Bản án số 64/2026/HS-ST ngày 30/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 64/2026/HS-ST ngày 30/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 64/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Đức T sử dụng trái phép chất ma tuý
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 64/2026/HS-ST Bản án số 64/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2026/HS-ST Bản án số 64/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Bản án số: 64a/2026/HS -ST
Ngày: 05-06-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Tấn
2. Ông Quách Văn Tới
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương Thẩm tra viên chính Toà án
nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Quang Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 05/06/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ và điểm cầu
thành phần tại Trại tạm giam số 3 - Công an tnh Phú Thọ, xét xử thẩm trực
tuyến công khai vụ án hình sự thụ 46/2026/HSST, ngày 07 tháng 05 năm 2026,
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 62/2026/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 5
năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh ngày 16/05/1996 tại xã Y, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Xóm
T, xã M, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn G, sinh năm 1963 Thị P, sinh năm 1965; bị cáo vợ
Ngần Thị H, sinh năm 1997 và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/3/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 3 - Công
an tỉnh Phú Thọ, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1982. Nơi trú: Phố
T, xã L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Nguyễn Đức T, sinh năm 1996, HKTT và chỗ ở hiện nay:
Xóm T, M, tỉnh Phú Thọ đối tượng nghiện chất ma tuý, hiện đang được điều
trị cai nghiện tự nguyện bằng hình thức uống thuốc thay thế Methadone tại sở
điều trị Methadone M - Sở Y tế tỉnh Phú Th theo Quyết định tham gia điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 148/QĐ-UBND ngày
2
27/01/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân M, tỉnh Phú Thọ được lập hồ
bệnh án theo i tại Trung tâm y tế K, tỉnh Phú Thọ (Hồ bệnh án lập ngày
28/01/2026, mã số HBI.02.432 theo quy định).
Tối ngày 06/3/2026, Nguyễn Đức T đi từ nhà đến khu vực M, tỉnh Phú Thọ
chơi, tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết, không đặc điểm cụ thể
(chỉ nhớ người này đeo khẩu trang, mặc áo mưa), do nhu cầu mua ma tuý để sử
dụng cho bản thân nên T trao đổi, hỏi mua và được người này bán cho 01 (một) gói
ma tuý với giá 300.000 đồng. Mua được ma tuý T vào một hiệu thuốc tại khu vực
M (không nhớ tên cửa hàng, không nhớ địa chỉ) để mua bơm kim tiêm nước
cất. Sau đó T bắt xe khách tuyến Mai C - Ninh Bình đi về nhà bố mẹ đẻ xóm N,
Y, tỉnh Phú Thọ, khi đi đến khu vực phố M, L, tỉnh Phú Thọ, T xuống xe,
vào một bãi đất trống ven đường (không nhớ vị trí cụ thể), không người qua lại
để sử dụng trái phép chất ma tuý, tại đây T cho ma tuý vào bơm kim tiêm, nghiền
nát rồi cho nước cất vào, lắc đều rồi tiêm chích trực tiếp vào cơ thể, sử dụng ma tuý
xong T vứt bơm kim tiêm và vỏ chai nước cất tại chỗ rồi đi về nhà bố mẹ đẻ xóm
N, xã Y, tỉnh Phú Thọ.
Đến khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 07/3/2026, khi Nguyễn Đức T đang đi chơi
tại khu vực phố T, L, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an L, tỉnh Phú
Thọ kiểm tra, tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que test nhanh nước tiểu, kết quả
mẫu nước tiểu của Bùi Đức T2 dương tính với chất ma tuý OPI (Heroine). Cơ quan
Công an đã tiến hành thu mẫu niêm phong nước tiểu của Nguyễn Đức T để tiến
hành trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số: 1248/KL-KTHS ngày 09/3/2026 của Phòng k
thuật hình s- Công an tỉnh PTh, kết luận: “Trong chất lỏng màu vàng chứa
trong một chai nhựa ghi Mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Đức T, sinh năm 1996,
nơi thường trú: xóm T, M, tỉnh Phú Thọ ngày 07/3/2026 gửi đến giám định tìm
thấy chất ma tuý, loại Morphine Morphine chất ma tuý nằm trong danh mục
IIA, số thứ tự 81, nghị định s28/2026/NĐ- CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ.
Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người..”
Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Đối với
người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức T, do chưa xác định được nhân
thân, lai lịch nên quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thtiếp tục xác
minh, làm rõ.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa dán giấy
niêm phong dấu, chữ của c thành phần tham gia niêm phong. quan
giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
3
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS KV15 ngày 07/5/2026, Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 15 - Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T vtội: "Sử dụng trái
phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 15 Phú
Thọ, sau khi xem xét, đánh giá toàn bnội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên cáo
trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 256a của Bộ luật Hình sự
tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Về hình phạt chính: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s
khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bcáo Nguyễn Đức T từ
24 tháng - 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo phải
chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Đức T đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 15 Phú Thọ truy tố, không ý kiến bào chữa, tranh luận và xin
giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Th,
Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của B luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố tại phiên tòa,
những người tham gia tố tụng không ai ý kiến khiếu nại vhành vi, quyết
định của quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó
các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xnhận thấy lời khai nhận
của bị cáo trong hồ vụ án tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác
như: Biên bản thu mẫu giám định; Biên bản mở niêm phong giao, nhận đối
tượng giám định; Kết luận giám định số 1248/KL-KTHS ngày 09/3/2026 của
Phòng kỹ thuật hình sự- ng an tỉnh Phú Thọ; Lời khai của người chứng kiến
cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ vụ án.
Do đó, đã có đủ cơ sở khẳng định: Nguyễn Đức T là đối tượng nghiện chất ma tuý,
hiện đang được điều trị nghiện các chất ma tuý bằng hình thức uống thuốc thay thế
Methadone tại Trạm y tế M, tỉnh Phú Thọ được lập hồ bệnh án ngày
28/01/2026 (mã số HBI.02.432) tại Trung tâm y tế K, tỉnh Phú Thọ. Nhưng ngày
06/03/2026, Nguyễn Đức T đã hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu
vực phố M, xã L, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 07/03/2026, Công an xã L, tỉnh Phú Thọ
kiểm tra, tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức T trưng cầu giám định,
4
kết quả giám định tìm thấy chất ma túy, loại Heroine. vậy, việc bị cáo bị Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật. Đồng thời có đủ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Sử
dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm hình phạt được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo nguy hiểm cho hội,
đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn hội tại địa phương; nguyên nhân
làm phát sinh tội, tệ nạn hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy
đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai
trái do hành vi gây ra. Song đối tượng nghiện ma tuý, nên bị cáo đã cố ý sử
dụng trái phép chất ma tuý loại Heroine đthoả mãn cơn nghiện. Do vậy, bị cáo
Nguyễn Đức T phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.
[4]Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cho thấy: Do bị cáo đối tượng
nghiện ma túy, nhằm thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên đã sử dụng trái phép
chất ma tuý loại Heroine là nguyên nhân, điều kiện chính dẫn tới hành vi phạm tội
của bị cáo.
[5] Xét nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án,
tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm
i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức T không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tình tiết cụ
thể của vụ án. Hội đồng xét xxét thấy cần thiết phải một hình phạt nghiêm
khắc tương xứng với tính chất, hành vi các bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc
cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo
cũng nđáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn cần
thiết.
[8] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Đức T tài liệu điều tra
thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa bcáo không
khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[9]Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan giám định đã sử dụng hết số
mẫu giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[10]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của pháp
luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của
pháp luật.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của
Bộ luật Hình sự.
1.1 Vtội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép
chất ma túy”
1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 09/03/2026.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000đ
(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị
cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận : T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Phú Thọ (b/c); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND tỉnh Phú Thọ;
-VKSND khu vực 15 - Phú Thọ;
-Trại tạm giam cơ sở 3 - Công an tỉnh Phú Thọ;
- PC10 Công an tỉnh Phú Thọ;
-Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án. Bùi Minh Giang
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 64/2026/HS-ST Bản án số 64/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2026/HS-ST Bản án số 64/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất