Bản án số 334/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 334/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 334/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 334/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận khác cáo của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và ông Lý Thơ Hiền.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Thu Hương Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă
- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 208/2025/TLPT-DS ngày 08/5/2025, về việc
“Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường về tài sản”, do Bản án dân
sự thẩm số 84/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông
Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân khu vực 4 Đắk Lắk) bị kháng cáo. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 260/2026/QĐPT-DS ngày 18/5/2026
và Quyết định hoãn phiên toà số 333/2026/QĐ-PT ngày 18/6/2026, giữa:
- Nguyên đơn:ng ty Cổ phần C1 (Trước đâyCông ty TNHH MTV C1).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị; Địa chỉ: K, Quốc lộ B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là K, Quốc lộ B,
xã E, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đình B, sinh năm 1957; Địa chỉ: F T,
phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (Nay là F T, phường B, tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyn C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk (Nay là Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Buôn
K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (Nay là Buôn K, xã K, tỉnh Lâm Đồng) Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa đại diện theo
ủy quyền cho nguyên đơn ông Phạm Đình B trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 334/2026/DS-PT
Ngày 30/6/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng giao
khoán và yêu cầu bồi thường thiệt
hại về tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Vào ngày 10/10/2016, ông Nguyễn C Hợp đồng khoán gọn vườn cây
phê cho hộ nông trường viên số 24/2016/HĐ-GK với công ty TNHH MTV C1 để
nhận khoán chăm c vườn cây cà phê Vối trồng năm 1977, của Công ty có diện tích
10.000m
2
diện tích bờ 1.452m
2
. Nguyên giá: 33.013.609 đồng (Ba ba triệu,
không trăm mười ba ngàn, sáu trăm lẻ chín đồng). Giá trị còn lại 10.867.358 đồng
(Mười triệu, tám trăm sáu bảy ngàn, ba trăm năm tám đồng). Thời gian giao khoán
04 năm (đến niên v2019-2020), tính từ ngày kết hợp đồng. Sản lượng giao
khoán hằng năm ông Nguyễn C phải nộp về công ty theo Hợp đồng giao khoán cụ
thể như sau:
Từ niên vụ thu hoạch 2016-2017 đến niên vụ 2019-2020 ông Nguyễn C phải
nộp 2.389kg quả tươi/niên vụ; Tương ứng với 5,25 tạ nhân/ha/năm.
Từ khi nhận vườn cây đến niên vụ phê 2018-2019 ông Nguyễn C đã thực hiện
nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của công ty thực hiện nghĩa vụ
giao nộp sản phẩm đầy đủ trong theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với công
ty.
Tuy nhiên, từ niên vụ thu hoạch cà phê 2019-2020 đến niên vụ 2022-2023, ông
Nguyễn C đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cà phê quả tươi cho công
ty theo đúng cam kết trong Hợp đồng. Ngoài ra theo thông báo của cục T2; Truy thu
tiền thuê đất năm 2015-2017; Tiền thuê đất 05 năm (2018 2019,2020,2021,2022) ông
còn nợ Công ty là: 8.009.881đ (Tám triệu, không trăm không chín ngàn, tám trăm
tám mươi mốt đồng).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông còn tự ý chặt hạ 35 cây muồng đen
trồng năm 1977 để che bóng và chắn gió cho vườn cà phê, đồng thời chiếm đoạt toàn
bộ khối lượng gỗ tròn.
Mặt khác ông còn nợ tiền khấu hao kênh mương, hồ đập của Công ty từ năm
2018 đến 2020.
Mặc dù công ty đã động viên, thông báo nhiều lần nhưng ông Nguyễn C vẫn cố
tình chống đối, không hợp tác với công ty. Việc làm này của ông Nguyễn C vi
phạm hợp đồng đối với Công ty, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và
tài sản của công ty.
Vì những lý do trên, Công ty làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết:
- Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số
24/2016/HĐ-GK. Buộc ông Nguyễn C phải trả lại vườn cây cho Công ty cổ phần C1
với diện tích 10.000m
2
diện tích bờ 1.452m
2
, thửa số 76a, tờ bản đồ số 04; Thuộc
đội 17/3; Địa chỉ thửa đất tại H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số k 239519, do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho Công ty Cổ phần
C1 vào ngày 16/5/1997. Cụ thể: Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa s63, tờ bản
đồ số 04, người nhận khoán: Ông Hồ Văn T. Phía Nam giáp thửa số 06 + 07, tờ bản
đồ số 12, người nhận khoán: Ông Huỳnh Văn Q. Phía Đông giáp thửa số 76b, tờ bản
đồ số 04, người nhận khoán: Thị B1. Phía Tây giáp thửa số 77, tờ bản đồ số
04, người nhận khoán: Ông Nguyễn Trọng B2.
- Buộc Ông Nguyễn C phải trả cho công ty cổ phần C1 là: 11.945 kg (Mười một
3
nghìn, chín trăm bốn mươi lăm kilogam) phê quả tươi còn nợ của 05 niên vụ (2019-
2020; 2020-2021;2021-2022,2022-2023,2023-2024). Cụ thể mỗi niên vụ trả: 2.389
kg/01 niên vụ.
- Buộc ông Nguyễn C phải nộp tiền truy thu tiền thuê đất năm 2015-2017; Tiền
thuê đất 06 năm (2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023) về công ty phần 49% để công
ty nộp cho cục thuế tỉnh T2 là: 8.009.881 đ (Tám triệu, không trăm không chín nghìn,
tám trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó: Truy thu tiền thuê đất 2015-2017
2.005.250 đồng; T1 thuê đất năm 2018 là 1.002.630 đồng; Tiền thđất năm 2019 là
1.001.345 đồng; Tiền thuê đất năm 2020 là 1.000.164 đồng; Tiền thuê đất năm 2021
1.000.164 đồng; Tiền thuê đất năm 2022 1.000.164 đồng; Tiền thuê đất năm
2023 là 1.000.164 đồng.
- Buộc ông Nguyễn C bồi thường thiệt hại do hành vi chặt phá, chiếm đoạt cây
muồng đen Công ty trồng để che bóng, chắn gió cho vườn cây là: 35 cây, trồng năm
1977; khối lượng 17,8 m
3
.
- Buộc ông Nguyễn C phải trả cho công ty cổ phần C1 tiền khấu hao kênh mương
hồ đập tưới cho vườn phê (từ năm 2018 đến năm 2020) là: 1.500.000 đồng (Một
triệu, năm trăm ngàn đồng).
Tại phiên tòa thẩm nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc
buộc ông Nguyễn C phải bồi thường 30% giá trị của 35 cây muồng đen trồng năm
1977 bị cắt hạ. Nguyên đơn chỉ yêu cầu ông Nguyễn C phải bồi thường 70% gtrị
của 35 cây muồng đen trồng năm 1977 bị cắt hạ.
- Bị đơn ông Nguyễn C trình bày:
Hiện nay, việc tranh chấp giữa tôi Công ty cổ phần C1 đang được Thanh tra
chính phủ Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cùng các quan thẩm quyền giải quyết.
Ngày 22/9/2023 UBND tỉnh Đ đã Công văn số 8185/UBND-NNMT v/v đnghị
thanh tra toàn diện tại Công ty cổ phần C1. Kết quả giải quyết của Thanh tra chính
phủ và các cơ quan liên quan có thể ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, tôi
kính mong Toà án nhân dân huyện Krông Pắc tạm đình chỉ vụ án cho đến khi có kết
quả của thanh tra chính phủ và các quan liên quan. Do đó tại phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện
Krông Pắc thì tôi tham gia đầy đnhưng tôi không vào biên bản không đồng
ý hòa giải với nguyên đơn cũng như sẽ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Vụ việc tranh chấp hợp đồng giao khoán giữa công ty TNHH một thành viên C1
(nay công ty cổ phần C1, xin gọi tắt công ty) với ông Nguyễn C xuất phát từ việc
công ty những vi phạm trong quá trình lập hợp đồng giao khoán chưa đúng với
Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 và trong quá trình thực hiện hợp đồng
công ty đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa
công ty với ông Nguyễn C. Qua tìm hiểu hồ sơ vụ án tôi nhận thấy có nhiều tình tiết,
nội dung trong vụ án cần phải xem xét toàn diện cụ thể như sau:
Công ty cổ phần C1 không có quyền khởi kiện vì ông Nguyễn C không ký hợp
4
đồng với công ty cổ phần C1 mà ký hợp đồng với công ty TNHH MTV C1. Qtrình
thực hiện hợp đồng Công ty không thực hiện đúng theo hợp đồng, không xem xét
giảm sản lượng cho người nhận khoán khi thiên tai xảy ra. những do nêu trên
nên ông Nguyễn C dừng đóng sản để yêu cầu Công ty giảm sản lượng đóng thương
thảo lại các điều khoản trong hợp đồng.
Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường viên số: 24/2016/HĐ-
KG giữa hộ Nguyễn C với công ty TNHH một thành viên C1 ngày 27/08/2011
xuất phát từ hợp đồng hợp tác đầu sản xuất phê phân chia sản phẩm giữa
công ty C1 với hộ ông Nguyễn C năm 1998 với thời hạn 30 năm đến năm 2028
mới hết hạn. Hợp đồng hợp tác đầu này đến nay vẫn còn hiệu lực pháp luật chưa
bị thanh lý và vẫn còn thời hạn.
Bản chất hợp đồng khoán gọn vườn cây số: 24/2016/HĐ-GK giữa công ty
TNHH một thành viên C1 với hộ ông C, hợp đồng khoán trắng 51% giá trị vườn
cây của công ty TNHH mt thành viên C1 cho hộ nông trường viên theo quy định
của Nghị định 135/2005/NĐ-CP (hộ nông trường viên đã mua lại 49% giá trị vườn
cây từ m 1998 hợp đồng hợp tác đầu theo quyết định số: 1675/QĐ-UB
ngày 15/08/1998 của UBND tỉnh Đ với thời hạn là 30 năm, hợp đồng này chưa thanh
đang còn hiệu lực pháp luật) trả sản lượng cho công ty TNHH một thành viên
C1. Tất cả các thủ tục từ đơn xin nhận khoán, phương án khoán đều do phía công ty
S, công ty không thực hiện cơ chế dân chủ, không giải thích về các điều khoản của
hợp đồng mà đưa đơn và hợp đồng in sẵn và yêu cầu ông C ký. Thời điểm đó do cần
phải có vườn cây để việc làm tạo thu nhập lo cho bản thân, gia đình tin tưởng
vào phía công ty nên ông C đã hợp đồng nêu trên khi chưa hiểu rõ về phương án
khoán và hợp đồng khoán. Việc công ty cổ phần C1 buộc ông C phải trả cho công ty
11.945kg cà phê quả tươi của 06 niên vụ (2018-2024) là không đúng với phương án
khoán, đề nghị công ty cổ phần C1 giảm sản lượng niên vụ 2018-2019 theo quy định
trong hợp đồng làm việc với ông C để thỏa thuận việc phân chia sản phẩm sau khi
trừ chi phí đầu tư đúng theo quy định của Nghị định 135/2005 của chính phủ.
Công ty cổ phần C1 yêu cầu ông C phải nộp tiền thuê đất về công ty cổ phần C1
số tiền: 8.009.881 đồng mà không nêu căn cứ rõ ràng và không đúng với giá thuê đất
trong hợp đồng thuê đất do công ty Đ ký với UBND tỉnh Đ tại hợp đồng thuê đất số
64/HĐTĐ ngày 27/06/2011, phụ lục hợp đồng ngày 17/11/2011 phụ lục hợp đồng
số 118/PL-HĐTĐ ngày 21/6/2017 do vậy ông C chưa đnộp tiền cho đúng với
49% đất đã thuê. Công ty cổ phần C1 không phải đơn vị quyền nghĩa vụ trong
hợp đồng với ông C.
Công ty cổ phần C1 yêu cầu ông C phải trả tiền khấu hao kênh mương năm 2018
đến năm 2020 với số tiền là: 1.500.000 đồng là không có cơ sở. Ông C chỉ chấp nhận
nộp 49% của số tiền 1.500.000 đồng tương đương 735.000 đồng.
Công ty cổ phần C1 buộc ông C phải bồi thường giá trị của 35 cây Muồng đen
trồng năm 1977 là hoàn toàn không có cơ sở vì trong hợp đồng không thể hiện số cây
muồng nêu trên công ty không chứng minh được nguồn gốc số cây muồng do công
ty Đ1 chăm sóc. Hơn nữa công ty không chứng minh được ông C người chặt h
số cây muồng nêu trên, việc lập biên bản là từ một phía công ty, không đo đạc được
khối lượng cây thực tế, việc xác nhận của công an xã H là trái quy định của pháp luật
khi không có trong thành phần biên bản. Hơn nữa việc định giá theo hồ sơ do công ty
5
đưa ra không khách quan, không chứng cứ chứng minh việc tồn tại smuồng
nêu trên.
Nếu buộc phải chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây số: 24/2016/HĐ-GK
giữa ông C công ty TNHH MTV C1, ông C chỉ chấp nhận trả lại cho công ty
TNHH MTV C1 phần 51% giá trị vườn cây 51% diện tích đất nhận khoán (51%
của 10.000m
2
+ 1452m
2
diện tích bờ lô) vì phần 49% giá trị vườn cây ông C đã mua
lại của công ty từ năm 1998 và cũng chịu trách nhiệm trả tiền thuê đất trên diện tích
đất của 49% giá trị vườn cây này, có hợp đồng hợp tác đầu tư đang còn hiệu lực thời
hạn 30 năm. Đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng hợp tác đầu tư nêu trên.
Hiện nay, Ban tiếp dân trung ương đã thông báo về việc đối thoại và giải
quyết với chúng tôi theo công văn số: 2420/TB-BTDTW ngày 26/07/2023 và Huyện
ủy Krông Pắc đã làm việc với chúng tôi hứa sẽ giải quyết (biên bản làm việc số:
03-BB/TCTHU ngày 01/12/2022), các quan thanh tra đang làm việc thanh tra toàn
diện công ty cổ phần C1 chưa có văn bản trả lời. Từ những phân tích nêu trên tôi đề
nghị hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C1.
Tại Bản án dân sự thẩm số 84/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều
244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 388, 390, 392, khoản 1, 3, 7, 8 Điều 409, 412, 414, 501, 502,
503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự
năm 2015;
- Áp dụng Điều 7, 8, 9, 10, 12 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005
của Chính phủ;
- Áp dụng Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ
N;
- Áp dụng Luật đất đai năm 2003;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần C1.
1.1. Buộc ông Nguyễn C phải trả cho Công ty cổ phần C2 sản lượng cà phê quả
tươi còn nợ của 05 niên vụ (từ niên vụ 2019-2020 đến niên vụ 2023-2024) là 11.945
kg.
1.2. Buộc ông Nguyễn C phải nộp tiền thuê đất phần 49% về Công ty (truy thu
tiền thuê đất 2015 đến 2017) T1 thuê đất 06 năm (2018, 2019, 2020, 2021, 2022,
2023) 8.009.881 đồng (Tám triệu, không trăm không chín ngàn, tám trăm tám
mươi mốt đồng).
1.3. Buộc ông Nguyễn C phải trả tiền khấu hao kênh ơng, hồ đập năm 2018
đến năm 2020 là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
6
1.4. Buộc ông Nguyễn C phải bồi thường cho Công ty cổ phần C1 70% giá trị
35 cây muồng đen trồng năm 1977 bcắt hạ là 57.565.200 đồng (Năm mươi bảy triệu
năm trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
1.5. Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường viên
số 24/2016/HĐ-GK ngày 10/10/2016 giữa Công ty TNHH MTV C1 và ông Nguyễn
C.
Ông Nguyễn C nghĩa vụ trả lại cho Công ty Cổ phần C1 diện tích đất đã nhận
khoán 10.000m
2
diện tích bờ 1.452m
2
, thửa số 76a, tờ bản đồ số 04; Thuộc
đội 17/3. Địa chỉ: H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Thửa đất tứ cận: Phía Bắc giáp:
Thửa s63, tờ bản đồ số 04, người nhận khoán: Ông Hồ Văn T. Phía Nam giáp: Thửa
số 06 + 07, tờ bản đồ số 12, người nhận khoán: Ông Huỳnh Văn Q. Phía Đông giáp:
Thửa số 76b, tbản đồ số 04, người nhận khoán: Bà Vũ Thị B1. Phía Tây giáp: Thửa
số 77, tờ bản đồ số 04, người nhận khoán: Ông Nguyễn Trọng B2 tài sản trên đất
bao gồm: 1003 Cây cà phê vối trồng năm 1977.
- Công ty cổ phần C1 nghĩa vụ thanh toán giá trị vườn cây cho ông Nguyễn
C số tiền 55.251.298 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, hai
trăm chín mươi tám đồng).
- Buộc ông Nguyễn C phải tự tháo dỡ, di dời hoặc chặt bỏ các loại cây trồng và
các vật kiến trúc đã trồng và tạo dựng trên đất không đúng theo thỏa thuận trong hợp
đồng đã kết, bao gồm: 75 Cây sầu riêng (45 cây trồng năm 2018, 15 cây trồng năm
2019, 15 cây trồng năm 2021); 07 cây mít trồng năm 2019; 18 cây trồng năm 2019;
Hàng trào lưới B40, cao 1,5m, dài 51m; 17 Trụ tông (hàng rào lưới). Công ty cổ
phần C1 không nghĩa vụ phải thanh toán lại số tiền giá trị các loại cây trồng, vật
kiến trúc nêu trên cho ông C.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều
468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xmột phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông
Nguyễn C phải bồi thường cho ng ty cổ phần C1 30% giá trị của 35 cây muồng
đen trồng năm 1977 bị cắt hạ.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí tuyên
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định ca pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/10/2024, bị đơn ông Nguyễn C kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
quan điểm:
Về ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử, Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự;
7
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xphúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm số 84/2024/DS-ST
ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ,
lời trình bày của đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xnhận định
như sau:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định, bị đơn đã nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[2.1] Đối với ý kiến kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn C cho rằng ông hợp
đồng với Công ty TNHH MTV C1 nhưng Tòa án lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Công ty Cổ phần C1 không đúng chủ thể, xét thấy: Việc chuyển đổi từ hình
Công ty TNHH MTV C1 sang Công ty cổ phần C1 được thực hiện theo trình tự quy
định của pháp luật và được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở K đầu tư cấp giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp Công ty Cổ phần đăng thay đổi lần thứ 5 ngày
09/10/2019, hiện nay chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào hủy bỏ tư cách pháp nhân.
Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 202 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định “Công ty
chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm
về các khoản nợ, gồm cả nthuế, hợp đồng lao động nghĩa vụ khác của công ty
được chuyển đổi”. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc thụ lý, giải quyết vụ
án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cồ phần phê Thắng L xác
định người đại diện theo pháp luật của Công ty ông Đỗ Hoàng P (chức danh Chủ
tịch hội đồng quản trị) người đại diện của ng ty tham gia tố tụng căn cứ,
phù hợp với quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Về nội dung hợp đồng: Theo quy định tại Điều 402 BLDS thì Hợp đồng
khoán gọn vườn cây p cho h nông trường viên số 24/2016/HĐ-GK ngày
10/10/2016 giữa Công ty TNHH một thành viên C1 (nayCông ty cổ phần C1) với
ông Nguyễn C hợp đồng song vụ, các bên tự nguyện ký kết hợp đồng, tại thời điểm
kết hợp đồng các bên đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự; nội dung và hình
thức của hợp đồng không vi phạm pháp luật nên hợp đồng có giá trị pháp lý, làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
[2.2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc buộc bị đơn ông
Nguyễn C phải trả sản lượng cà phê quả tươi còn nợ của 05 niên v (từ niên vụ 2019
- 2020 đến niên vụ 2022 - 2023) là 11.945kg, xét thấy:
Ngày 10/10/2016, ông Nguyễn C kết Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê
cho hnông trường viên số 24/2016/HĐ-GK với Công ty TNHH MTV C1 (nay
Công ty cổ phần C1) để nhận khoán chăm sóc vườn cây phê vối của Công ty
diện tích 10.000m
2
, diện tích bờ lô 1.452m
2
.
8
Tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng số 24, có nội dung: “Nghĩa vụ của bên
B (ông C): Thực hiện việc nộp sản lượng cho bên A theo quy định...tại khoản 5
Điều 6 của hợp đồng có nội dung: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên B không
hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm cà phê theo định mức hàng năm thì bên A có
quyền áp dụng biện pháp cần thiết để thu hồi nợ và đơn phương chấm dứt hợp đồng
giao khoán...”. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã thực hiện đúng nghĩa vchăm
sóc vườn cây và giao nộp sản lượng đầy đủ theo thoả thuận cho Công ty cho đến hết
niên vụ 2018-2019, còn các niên vụ tiếp theo từ 2019-2020 đến nay thì ông C không
đóng sản lượng cho Công ty. Việc ông C không giao nộp sản lượng theo định mức
khoán trong Hợp đồng đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ. Mặc ông C cho
rằng mình được giảm trừ nghĩa vụ khi thiên tai xảy ra, nhưng không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho ý kiến này. vậy, Toà án cấp thẩm tuyên
buộc ông Nguyễn C phải trả cho Công ty sản lượng 11.945 kg cà phê quả tươi còn nợ
của 05 niên vụ từ niên vụ 2019-2020 đến niên vụ 2023-2024 là có cơ sở.
[2.2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn C phải thanh
toán cho Công ty tiền truy thu tiền thuê đất tnăm 2015 – 2017, tiền thuê đất 06 năm
từ năm 2018 đến 2023 là 8.009.881 đồng, xét thấy:
Tại điểm g khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn, về phần nghĩa vụ của bên
B có nội dung: “Bên B nghĩa vụ nộp tiền thuê đất, thuế đất nông nghiệp cho Nhà
nước, theo tỷ lệ 51% 49%, phần bên B chịu 49% nộp vào tháng 11 trong năm thông
qua bên A”. Căn cứ vào Thông báo số 43/CT-THNVDT ngày 08/01/2018 của Cục
thuế tỉnh T2 về việc truy thu tiền thuê đất đã miễn sai đối tượng theo kết luận Kiểm
toán Nhà nước thì từ năm 2003 2010 (05 năm) tiền thuê đất được tính
1.042.067đ/ha; Thông báo số 802/TB-CT ngày 24/4/2018 của Cục thuế tỉnh T2;
Thông báo số 984/TB-CT ngày 07/5/2019 của Cục thuế tnh T2 vviệc nộp tiền thuê
đất, thuê mặt nước tnăm 2015 tiền thuê đất được tính 699.849đ/ha, từ năm 2016
đến năm 2017 tiền thuê đất được tính 1.786.408đ/ha/năm, từ năm 2018 đến năm 2019
tiền thuê đất được tính 1.786.748đ/ha/năm; Thông báo số 695 ngày 23/3/2020 tiền
thuê đất được tính 1.785.408đ/ha; Thông báo số 1252 ngày 29/4/2021 về tiền thuê đất
theo hình thức nộp hàng năm của Cục thuế tỉnh T2 thì năm 2021 tiền thuê đất được
tính 1.785.408đ/ha. Xét từ năm 2015 2017 06 năm từ 2018 đến 2023, ông C chưa
nộp tiền thuê đất cho Công ty để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất vào
ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. Như vậy, căn cứ vào diện tích đất
nhận khoán, diện tích đất bờ và các Thông báo thuế thì ông C phải nghĩa vụ
phải nộp tiền thuê đất, nên Tòa án cấp thẩm chấp nhận khoản tiền này căn
cứ.
[2.2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn C phải bồi
thường cho Công ty 70% tổng giá trị của 35 cây muồng đen trồng năm 1977 bị cắt
hạ, xét thấy:
Quá trình giải quyết ván, ông C cho rằng trong hợp đồng không thể hiện số
cây muồng trên lô khoán, toàn bộ cây muồng đen trên nhận khóa là do ông C trồng
chăm sóc, thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây
phê quy định về điều khoản cam kết chung: “Công ty thống nhất quản lý cây muồng
đen hiện có trên lô phê giao khoán, nếu vì do quá dày rợp, già cỗi phải cắt tỉa
9
hoặc khi vườn cây thanh thì công ty sẽ tổ chức kiểm kê, lập thủ tục bán theo phương
thức đấu thầu…”. Tại biên bản kiểm kê vườn cây cà phê và cây muồng đen lập ngày
02/12/2019, thể hiện trên diện tích đất nhận khoán của ông Nguyễn C đã 35 cây
muồng đen. Theo biên bản tự ý chặt hạ cây muồng đen trên nhận khoán ngày
07/9/2020, ngày 10/9/2020 ngày 20/12/2021 xác nhận của Công an H thể
hiện ông C đã tự ý chặt hạ 35 cây muồng đen trồng năm 1977. Như vậy, việc ông C
tự ý cắt hạ đối với cây muồng đen trên diện tích đất nhận khoán là vi phạm hợp đồng
đã ký kết.
Theo khoản 1 Điều 6 của hợp đồng và tại mục 7.2.1.2 của Phương án khoán gọn
vườn cây cà phê quy định: “Đối với cây muồng đen trồng trên lô cà ptừ năm 1992
trở về trước khi thanh lý chủ hộ được hưởng 30%/ tổng giá trị, công ty hưởng 70%/
tổng giá trị...”. Như vậy, đối với 35 cây muồng đen trồng năm 1977, với khối lượng
gỗ công ty cung cấp 17,8m
3
; đơn giá theo Quyết định số 31/2020/QĐ-UBND ngày
20/10/2020 của UBND tỉnh Đ (4.620.000 đồng/m³), tổng giá trị theo kết quả định giá
của Hội đồng định giá ngày 29/8/2024 là 82.236.000 đồng, chia theo tỷ lệ 70% Công
ty được hưởng 57.565.200 đồng; 30% của hộ nhận khoán (ông C) được hưởng
24.670.800 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông C phải bồi thường cho Công ty phần
70% giá trị là 57.565.200 đồng là có căn cứ, phù hợp.
[2.2.4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc buộc ông Nguyễn C
phải trả tiền khấu hao kênh mương, hồ đập từ năm 2018 đến năm 2020 1.500.000
đồng, xét thấy:
Tại điểm c khoản 2 Điều 2, điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng nêu: Khi
vào vụ tưới ớc cho phê, Công ty mở nước cho bên B tưới với diện tích tưới
mương. Diện tích tưới mương Công ty sẽ thu tiền khấu hao hồ đập kênh mương theo
đơn giá quy định tại hội nghị người lao động hằng nămĐối với diện tích tưới
nước trên hệ thống hồ đập, nh mương của Công ty thì phải nộp tiền khấu hao hồ
đập kênh mương cho bên A theo đơn giá quy định tại hội nghị người lao động hằng
năm”. Khoản tiền khấu hao kênh ơng, hồ đập được tính dựa trên diện tích nhận
khoán (10.000m²) của ông C đơn giá được xác định trong Phương án khoán gọn
vườn cây phê được UBND tỉnh Đ phê duyệt: Chi phí khấu hao hồ đập kênh mương
500.000đồng/ha/năm (chi phí 100% trên vườn cây). Diện tích ông C nhận khoán
là 10.000m
2
, như vậy, ông C phải trả cho Công ty tiền tưới nước trên hệ thống kênh
mương hồ đập của Công ty từ năm 2018 đến năm 2020 là: 500.000đồng/ha x
10.000m
2
x 03năm = 1.500.000 đồng. vậy, Toà án cấp thẩm buộc ông C phải
trả cho Công ty tiền khấu hao kênh mương, hồ đập từ năm 2018 đến năm 2020 là:
1.500.000 đồng là có căn cứ.
[2.2.5] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chấp dứt hợp đồng
khoán gọn vườn cây số 24/2016/HĐ-GK ngày 10/10/2016 trả lại vườn cây nhận
khoán theo hợp đồng, xét thấy:
Tại điểm f khoản 1 Điều 2 ca Hợp đồng khoán gọn quy định về quyền nghĩa
vụ của bên A: “Hủy bhợp đồng giao khoán, thu hồi diện tích giao khoán khi bên
nhận khoán vi phạm hợp đồng…”. Tại khoản 5 Điều 6 của Hợp đồng giao khoán quy
định về điều khoản cam kết chung thì Trong quá trình thực hiện hợp đồng n B
không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm phê theo định mức hàng năm, thì
10
bên A quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ đơn phương chấm
dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi vườn cây phê giao khoán, tiến hành giao cho
người khác hợp đồng”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông C đã vi phạm hợp
đồng trong việc giao nộp sản phẩm từ niên vụ 2019-2020 đến niên vụ 2023-2024, vi
phạm việc trả tiền thuê đất hàng năm, vi phạm việc nộp tiền khấu hao kênh ơng,
hồ đập. Vì vậy, Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông C
trả lại diện tích vườn cây nhận khoán.
Về giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp đồng giao khoán: Theo kết quả định giá
tài sản, trị giá 1003 cây phê trồng năm 1977 còn trên theo hợp đồng
112.757.750 đồng. Tại Điều 1 của Hợp đồng nội dung: “Phần giá trị vườn cây
trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%”. Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng thì
Công ty có nghĩa vụ trả lại phần 49% giá trị vườn cây cà pcòn trên cho ông C
là 112.757.750 đồng x 49% = 55.251.298 đồng.
Tại điểm b khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng có nội dung: “...Trong lô cà phê ch
cây phê với cây muồng đen, ngoài bờ được trồng xen tiêu...”. Ngoài ra, tại
Nghị Quyết 04/NQ-HĐTV ngày 01/6/2017 Thông báo số 42/TB-CT ngày
09/6/2017 của Công ty TNHH MTV C1 thể hiện việc cho phép người nhận khoán
trồng Cây tiêu phụ bám trên cây muồng đen trong và bờ lô phê. Như vậy, tài sản
trên lô nhận khoán gồm: 75 Cây sầu riêng (45 cây trồng năm 2018, 15 cây trồng năm
2019, 15 cây trồng năm 2021); 07 cây mít trồng năm 2019; 18 cây trồng năm 2019;
Hàng trào lưới B40, cao 1,5m, dài 51m; 17 Trụ tông (hàng rào lưới), do ông C
trồng, tạo dựng không đúng thỏa thuận trong hợp đồng, nên Toà án cấp thẩm buộc
ông C phải chặt bỏ hoặc tháo dỡ, di dời, Công ty không nghĩa vụ thanh toán lại
cho ông C trị giá số tài sản này căn cứ phù hợp với thoả thuận của các bên
theo Hợp đồng.
[2.3] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới chứng
minh cho yêu cầu của mình. Từ những phân tích nhận định nêu trên, xét thấy không
có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn C, cần giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn
ông Nguyễn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn C; Giữ nguyên quyết định
của Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án
nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Toà án nhân dân khu vực 4 Đắk
Lắk).
[2] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn C phải chịu 300.000 đồng án p
dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0014272 ngày 08/11/2024 tại
Chi Cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng Thi hành
11
án dân sự khu vực 4 – Đắk Lắk).
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm, không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 4 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 4 – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Nhung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 334/2026/DS-PT Bản án số 334/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất