bà L và bà T. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 28/4/2025, bà M lại trình
bày: Tôi cho bị đơn vay số tiền 2.265.000.000 đồng... giao bằng tiền mặt, giao
tại nhà ông C, bà T...”. Hai lời trình bày này có sự khác biệt về chủ thể nhận tiền
quá trình giao nhận tiền, nhưng chưa được Tòa án cấp thẩm đối chất, xác
minh và làm rõ đầy đủ.
Căn cứ các Điều 22 và 370 Bộ luật Dân snăm 2015; các Điều 69, 70,
97, 108 và 179 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn
bộ yêu cầu kháng o của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại
vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Nguyên đơn bà Phan Th M trình y: Tòa án cấp thẩm đã mời ông
Bùi Quang C đến làm việc, ông C đã thừa nhận có vay tiền của M và đã trả
tiền lãi được vài tháng. Khi đó, M hỏi ông C sao khoản nợ của ông C,
T lại chuyển sang cho H, sao ông C tự ý cung cấp số điện thoại của
M cho H để liên hệ. Do bức xúc việc chuyển giao nghĩa vụ này không
sđồng ý của bà, không sự gặp mặt hay thỏa thuận giữa ba bên nên bà chỉ
nhắn tin phản ứng với ông C. M không biết số điện thoại của H, cũng
chưa từng liên hệ hay làm việc trực tiếp với bà H trước đó.
Đối với nội dung trong đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình xét xử ngày
22/9/2025 có ghi hôn sâu, xác định đây là sự nhầm lẫn trong quá trình
viết đơn. Thời điểm đó đang Bệnh viện C2 để chăm sóc chồng bị hôn
sâu, chứ không phải bà bị hôn mê sâu.
Vợ chồng ông C, bà T đã trực tiếp lập giấy mượn tiền, đồng thời đã trả lãi
cho bà được một thời gian. Nay ông C, bà T lại cho rằng không nghĩa vụ trả
nợ hoặc đã chuyển giao nghĩa vụ cho người khác không đúng với thực tế sự
7
việc. Vì vậy, bà không đồng ý toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn và đề nghị
Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của bị đơn ông Bùi Quang C
Huỳnh Thị T được thực hiện đúng quy định và hp l theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thm phán, Hội đồng xét x
Thư ký phiên tòa kể từ khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thm đã chấp
hành thc hiện đúng, đầy đủ theo quy định của B luật Tố tụng dân sự;
Người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đquyền nghĩa v tố tụng
theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Quang C Huỳnh
Thị T; giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 294/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
893/PB-VKS-DS ngày 18/6/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực H - Đồng Tháp thụ và giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp hp đồng vay tài sản” đúng quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự vquan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x
thẩm, bị đơn ông Bùi Quang C Huỳnh Thị T không thng nhất bản án
thẩm nên đã kháng cáo. Vic ông C T kháng o vào ngày 25/11/2025 là
trong thi hn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 B lut T tng dân s, nên
đưc xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm ông Bùi Quang C, Hunh Th T, Đặng
H, ông Nguyn Hi C1, ch Nguyn Hunh Hi Y, anh Nguyn Hunh Hi P
anh Nguyễn Trung H1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng
xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[2] V nội dung: Nguyên đơn Phan Thị M khởi kiện yêu cầu bị đơn
ông Bùi Quang C, Hunh Th T người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty TNHH X, Thiết kế, Thương mại , Dịch vụ X phải trách nhiệm trả
cho nguyên đơn số tiền là 2.265.000.000 đồng. Nguyên đơn cung cấp giấy mượn
tiền ngày 29/6/2018, bị đơn thừa nhận có ký tên giấy mượn tiền ngày 29/6/2018,
tuy nhiên số tiền này tiền nhận trả nợ thay cho L, ông C1, đã cấn trừ một
phần nợ chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho H xong, nên không đồng ý theo
yêu cầu của nguyên đơn. Đại diện Công ty X trình bày không liên quan đến
8
việc vay tiền M, không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của M. Điều này m
phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của các bị đơn ông Bùi Quang C, Hunh Th T yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án thẩm giải quyết theo quy
định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
* Về tố tụng:
- Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình xét
xử ngày 22/9/2025 của M không xem vi phạm tố tụng, M viết đơn
trong tình trạng minh mẫn đã gửi cho Tòa án trước khi xét xử thẩm; M
cho rằng vào thời điểm viết đơn này thì chồng bị bệnh cấp cứu tại phòng hồi
sức tích cực do xuất huyết não, hôn sâu chứ không phải bản thân bà, nội
dung đơn do ghi là sự nhầm lẫn khi viết; xét trình bày này của M
cơ sở, vì sau khi xét xử sơ thẩmM cũng không có kháng cáo hay khiếu nại về
nội dung này.
Việc Tòa án cấp thẩm niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa số
438/2025/QĐST-DS ngày 15/9/2025 để mở phiên tòa thẩm ngày 22/9/2025
không đủ thời gian 15 ngày theo quy định khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng
dân sự, tuy nhiên ngày 22/9/2025 Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành thông báo dời
phiên tòa xét xử số 438a/2025/TB-TA và đã tống đạt trực tiếp cho các đương sự,
trong đó Thái B Trần Thị Tường V (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bđơn) V cam kết giao lại cho ông C, T (BL 340-341),
vậy các đương sự đã biết thời gian mở lại phiên tòa sơ thẩm ngày 26/9/2025, nên
thủ tục tống đạt của Tòa án cấp sơ thẩm đã được khắc phục, được xem là hợp lệ
theo quy định tại Điều 170 Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự, vậy không
xem là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
* Về nội dung:
- Nguyên đơn Phan Thị M cung cấp được chứng cứ chứng minh giữa
bà M và ông C, bà T có giao dịch vay tiền với nhau, thể hiện qua giấy mượn tiền
ngày 29/6/2018 (còn viết tắt biên nhận nợ ngày 29/6/2018); trong biên nhận
thể hiện ông C cùng vợ T mượn của M số tiền 2.265.000.000
đồng, thời gian trả tiền là 03 tháng kể từ ngày 29/6/2018.
- Bị đơn ông C, bà T cho rằng ông C có viết giấy mượn tiền ngày
29/6/2018 ông C, T tên vào giấy mượn tiền, nhưng số tiền
2.265.000.000 đồng xuất phát từ số tiền vợ chồng ông C1, bà L (bà L là chị ruột
của T) vay của M số tiền 2.565.000.000 đồng theo biên nhận n ngày
03/3/2018 chuyển sang, do ông C1, bà L đã trả 300.000.000 đồng, nên còn lại số
tiền 2.265.000.000 đồng. Do lúc đó bà L chết, bà M đến đòi tiền nên ông C, bà T
phải đứng ra dàn xếp ký ngày 29/6/2018 cho êm chuyện, lúc viết giấy mượn tiền
ngày 29/6/2018 Đặng H chứng kiến việc chuyển giao nợ từ L, ông
C1 sang cho ông C và bà T. Xét trình bày của bị đơn là không có căn cứ vì ngoài
lời trình bày ra thì ông C, T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh số tiền 2.265.000.000 đồng theo biên nhận nợ ngày 29/6/2018 chính là một
9
phần của số tiền 2.565.000.000 đồng trong biên nhận nợ ngày 03/3/2018 chuyển
sang, việc này không được M H thừa nhận. Trong nội dung giấy mượn
tiền ngày 29/6/2018 cũng không nội dung nào thể hiện chuyển giao nghĩa v
từ bà L, ông C1 sang bà T, ông C.
- Bị đơn ông C, T trình bày đã trả xong số tiền 2.265.000.000 đồng
bằng hình thức cấn trừ 01 tỷ đồng từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thửa s72, tbản đồ 16, diện tích 308.2m
2
cho con của M anh Nguyễn
Trung H1, xét không căn cứ ngoài lời trình bày ra bị đơn không cung
cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc này.
Quá trình giải quyết vụ án phía ông C1 các con L, ông C1 anh
Nguyễn Huỳnh Hải P, chị Nguyễn Huỳnh Hải Y cũng không ý kiến gì,
đơn xin xét xử vắng mặt và cho rằng việc ông C1, L vay tiền chuyển
nhượng QSD đất cho bà M không liên quan đến vụ kiện tranh chấp vay tiền giữa
M với ông C, T; đối với M thừa nhận để cho con bà là anh H1 nhận
chuyển nhượng phần đất thửa 72 của ông C1, tuy nhiên để cấn trừ phần tiền
nợ của L, ông C1 nợ riêng của xác định rằng anh C1, L không còn
nợ bà. Trong trường hợp bị đơn nếu việc cấn trừ 1.000.000.000 đồng thì
sau khi giao dịch chuyển nhượng đất xong hai bên phải có trách nhiệm gặp nhau
thoả thuận viết lại giấy nợ để giảm tiền nợ gốc xuống hoặc thoả thuận khác
nhưng các bên đều trình bày không có gặp nhau thoả thuận lại việc này.
Ngoài ra, bị đơn cho rằng số tiền gốc còn lại 1.265.000.000 đồng (sau
khi trừ 1.000.000.000 đồng chuyển quyền sử dụng đất) và tiền i
235.000.000 đồng, tổng cộng 1.500.000.000 đồng thì ông C nhờ H
người đứng ra trả thay ông không mun gp M, do ông C không mun
M c chân vào nhà ông. Hình thc tr tin ông C trình bày ti biên bn ghi li
khai ông đưa tin cho H nhiu lần đến khi đủ s tin 1.500.000.000 đồng,
ti biên bản đối chất ông trình bày là ông đưa đt cho bà H bán, nhn tin cc và
ly tin cọc đó trả cho bà M. Bà H có viết giy tr n thay cho ông, bà H gi bn
chính ch có chp hình gi cho ông ông photo ra gi. Quá trình gii quyết v
án biên bản đối cht H tha nhn ông C nh đứng ra điều đình với
M bng nh thc viết giy tr thay s tin ông C, T n 1.500.000.000
đồng và mi tháng tr 100.000.000 đồng, nhưng sau khi trao đi vi bà M thì bà
M không đồng ý nên bà đã xé giy tr thay. Nên không có căn cứ xác định trách
nhim H nhn tr n thay cho b đơn. Mt khác, vic M (bên quyn)
không đồng ý nên không tho mãn điều kin chuyển giao nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 370 B lut Dân s năm 2015.
Trong trường hp chuyển giao nghĩa vụ dân s tphải được các bên
thng nhất đồng ý thc hin, phía ông C tha nhn không gp hay liên h
vi bà M để thng nht tho thun bà H tr n thay, ch đưa số đin thoi cho bà
H và bà M t liên lc vi nhau; b đơn dựa vào tin nhn bà M nhn cho ông C để
cho rng M biết và đng ý vi vic bà H tr n thay và không có trách nhim
tr n cho bà M chưa có cơ sở vng chc.
- Ti phiên tòa phúc thm ông C cung cp file ghi âm th hin cuộc đối
10
thoi gia H ông C, trong đó ni dung th hin H nhn ông C s
tiền 1.700.000.000 đồng; theo li khai ca H thì nhn s tin này ca
ông C để hùn mua lan nhưng sau khi bán lan đã tr s tin này li cho
ông C. Xét thy, vic này nếu các bên có tranh chp thì có quyn khi kin bng
v án khác để bo v quyn li hp pháp ca mình.
Đối vi việc nguyên đơn M yêu cu Công ty TNHH X, Thiết kế,
Thương mại, Dịch vụ Trường Chiêu có trách nhim tr tiền là không có cơ s
M cũng thừa nhn cho v chng ông C, T vay tin không phi cho Công
ty vay, ông C đóng dấu Công ty để làm tin, ni dung giấy mượn tin ngày
29/6/2018 cũng không th hin Công ty vay tin ca M hay ông C đại din
công ty vay tin ca bà, nên Tòa án cấp thẩm không chp nhn yêu cu này
ca bà M là có cơ sở.
vậy, việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Phan Thị M, buộc bị đơn ông Bùi Quang CHuỳnh Thị
T nghĩa vụ trả cho M số tiền 2.265.000.000 đồng căn cứ phù
hợp pháp luật.
[4] Tại phiên tòa Luật Thái Bình T bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
bị đơn ông Bùi Quang C vẫn giữ yêu cầu kháng cáo của ông C; T đơn xin
xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm hủy án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của Luật sư V là không
đủ n cứ, đồng thời ông C, T cũng không cung cấp được i liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình có sở như đã phân tích trên,
nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] T các sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo ca
ông Bùi Quang C và bà Huỳnh Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xxét thấy là có sở và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Đối với đề ngh của Luật Thái Bình Trần Thị Tường V bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Bùi Quang C tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là không có đủ sở, nên không được
chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của ông Bùi Quang C Huỳnh Thị T
không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự;
11
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bùi Quang C Huỳnh
Thị T;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 294/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực H - Đồng Tháp.
3. Án phí dân s phúc thẩm: Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pa
án.
Ông i Quang C Huỳnh Thị T mỗi người phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Thái B Trần
Thị Tường V đã nộp thay cho ông C T là 600.000 đồng, theo 02 biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009142 và số 0009143 cùng ngày
27/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND khu vc H - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS khu vc H -Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 527/2026/DS-PT Bản án số 527/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 527/2026/DS-PT Bản án số 527/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất