Bản án số 492/2026/HS-PT ngày 01/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 492/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 492/2026/HS-PT ngày 01/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 492/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trương Quốc B và đồng phạm bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội "Gây rối trật tự công cộng"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 492/2026/HS-PT Bản án số 492/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 492/2026/HS-PT Bản án số 492/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Lâm
Các Thẩm phán: 1/ Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
2/ Thị Thương Huyền
Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Tâm - Thư Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh 13/5/2026 đối với c bị cáo Trương Quốc B, Bùi Văn T do kháng
cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số 165/2026/HS-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Họ tên: Trương Quốc B (tên gọi khác: không), giới tính nam; sinh
ngày 22 tháng 02 năm 2005 tại tỉnh S; căn cước công dân: 09420501xxxx cấp
ngày 26/6/2023, nơi cấp Cục quản hành chính về TTXH; nơi đăng thường
trú chỗ ở: ấp V, Lao D, thành phố C; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông
Trương Hoàng T Nguyễn Đức T, bị cáo chưa vợ con; tiền án: không,
tiền sự: không,
Nhân thân: ngày 29/8/2022 bị Công an A, huyện C, tỉnh S xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi “s dụng trái phép chất ma túy”;
Bị o b tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được thay đổi
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú. Bị cáo tại ngoại (vắng mặt).
2. Họ tên: Bùi Văn T (tên gọi khác: không), giới tính nam; sinh ngày
08 tháng 10 năm 1994 tại tỉnh H; nơi đăng thường trú: thôn H, H, thị M
(nay là phường T), tỉnh H; nơi đăng tạm t hiện nay: 200/20/17 đường
Nguyễn Thị Búp, Khu phố 42, phường Tân Thời Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; n giáo: không; trình độ học vấn: 12/12;
nghề nghiệp: công nhân; con ông Bùi Đức B Đào Thị H, bị cáo v
Bản án số: 492/2026/HS-PT
Ngày: 01/7/2026.
2
02 con, lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020 (tại tòa bị cáo khai con lớn
sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án: không, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được thay đổi
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa: Luật Phạm Công Đ, Văn phòng Luật Công Đ Luật,
Đoàn Luật Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho b cáo Bùi Văn T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 17/12/2024, Huy H, Bùi Văn T Đoàn Ngọc
Yến T ngồi nhậu tại S Quán, địa chỉ số 1 đường S, ấp 10, B, Thành phố Hồ
Chí Minh do T làm chủ quán. Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày, Trương
Quốc B điều khiển xe tô hiệu Vespa biển số 59E1 691.xx chở bạn
Ngọc B1 (cả hai đều nhân viên quán) đến quán “S Quán” để làm việc thì
Ngọc B1 thấy Đoàn Ngọc Yến T ngồi kế bên T. Do Ngọc B1 T mối
quan hệ tình cảm nên Ngọc B1 ghen tuông dẫn đến việc Ngọc B1 Bùi Văn T
nảy sinh mâu thuẫn, gây gổ với nhau. Ngọc B1 đi vào quầy tính tiền của quán
lấy 01 cây súng bắn pháo màu đen chạy ra trước quán đưa súng lên trời bắn 01
phát để đe dọa. Thấy vậy, T chạy đến dùng tay đánh nên Ngọc B1 dùng cán
súng đánh vào đầu T gây thương tích. T H thấy vậy chạy ra can ngăn. Lúc
này, Quốc B điều khiển xe Vespa, biển số 59E1 691.xx tông vào T
chở Ngọc B1 b chạy, n H đưa T đi cấp cứu tại bệnh viện Quận A trình
báo vụ việc cho Công an B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua xác minh, khẩu súng Ngọc B1 sử dụng loại súng pháo của Trần
Ngọc T (nhân viên quán “S Quán”) mua cách ngày xảy ra sự việc khoảng hai
tuần từ người đàn ông (không lai lịch) đi bán hàng dạo trước quán S với giá
15.000 đồng, Thiện để tại quầy của quán để chơi.
Bản kết luận giám định số 1454/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H Chí Minh kết luận: khẩu súng ngắn trên
còn s dụng được, bắn loại đạn pháo gây tiếng nổ, không thuộc danh mục khí,
công cụ hỗ trợ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên thể người sống số
112/2025/KLTTCT-PY của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận
thương tích của Bùi Văn T:
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo vùng trán
giữa hai cung mày kích thước 10,2cm. Có tỷ lệ 03%; Ba sẹo vùng chẩm kích
thước 1,3x(0,1-0,2)cm, 0,2x0,2cm 1,2x0,2cm. tỷ l 01% mồi vết. Các
thương tích trên do vật tày, vật cạnh tác động gây ra.
3
Căn cứ Thông số 22/2019/BYT ngày 285/8/2019 của Bộ Y tế quy định
tỷ lệ phần trăm tổn thương thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định
pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Bùi Văn T tại
thời điểm giám định 06%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Ngoài thương tích đã giám định như trên, theo Hồ bệnh án của Bệnh
viện Quận A không thấy ghi nhận triệu chứng năng dấu vết thương tích
trên lâm sàng vùng mũi. Kết quả Xquang sọ thẳng nghiêng theo dõi gãy xương
mũi, đương sự không chụp MSCT. Hiện tại khám không thấy dấu vết thương
tích vùng mũi, MSCT ghi nhận gãy xương vùng mũi. Trung tâm Pháp y không
đủ sở xác định nh trạng gãy xương mũi gãy mới hay cũ, liên quan đến
vụ việc hay không.
- Ủy ban nhân dân T báo cáo số 3161/BC/UBND ngày 18/12/2024,
báo cáo vụ việc nhóm đối tượng tham gia đánh nhau dùng súng (loại súng
pháo) bắn nổ nhiều phát. Xét thấy vụ việc gây luận không tốt trong nhân dân,
ảnh hưởng xấu gây mất trật tự an toàn tại địa phương để các quan thẩm
quyền lập hồ xử theo quy định của pháp luật.
Tại quan cảnh sát điều tra, Ngọc B1, Trương Quốc B, Bùi Văn T
thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
- Vật chứng thu giữ gồm:
+ 01 (một) xe hiệu Vespa biển số 59E1 691.xx. Qua xác minh, xe
thuộc quyền sở hữu của Đoàn Ngọc Yến T đ tại quán cho nhân viên sử dụng
nên quan điều tra đã trả xe cho T; 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh nội
dung vụ việc; 01 (một) vật hình dáng giống súng bằng nhựa u đen, tay
cầm nhựa màu đỏ, nòng súng màu vàng đã qua sử dụng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu.
quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định
khởi tố điều tra đối với Ngọc B1, Trương Quốc B, Bùi Văn T về hành vi
“Gây rối trật tự công cộng”.
Tại Bản án hình sự thẩm số 165/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một
số điều năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trương Quốc B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội
“Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt
bị cáo đi thi hành án, thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày
27/12/2024 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, 01 ngày tạm giữ
bằng 01 ngày tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật hình sự năm 2015;
4
Xử phạt bị o Bùi Văn T 09 (chín) tháng về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án,
thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được trừ vào thời
hạn chấp nh hình phạt tù, 01 ngày tạm giữ bằng 01 ngày tù.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên v tội danh, hình phạt đối với
bị cáo Ngọc B1, xử vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí quyền kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/4/2026 bị cáo Trương Quc B kháng cáo xin giảm nh hình pht.
Ngày 10/4/2026 b cáo i n T kháng o xin giảm nh nh pht và xin
hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Bị cáo Bùi Văn T giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Bị cáo Trương Quốc B đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét
xử nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ vụ án, nhận thấy bản
án thẩm đã tuyên các bị cáo Trương Quc B, i n T phạm tội “Gây rối trật
tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật hình sự đúng người, đúng tội. Tại phiên
tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để
xem xét mức hình phạt cấp thẩm đã tuyên p hợp nên đề nghị áp
dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Giữ nguyên bản án thẩm.
Luật bào chữa cho bị cáo Bùi Văn T trình bày: Thống nhất về tội danh
điều khoản truy tố đối với bị cáo nhưng mức hình phạt đã tuyên với bị cáo
nghiêm khắc. Bị cáo đã ăn năn hối cải, nhận thức hành vi của mình, do không
kiềm chế được hành vi nên dẫn đến việc xô xát. Nguyên nhân lỗi của bị cáo
Ngọc B1 ghen tuông quáng khi thấy T ngồi nhậu chung với nhóm bị
cáo T đã rút súng bắn chỉ thiên, bị cáo T ra để nói chuyện với B1 nhưng B1 tiếp
tục bắn xuống đất đe doạ nên bị cáo T phải chạy lại giật khẩu súng đó, khi 2 bên
xảy ra xát bị cáo T cũng người bị đánh bị thương tích 6% nên vừa b
cáo bị hại trong vụ án. Bị cáo được H đưa đi cấp cứu trình báo công an
nên cần xem xét cho bị cáo tình tiết tự nguyện khai báo. Bị cáo đã bị tạm giữ
một thời gian, đã thấm thía lỗi lầm, hiện lao động chính trong gia đình nuôi 2
con nhỏ, đã nhận thức sâu sắc hành vi của mình nên mức án 9 tháng giam với
bị cáo quá nặng. Khi B1 cầm súng bắn lên trời gây tiếng nổ rất lớn, bằng mắt
thường không thể phân biệt được súng thật hay súng giả, nghe tiếng súng nổ thì
tinh thần của T bị kích động mới lao vào mục đích giật cây súng của B1 nên cần
áp dụng thêm tình tiết bị cáo T phạm tội trường trường hợp bị kích động tinh
thần do hành vi trái pháp luật của B gây ra; bị cáo T bị cáo phạm tội lần đầu,
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị áp dụng điểm i, s, e khoản 1,
5
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo hưởng án treo đ chăm sóc gia đình, lo cho 2 con nhỏ.
Bị cáo Bùi Văn Thuỷ không bào chữa bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Theo hồ vụ án, diễn biến hành vi
phạm tội của bị cáo xác định bị cáo T đi nhậu hành vi thân mật với chủ
quán Ngọc T, do B1 T quan hệ tình cảm nên B1 ghen tuông gọi T ra nói
chuyện khi đó T đã có hành vi thách thức rồi nói mày muốn làm t làm đi
nên B1 mới lấy sung ra bắn chỉ thiên, khi B1 đã bắn rồi T vẫn thách thức mày
bắn tao đi nên thể thấy nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị cáo T nên không
đồng ý áp dụng điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo n quan
điểm bào chữa của Luật sư. Các tình tiết giảm nhẹ khác đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét.
Các bên bảo lưu quan điểm đã trình bày.
Lời nói sau cùng bị cáo Bùi Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn c o các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phn tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các quan tiến hành tố tụng cấp
thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Quc B, Bùi Văn T trong thời hạn
luật định hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của a án cấp phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị o Trương Quốc B đã được triệu tập được tống đạt Quyết định đưa
vụ án ra xét xử hợp l nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không do. Xét
thấy, sự vắng mặt của bị cáo không do bất khả kháng hay trở ngại khách
quan sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội
đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo Trương Quốc B theo quy định tại
Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, n c vào tài liệu có trong
hồ vụ án, lời khai của c bị o đã đủ sở để kết luận:
Vào khoảng 00 giờ ngày 17/12/2024, tại quán nhậu “S Quán” địa chỉ số
113/5C đường Song Hành, p 10, B, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Quốc
B chở Ngọc B1 đến quán S thì thấy Bùi Văn T đang ôm eo Đoàn Ngọc Yến
T. Do T Ngọc B1 quan h tình cảm nên Ngọc B1 ghen tuông, giữa B1
T xảy ra mâu thuẫn. Ngọc B1 chạy ra đường trước quán lấy trong người ra
một vật thể giống súng bắn nổ 1 phát chỉ thiên, T từ trong quán chạy ra đánh
nhau với Ngọc B1. Bị cáo T dùng tay không đánh vào mặt Ngọc B1, Ngọc B1
6
dùng cán súng đánh vào đầu T gây thương tích; bị cáo Trương Quốc B dùng xe
tông T trên đường chở Ngọc B1 bỏ chạy.
Với hành vi đó, bị o Trương Quốc B đã phạm o tội “Gây rối trt tự công
cộng thuộc trường hp dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318
của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội “Gây rối trật
tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Tòa án
cấp thẩm đã xét xử các bị cáo về tội danh điều khoản nêu trên n cứ,
đúng người, đúng tội.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trương Quốc B kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt nhưng vắng mặt không cung cấp thêm tài liệu mới để xem xét; b
cáo Bùi Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ xin hưởng án treo, bị cáo trình bày
hiện nuôi 2 con nhỏ. Khi lượng hình Tòa án cấp thẩm nhận định: Bị cáo
Trương Quốc B phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp
dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51 của Bộ luật hình sự ; bị cáo Bùi Văn T nhân thân tốt, phạm tội lần
đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để
áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1
Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Quốc B 02 năm 06 tháng
tù; xử phạt b cáo Bùi Văn T 09 tháng căn cứ.
Xét thấy, nguyên nhân xảy ra vụ án một phần do bị o T đã hành động
ôm eo T khi ngồi nhậu dẫn đến Ngọc B1 ghen tuông phát sinh mâu thuẫn.
Khi Ngọc B1 gọi T ra nói chuyện thì bị cáo T lời nói thách thức xông
vào đánh nhau với Ngọc B1 nên không căn cứ áp dụng tình tiết bị cáo
phạm tội trong trường hợp bị ch động về tinh thần do hành vi trái pháp luật
của nạn nhân gây ra quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như
quan điểm của Luật bào chữa cho b cáo T đã đề nghị. Mức án Tòa án cấp
thẩm đã tuyên phạt các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi các b cáo đã thực hiện. Do đó, không căn cứ chấp nhận kháng
cáo của các bị cáo. Giữ bản án thẩm.
Do không chp nhn kháng cáo n c bị cáo không phi chu án phí hình s
phúc thm.
Các vấn đ khác không kháng o, kháng ngh đã hiu lc pháp lut.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 290 của Bộ luật Tố
tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trương Quốc B i Văn
T; Giữ nguyên bản án hình s thẩm số 165/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
7
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 7; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trương Quốc B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội “Gây
rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi
chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày
27/12/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 7; Điều 38 của
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị o đi chấp hành án
được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự căn cứ Điều 22
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản s
dụng án p lệ p t án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí nh sự phúc
thẩm.
4. c quyết định khác ca bản án thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng ngh đã hiu lực pháp lut k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao; (1)
- TAND KVA TP.HCM (1)
- VKSND Tp.HCM; (3)
- VKSND KVA TP.HCM; (1)
- P.PV06 CA Tp.HCM; (1)
- P. THADS KVA TP.HCM; (1)
- Bị cáo; (2)
- Luật sư; (1)
- Công an TP. Hồ Chí Minh; (1)
- quan THAHS; (2)
- Sở pháp; (1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (6)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thanh Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 492/2026/HS-PT Bản án số 492/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 492/2026/HS-PT Bản án số 492/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất