Bản án số 808/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 808/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 808/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 808/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Hoang A - Võ Văn G
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 808/2026/DS-PT Bản án số 808/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 808/2026/DS-PT Bản án số 808/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 808/2026/DS-PT
Ngày: 18-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hủy
quyết định hành chính cá biệt và
tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Lê Thị Kim Nga
ông Đinh Tiền Phương
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 18 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 235/2026/TLPT-DS ngày
10 tháng 4 năm 2026 về việc :“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hủy quyết định hành chính cá biệt và tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sthẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 385/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 5
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Trần Hoàng A, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh
Tây Ninh; địa chỉ cũ: Ấp D, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hoàng A: ông Nguyễn Văn H,
sinh năm 1959; địa chỉ: 3 P, phường B (cũ Phường A, Quận F), Thành phố
Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 09/6/2026).
- Bị đơn (có yêu cầu phản tố): ông Văn G, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp
A, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông G: ông Mai Thanh N, sinh năm
1989; địa chỉ: ấp V, xã A, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 06/3/2026).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông G: Hoàng Thị Ngọc C
Luật sư của Công ty TNHH Một thành viên P1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố
H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1953;
3. Bà Lê Thị D, sinh năm 1956;
Ông Đ và bà D cùng địa chỉ: ấp A, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện ủy quyền của ông Đ, D: ông Đặng Văn Q, sinh năm
1976; địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh Tây Ninh (theo Giấy ủy quyền ngày 16/4/2024).
4. Thị Thúy H2, sinh năm 1974; địa chỉ: 3 P, Phường A, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: 3 P, phường B (cũ
Phường A, Quận F), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: ông Cao Thanh L, sinh năm
1980; địa chỉ: A C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền
ngày 30/11/2023).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp A, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp Thuận Hòa 1, Hòa
Khánh, tỉnh Tây Ninh
3. Phạm Thị Kim C1, sinh năm 1966; địa chỉ: 1 T, phường N, Thành
phố Hồ Chí Minh
4. Bà Huỳnh Thị Minh H3, sinh năm 1971;
5. Ông Lê Văn N1, sinh năm 1966;
H3 ông N1 cùng địa chỉ: ấp nh Thủy, Hòa Khánh, tỉnh Tây
Ninh
6. Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1966; địa chỉ: 7 P, phường A, Thành
phố Hồ Chí Minh
7. Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1951; địa chỉ: Ấp A, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
8. Nguyễn Thị G1, sinh năm 1967; địa chỉ: 4 C, phường H, Thành phố
Hồ Chí Minh.
9. Ông Trương Tấn P, sinh năm 1966; địa chỉ: A, Khu phố C, Đ, tỉnh
Tây Ninh.
10. Ông Nguyễn Hồng T3, sinh năm 1968; địa chỉ: B Khu phố C, xã Đ,
tỉnh Tây Ninh.
11. Bà Võ Thị H4, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
3
12. Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu V, Đ, tỉnh
Tây Ninh
13. Ông Minh K, sinh năm 1953; địa chỉ: C Ấp C, B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
14. Phan Thị Ngọc H5, sinh năm 1987; địa chỉ: 1 L phường B, Thành
phố Hồ Chí Minh.
15. Văn phòng C3 (đổi n thành Văn phòng công chứng N2 ngày
24/10/2023; đổi tên thành Văn phòng công chứng Đ2 ngày 06/10/2025); địa chỉ:
ấp G, xã H, tỉnh Tây Ninh.
16. Văn phòng C4 (nay Văn phòng C5); địa chỉ: ấp B, Đ, tỉnh Tây
Ninh.
17. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T.
18. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An; địa chỉ trụ sở: 666 Khu phố
C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
19. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; địa chỉ trụ sở: 666 Khu
phố C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, ông Trần Hoàng A; bị đơn ông Võ Văn G;
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 13/7/2020, các đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu
khởi kiện ghi ngày 29/11/2023, ngày 16/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ
án tại cấp thẩm, nguyên đơn ông Trần Hoàng A người đại diện theo ủy
quyền là ông Lê Hoàng V trình bày:
Ngày 12/9/1997, ông Văn G được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số phát hành L 235187, số
vào sổ 477 gồm 05 thửa đất số 388, 389, 391, 392 376 tờ bản đồ số 01 tại
H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Năm 2008, ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng 04 thửa đất 388,
389, 392 376 với diện tích 15.000m
2
của ông Văn G, theo Hợp đồng mua
bán đất bằng giấy tay ghi ngày 15/3/2008, giá chuyển nhượng
500.000.000đ/ha. Ông H đã giao đủ tiền cho ông G.
Ông H ông G đã Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02
thửa 392 và 376, được UBND H chứng thực số 722/2008 ngày 28/3/2008
(sau đây viết tắt Hợp đồng số 722/2008). Đến ngày 29/5/2008, ông H được
UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số phát hành AM 722169, s vào sổ “H”
4
05090, tổng diện tích 6.798m
2
, trong đó thửa 392 diện tích 3.578m
2
và thửa 376
diện tích 3.220m
2
.
Ông Trần Hoàng A nhận đứng tên dùm ông Nguyễn Văn H 02 thửa 388
389, nên ông Nguyễn Hoàng A1 (sau này được chỉnh lý thành Trần Hoàng A) và
ông Văn G đã Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02 thửa 388
và 389, được UBND xã H chứng thực số 723/2008 ngày 28/3/2008 (sau đây viết
tắt là Hợp đồng số 723/2008). Ngày 16/9/2008, ông Hoàng A được UBND
huyện Đ cấp GCNQSDĐ số phát hành AM 722171, số vào sổ “H” 06222 đối
với thửa 388 diện tích 6.143m
2
GCNQSDĐ số phát hành AM722172, số vào
sổ “H” 06221 đối với thửa 380 diện tích 2.165m
2
, cùng với các tài liệu về việc
chỉnh số hiệu thửa đất từ thửa số 389 thành thửa số 380. tin tưởng việc
chỉnh số hiệu thửa đất của UBND huyện Đ đúng, nên ông Hoàng A không
có thắc mắc gì.
Ông H đã được ông Văn G bàn giao quản lý sử dụng đất. Sau khi nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đề nghị của ông Văn G, ông Hoàng
A và ông H đã cho vợ chồng ông G thuê lại đất để canh tác.
Đến đầu năm 2020, khi kiểm tra bản đồ địa chính xã H thì ông H biết được
thửa 380 diện tích 1.889m
2
cũng được cấp GCNQSDĐ cho ông Văn H1
ông H1 đang trồng dừa trên đất. Nguồn gốc đất của ông Văn H1 do ông
H1 nhận chuyển nhượng tngười khác vào năm 2016, không phải nhận chuyển
nhượng từ ông G. Ngoài ra, trên GCNQSDĐ, tông Văn G vẫn đứng tên
chủ sử dụng 02 thửa đất số 389 và 391.
Do đến năm 2016 thì ông H1 mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 380; đồng thời, sau khi chuyển nhượng 04 thửa đất cho ông H thì
ông Võ Văn G chỉ còn lại 01 thửa đất duy nhất là thửa 391, nên ông Trần Hoàng
A khởi kiện yêu cầu:
- Hủy GCNQSDĐ số phát hành CE 796355, số vào sổ CS 00884 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Văn H1 vào ngày 25/11/2016 đối
với thửa đất số 380.
- Hủy bỏ Quyết định nhập thửa 379 380 thành thửa 777 tờ bản đồ số 01
xã H cho ông Văn H1.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn H1, bà
Nguyễn Thị T1 với bà Nguyễn Thị G1 tại thửa 777.
- ng nhận Hợp đồng số 723/2008 đối với thửa 389 (được UBND huyện
Đ, tỉnh Long An chỉnh lý lại thành thửa 380) giữa bên chuyển nhượng là ông
Văn G bên nhận chuyển nhượng ông Trần Hoàng A (trước đây tên là
Nguyễn Hoàng A1) là hợp pháp.
- Công nhận GCNQSDĐ số phát hành AM722172 do UBND huyện Đ, tỉnh
Long An cấp ngày 16/9/2008 cho ông Trần Hoàng A (Nguyễn Hoàng A1)
hợp pháp.
5
- Buộc ông Văn H1 những quan liên quan khác (nếu có) giao
thửa đất số 380 cho ông Trần Hoàng A.
Theo đơn phản tố ghi ngày 28/9/2022, đơn bổ sung đơn phản tố ghi ngày
04/01/2023, ngày 06/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm,
bị đơn ông Văn G người đại diện theo ủy quyền tại cấp thẩm
Huỳnh Vũ Hà T4 trình bày:
Ông G xác định vào tháng 3 năm 2008 chuyển nhượng các thửa đất cho
ông H như ông Hoàng A trình bày là đúng. Hơn 10 năm sau, ông Hoàng A khởi
kiện với lý do đất thực tế bị thiếu thấy hộ lân cận số thửa đất bị trùng
không hợp lý, bởi việc thay đổi số thửa không thay đổi bản chất của giao
dịch: bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua đã nhận đất tự đi làm GCNQSDĐ,
trong đơn đề nghị chỉnh số thửa 389 thành 380 không phải chữ viết chữ
ký của ông G.
Nếu ông Trần Hoàng A và ông Nguyễn Văn H cho rằng khi chuyển
nhượng với ông Văn G bị thiếu đất, nghĩa tại thời điểm chuyển nhượng
đối tượng của hợp đồng không tại thời điểm kết, thuộc trường hợp Hợp
đồng dân shiệu do đối tượng không thể thực hiện được”. Do đó, căn cứ
Điều 411 Bộ luật Dân sự năm 2005, ông Võ Văn G đề nghị Tòa án:
- hiệu và hủy hợp đồng mua bán đất (viết tay) ngày 15/03/2008 giữa
ông Võ Văn G và ông Nguyễn Văn H với diện tích mười lăm ngàn m
2
chẳn.
- hiệu hủy Hợp đồng số 722/2028 giữa ông Võ Văn G và ông
Nguyễn Văn H và Hợp đồng số 723/2028 giữa ông Văn G ông Nguyễn
Hoàng A1 (nay là Trần Hoàng A).
- Hủy các GCNQSDĐ cấp cho ông Trần Hoàng A cho ông Nguyễn Văn
H.
- Ông Văn G hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 500.000.000
đồng, buộc ông Nguyễn Văn H, ông Trần Hoàng A phải giao trả lại cho ông
Văn G toàn bộ diện tích đất đã nhận.
- Ông Văn G được quyền liên hcác quan Nhà nước thẩm quyền
để được cấp lại GCNQSDĐ.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông G xác định
việc chuyển nhượng giữa ông Gông H đã hoàn thành, ông G đã nhận đủ tiền
đã thực hiện xong trách nhiệm của người bán giao đất cho ông H, nên ông
G rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố.
Ông G đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật đối với yêu cầu của ông
H1.
Đối với thửa 376, ông G đã được cấp GCNQSDĐ đã chuyển nhượng
cho ông H, nay ông H cũng đứng tên trên GCNQSDĐ, còn bà D không thửa
đất nào số 376 và chưa được nhà nước cấp GCNQSDĐ nên ông G không đồng ý
với yêu cầu của bà D.
6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Theo các đơn phản tố ghi ngày 03/01/2025, ngày 12/5/2025, ông Nguyễn
Văn H và bà Cù Thị Thúy H2 đã trình bày:
Ông Trần Hoàng A em hcủa ông H. Ông H thống nhất trình bày của
ông Trần Hoàng A về quá trình giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với ông Văn G. Khi mua, ông G dẫn ông H đi xem vttừng thửa
đất. Do nhà xa không điều kiện canh tác nên sau khi mua, ông H cho vợ
chồng ông G thuê lại để canh tác, Nguyễn Thị T vợ của ông G hợp
đồng mướn đất. Đến năm 2019, khi ông H không cho vợ chồng ông G thuê đất
nữa thì cũng lúc phát hiện đất bị vợ chồng D canh tác trồng lúa trên thửa
376.
Ông H H2 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Thị D ông Trần
Văn Đ hoàn trả thửa đất 376. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của
ông H1, D ông Đ, thì ông H yêu cầu ông G, T liên đới hoàn trả bồi
thường giá trị đất thửa 376 và thửa 380 theo Chứng thư Thẩm định giá.
Theo đơn yêu cầu độc lập ghi ngày 16/3/2022, ông Lê Văn H1 trình bày:
Ông đang đứng tên trên GCNQSDĐ thửa 777 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp ngày 16/02/2022. Thửa 777 có nguồn gốc nhập từ 02 thửa 379
380. Nguồn gốc thửa 379 thửa 380 đầu tiên của Hồ Thị L1, sau đó
chuyển nhượng qua nhiều lần cho nhiều người, đến ông nhận chuyển nhượng từ
Phạm Thị Kim C1, theo hợp đồng đã được Văn phòng C6 chứng thực ngày
20/10/2016. Từ khi mua đất, ông sử dụng trồng dừa cho đến nay.
Hiện nay, ông phát hiện thửa 380 lại do ông Trần Hoàng A đứng tên trên
GCNQSDĐ ngày 16/9/2008, nguồn gốc do ông Võ Văn G chuyển nhượng
cho ông Trần Hoàng A ngày 23/8/2008. Tại thời điểm ông G chuyển nhượng
cho ông Hoàng A, thì ông G đứng tên thửa 389 nhưng UBND H lại chỉnh
từ thửa 389 thành thửa 380 trùng lặp với thửa đất s380 do Hồ Thị L1 đang
đứng tên thời điểm 2008.
Hiện nay, ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 777 cho bà Nguyễn Thị
G1, ông đã nhận tiền xong nhưng bà G1 chưa đăng ký sang tên được vì đất đang
bị tranh chấp.
Nay ông khởi kiện yêu cầu:
- hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Hoàng A với ông Võ Văn G ngày 23/8/2008 do UBND xã H chứng thực đối vi
thửa đất 380.
- Hủy GCNQSDĐ do ông Trần Hoàng A đứng tên thửa 380.
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 01/3/2022, đơn yêu cầu độc lập ghi ngày
17/5/2023, ông Trần Văn Đ Thị Diệu D2 ông Đặng Văn Q đại diện
theo ủy quyền trình bày:
7
Vợ chồng ông Trần Văn Đ Thị D chủ sử dụng của thửa đất số
376, đất trồng lúa diện tích 3.220m
2
, nguồn gốc vợ chồng ông Đ mua
của người khác vào năm 1983. Trên đất, có cất nhà ông Đ D đang ở. Năm
1997, D đăng đất đai được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp trên
GCNQSDĐ ngày 12/9/1997 gồm 08 thửa đất với tổng diện tích 22.456m
2
,
nhưng trong giấy không có thửa 376 tờ bản đồ số 1 mà có thửa 376 tờ bản đồ số
4. Sau khi nhận giấy, ông Đ và bà D không biết xem về số hiệu thửa đất để kiểm
tra đối chiếu với đất thực tế. Ông Đ D sử dụng thửa đất số 376 từ năm
1983 đến nay trên 30 năm, không có bất cứ ai tranh chấp.
Sau khi phát hiện thửa 376 được cấp GCNQSDĐ ông Nguyễn Văn H, bà D
nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An tranh chấp vụ án hành
chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn
H. Do ông H đứng tên thửa đất trên xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng với
ông Võ Văn G, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An chuyển hồ sơ về Tòa án nhân
dân huyện Đức Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh) nhập vụ án
để tiếp tục giải quyết.
Nay ông Đ, bà D yêu cầu:
- Hủy một phần GCNQSDĐ số phát hành AM 722169, số vào sổ “H”
05090 do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Văn H ngày
29/5/2008 đối với thửa đất số 376;
- Hủy một phần GCNQSDĐ số phát hành L 235187 do UBND huyện Đ,
tỉnh Long An cấp cho ông Văn G ngày 12/9/1997 đối với thửa đất số 376;
- hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Võ Văn G với ông Nguyễn Văn H đối với thửa đất số 376;
- Công nhận cho ông Trần Văn Đ, Thị D được quyền sử dụng đất
thửa 376 và liên hệ với quan thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị T trình bày:
Theo bản tự khai ngày 18/12/2020, T thống nhất lời khai ông G. Theo
bản khai ngày 27/11/2023 T thay đổi nội dung trình bày, xác định khi ông G
chuyển nhượng quyền sử dụng đất 04 thửa số 376, 389, 388, 392 cho ông
Hoàng A và ông H thì bà không biết, không nhận tiền.
Đối với thửa 389 hiện nay ông G đang đứng tên trên GCNQSDĐ vợ
chồng đang quản sử dụng, nguồn gốc là của Thị D, D được
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp GCNQSDĐ ngày 12/9/1997, số thửa 380,
diện tích 1.713m
2
.
Năm 2008, thửa 380 của bà D được đổi thành thửa 389, có diện tích
3.301m
2
. Ngày 04/02/2008, bà Thị D chuyển nhượng thửa đất 389 cho
Thị Thùy D3. Ngày 19/6/2008, bà Lê Thị Thùy D3 chuyển nhượng thửa 389 cho
Võ Thị H4. Ngày 21/02/2014, bà Võ Thị H4 chuyển nhượng thửa 389 cho
8
Phan Thị Ngọc H5. Ngày 07/5/2016, Phan Thị Ngọc H5 chuyển nhượng 389
cho ông Võ Văn G.
Hiện trạng đất của các hộ lân cận đều nguồn gốc ranh giới ràng.
Ông Hoàng A cho rằng diện tích đất ông Hoàng A mua của ông G đến khi
đo đạc thực tế bị thiếu so với diện tích trên GCNQSDĐ thì không thể đổ lỗi cho
gia đình của được, sau khi mua, ông Hoàng A đều không chuyển nhượng
cho ai, thủ tục chuyển nhượng cũng do tự ông Hoàng A chịu trách nhiệm đi làm,
đất đã được giao hơn 10 năm, sử dụng ổn định. Thửa đất do chỉnh nên trùng
số thửa gây nhầm lẫn cũng đã được quan nhà nước xác minh. Do đó,
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng A và ông H.
Bà cũng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ và bà
Thị Diệu Đ1 thửa đất 376, bởi vì thực tế ranh giới đất do gia đình bà sử dụng
do ông Đ, D s dụng ràng, chỉ có sự nhầm lẫn về số thửa đất trên
GCNQSDĐ.
Nguyễn Thị G1 ông Trương Tấn P trình bày: ngày 08/11/2022, vợ
chồng ông nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất thửa 777 của ông
Văn H1. Trong trường hợp căn cứ Tòa án tuyên hiệu hợp đồng này thì vợ
chồng chưa yêu cầu ông H1 phải trả tiền trong vụ án này. Ông yêu
cầu xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Hoàng T5 trình bày: ngày 17/3/2016, ông nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa số 389 diện tích 3.301m
2
của Phan Thị Ngọc
H5 với giá 150.000.000 đồng, nhưng hai bên chỉ lập hợp đồng ủy quyền. Sau đó,
ông chuyển nhượng lại cho ông G giá 160.000.000 đồng. Ông đại diện bà H5
hợp đồng chuyển nhượng với ông G, ông đã giao đất cho ông G ông G được
cấp GCNQSDĐ từ năm 2016. Ông xác định không tranh chấp trong vụ án
này nên ông xin xét xử vắng mặt.
Nguyễn Thị T1 (vợ của ông Văn H1) trình bày: thống nhất với lời
trình bày của ông H1, bà không bổ sung gì thêm. Bà xin xét xử vắng mặt.
Phạm Thị Kim C1 trình bày: vào năm 2012, nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất Đ, Long An nhưng không nhớ thửa đất số mấy, khi nhận
chuyển nhượng xong thì bà đã chuyển nhượng lại cho người khác. Nay ông G,
ông Hoàng A tranh chấp đất với nhau cho rằng liên quan đến thửa đất của bà đã
mua và bán thì bà không có ý kiến gì. Bà xin xét xử vắng mặt.
Huỳnh Thị Minh H3, Thị Thùy D3, Thị H4, Phan Thị
Ngọc H5 Nguyễn Thị Hồng T2: đã được Tòa án cấp thẩm triệu tập hợp
lệ nhưng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến về vụ án.
Hồ Thị L1 trình bày: năm 1980, tạo lập được diện tích khoảng 40
cao, nay là các thửa 378, 380 và khoảng 50 60 cao nay là thửa 76 tờ bản đồ 01
H. Năm 1997, bà đi khai đăng thì được cấp GCNQSDĐ thửa 264,
381 và thửa 76. Tuy nhiên, thửa 381 264 đất của ông Hồ Phước H6 đang
quản sử dụng cấp nhầm cho bà, còn thửa đất 380 đất của bà, vị t
nằm giữa đất của D và ông H6. Năm 2008, do nhu cầu chuyển nhượng
9
quyền sử dụng đất cho ông N1, gia đình đưa toàn bộ GCNQSDĐ cho ông
N1 làm thủ tục chuyển nhượng, nên không hiểu về việc điều chỉnh số thửa
đất. đã chuyển nhượng giao đất cho ông N1 xong, sau đó ông N1 chuyển
nhượng cho nhiều người, đến nay do ông H1 đứng tên thửa 380. Thực tế thửa
đất 380 đất của bà, còn ông G đất vị trí sau thửa 380, hiện nay thửa
388. Đối với ông H1 hiện đứng tên thửa 379, 380 đúng vị trí phần đất của
chuyển nhượng cho ông N1 trước đây. không tranh chấp trong vụ án
này. Bà xin xét xử vắng mặt.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L, nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường
tỉnh T trình bày tại Công văn số 6293/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 26/8/2024 như
sau:
Ngày 12/9/1997, ông Văn G được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành L 235187, số vào sổ 477 cấp
ngày 12/9/1997 trong đó thửa 388 diện tích 6.143m
2
, thửa số 389 diện tích
2.165m
2
, thuộc tờ bản đồ 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 28/3/2008, ông Văn G lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho ông Trần Hoàng A thửa số 388, 389 nêu trên (kèm theo đơn chỉnh
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa 389 thành thửa 380 xác nhận
của UBND H ngày 22/3/2008) được UBND xã H chứng thực số 723/2008,
quyển số 02TP/CC-SCT/HĐGD.
Ngày 16/9/2008, ông Nguyễn Hoàng A1 (sau đó đính chính tên Trần
Hoàng A) được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa số 380 số phát hành AM 722172, số vào sổ “H” 06221
thửa số 388 số phát hành AM 722171 số vào sổ “H” 06222.
Đối với trường hợp thửa 380 điều chỉnh cho bà Hồ Thị L1:
Ngày 12/9/1997, Hồ Thị L1 đơn xin điều chỉnh từ thửa 264, 381, 76
tờ bản đồ 01 diện tích 9.140m
2
, loại đất LUA thành thửa 377, 378, 379, 380 tờ
bản đồ 01 H, huyện Đ, tỉnh Long An, loại đất LUA. UBND huyện Đ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/2008, số phát hành AO 073596
diện tích 2.754m
2
, trong đó, thửa 377 diện tích 234m
2
thửa 378 diện tích
2.520m
2
; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AO 073597 diện tích
2.724m
2
, trong đó thửa 379 diện tích 835m
2
và thửa 380 diện tích 1.889m
2
.
Ngày 25/02/2009, Hồ Thị L1 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho Huỳnh Thị Minh H3 thửa 379 thửa 380, được UBND H
chứng thực số 81/2009, quyển số 01TP/CC/HĐGD được Văn phòng đăng
quyền sử dụng đất tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 10/6/2009 cho bà Huỳnh
Thị Minh H3.
Ngày 12/12/2013, Huỳnh Thị Minh H3 cùng chồng ông Văn N1
lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Hồng T2
thửa 379 thửa 380 được Văn phòng C5 chứng thực số 137977, quyển 06
TP/CC-SCC/HĐGD và được Văn phòng đăng đất đai huyện C5 chỉnh
biến động ngày 03/01/2024 cho bà Nguyễn Thị Hồng T2.
10
Ngày 27/3/2014, Nguyễn Thị Hồng T2 lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho Phạm Thị Kim C1 thửa 379 thửa 380 được Văn
phòng C7 tỉnh Long An công chứng số 2705, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD
và được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BS 910664 cấp
ngày 21/4/2014 cho bà Phạm Thị Kim C1.
Ngày 20/10/2016, Phạm Thị Kim C1 lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Văn H1 thửa 379 thửa 380 được Văn phòng
C7 tỉnh Long An (nay là n phòng C6) công chứng số 8454, quyển số
17TP/CC-SCC/HĐGD, được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CE 796355 thửa 380 và Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số phát hành CE 796356 thửa 379, cấp cùng ngày
25/11/2016 cho ông Lê Văn H1.
Ngày 17/01/2022, ông Văn H1 có đơn đề nghị hợp thửa đất 379 và thửa
380 thành thửa 777 với tổng diện tích 2.724m
2
được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DD 540000
ngày 16/02/2022 cho ông Lê Văn H1.
Trường hợp thửa 380 cấp cho bà Lê Thị D:
Ngày 12/9/1997, bà Lê Thị D được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành L 235198 trong đó có thửa 380 diện
tích 1.713m
2
tờ bản đồ 01 xã H, loại đất LUA.
Ngày 10/01/2008, D được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L đính
chính số thửa 380 thành 389.
Ngày 24/01/2008, Thị D được Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện Đ ký điều chỉnh diện tích thửa 389 từ 1.713m
2
thành 3.301m
2
.
Ngày 04/4/2008, Thị Diệu L2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thùy D1 thửa số 389 nêu trên, được UBND H
chứng thực số 231/2008 quyển số 02TP/CC-SCT/HĐGD và được UBND huyện
Đ, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM
597514 cấp ngày 28/3/2008 cho bà Nguyễn Thị Thùy D1.
Ngày 19/6/2008, Nguyễn Thị Thùy D1 lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị H4 thửa 389 và được UBND xã H chứng thực
số 1612/2008, quyển số 03TP/CC-SCC-SCT/HĐGD được Văn phòng đăng
quyền sdụng đất huyện Đ chỉnh biến động do chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 15/7/2008 cho Võ Thị H4.
Ngày 21/02/2014, Thị H4 cùng chồng ông Minh K lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Phan Thị Ngọc H5 thửa đất 389
nêu trên được Văn phòng C5 chứng thực số 1399, quyển số 01 TP/CC-
SCC/HĐGD được UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số phát hành BS 910795 ngày 14/5/2014 cho Phan Thị
Ngọc H5.
11
Ngày 07/5/2016, Phan Thị Ngọc H5 (có người đại diện là Nguyễn
Hoàng T5 theo hợp đồng ủy quyền số 3329 do Văn phòng C5 ngày
17/3/2016) lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Văn G
thửa 389 nêu trên, được Văn phòng C5, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD
được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số phát hành CĐ 851342 ngày 26/7/2016 cho ông Võ Văn G.
UBND huyện Đ (nay là UBND xã Đ) có văn bản trình bày tại Công văn số
1984/UBND-NC ngày 05/3/2021 Công văn số 16032/UBND-NC ngày
24/12/2021 như sau:
Ngày 12/9/1997, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
cho ông Văn G diện tích 17.368m
2
gồm 05 thửa đất số 376, 388, 389, 391,
392 tờ bản đồ 01 xã H.
Ngày 28/3/2008, ông G hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông Trần Hoàng A các thửa 388, 389. ng thời điểm thực hiện song song
thủ tục đính chính thửa đất từ thửa 389 thành thửa 380, được UBND H xác
nhận ngày 22/3/2008. Đến ngày 16/9/2008, UBND huyện Đ ban hành Quyết
định số 16574/QĐ-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Trần Hoàng A tại các thửa 380, 388 tờ bản đồ 01 H với diện ch
2.165m
2
, loại đất LUA.
Việc ngày 11/12/2008 UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho Hồ Thị L1 thửa 380 tờ bản đồ 01 H diện tích 1.885m
2
loại
đất HKN căn cứ vào hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
UBND xã H xác nhận ngày 05/12/2008.
Việc UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 376 tờ
bản đồ 01 xã H cho ông Võ Văn G ngày 12/9/1997 là căn cứ vào hồ sơ xét duyệt
của Hội đồng đăng ký xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã
H Danh sách những hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo mẫu Trung ương tại ấp A xã H, trong đó có hộ ông G số thứ tự 85.
UBND xã H (nay sát nhập về xã Đ) trình bày tại Văn bản số 30/BC-UBND
ngày 20/5/2022, nội dung: thửa 777 tờ bản đ01 H (nhập từ thửa 379
380) do ông Văn H1 đang quản sử dụng nguồn gốc nhận chuyển
nhượng từ bà Phạm Thị Kim C1 ngày 20/10/2016. Thửa đất này đăng ký lần đầu
là của bà Hồ Thị L1. Đối với việc thửa đất 380 có dấu hiệu chỉnh sửa trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất Quyết định cấp giấy nguồn gốc ông Trần
Hoàng A nhận chuyển nhượng thửa 389 từ ông Văn G. Thực tế thửa 777
giáp ranh thửa 389 tờ bản đồ 01 H. Hai thửa đất này giáp ranh với nhau
không trùng lắp.
Văn phòng C8 trình bày: ngày 08/11/2022, Văn phòng C3 công chứng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất thửa đất 777 tờ bản đồ số 01 H
giữa Nguyễn Thị T1 ông Văn H1 với Nguyễn Thị G1. Việc công
chứng là đúng quy định. Văn phòng C8 đề nghị được xét xử vắng mặt.
12
Văn phòng C4 trình bày: Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5) công chứng
các hợp đồng liên quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa
389, 380 tờ bản đồ 01 H đúng quy định. Văn phòng C4 đề nghị được xét xử
vắng mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều
227, Điều 228, điểm c khoản 1 Điều 217 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 130, Điều 131, Điều 500, Điều
501, Điều 501 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 và Điều 166 Luật Đất đai
năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng A về việc tranh
chấp“Quyền sử dụng đất & Hủy quyết định hành chính cá biệt” với Văn H1.
Các yêu cầu ông Trần Hoàng A không được chấp nhận như sau:
1.1. Hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất số CE 796355, số vào sổ
GCN: CS 00884 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Lê Văn H1
vào ngày 25/04/2016, đối với thửa đất số 380, tờ bản đồ số 01 đất tọa lạc tại
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh Tây Ninh), hiện đang do ông
Văn H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2016.
1.2. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứng thực số
723/2008 ngày 28/03/2008 của UBND H (nay là Đ) đối với thửa 389
(được UBND huyện Đ chỉnh lại thành thửa 380) tờ bản đsố 1 H, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) giữa bên chuyển nhượng là ông
Văn G bên nhận chuyển nhượng ông Trần Hoàng A (trước đây tên
Nguyễn Hoàng A1) là hợp pháp.
1.3.Công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM722172, vào sổ
cấp GCN số H06221 ngày 16/9/2008 do UBND huyện Đ cấp cho ông Trần
Hoàng A (Nguyễn Hoàng A1) là hợp pháp.
1.4. Buộc ông Văn H1 bàn giao thửa đất số 380 tờ bản đồ s01 H,
huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) cho ông Trần Hoàng A.
1.5. Hủy bỏ Quyết định nhập thửa 379 và 380 thành thửa 777 tờ bản đồ số
01 H cho ông Văn H1 theo giấy chứng nhận quyền s dụng đất số
DD540000 ngày cấp 16/12/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp.
1.6. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn H1,
Nguyễn Thị T1 với Nguyễn Thị G1 tại thửa 777 tờ bản đồ 01 H, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
2. Đình chỉ các yêu cầu phản tố của ông Võ Văn G bao gồm:
13
2.1. Tuyên vô hiệu và hủy hợp đồng mua bán đất (viết tay) ngày 15/03/2008
giữa tôi và ông Nguyễn Văn H với diện tích "mười lăm ngàn m
2
chẵn".
2.2. Tuyên hiệu hủy c hợp đồng chuyển nhượng công chứng ngày
28/3/2008 tại UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh Tây Ninh),
gồm:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Võ Văn G ông
Nguyễn Văn H, số chứng thực 722/2008 tại UBND H (nay Đ) gồm 02
thửa số: 376 392 giấy chứng nhận được cấp cho ông Nguyễn Văn H diện
tích sau khi tách sổ là 6.798m
2
.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Võ Văn G ông
Trần Hoàng A, số chứng thực 723/2008 tại UBND H (nay Đ) gồm 02
thửa số: 388 389 tờ bản đồ 01 H (nay Đ) diện tích 8.308m
2
(thửa 389 điều chỉnh thành 380).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AM 722171 do UBND huyện
Đ cấp cho ông Trần Hoàng A ngày 16/9/2008 thửa 388 (diện tích 6143m
2
).
- Hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số AM 722172 do UBND huyện Đ cấp cho
ông Nguyễn Hoàng A1 ngày 16/9/2008 (diện tích 2165m
2
).
- Hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số "H 05090 của UBND huyện Đ cấp cho
ông Nguyễn Văn H có 2 thửa, diện tích 6.798 m
2
ngày 29/5/2008.
- Ông Văn G hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền 500.000.000
đồng (Năm trăm triệu đồng), buộc ông Nguyễn Văn H, ông Trần Hoàng A phải
giao trả lại cho ông Võ Văn G toàn bộ diện tích đất đã nhận.
- Ông Văn G được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân huyện Đ, Ủy ban
nhân dân tỉnh L, Văn phòng đăng đất đai tỉnh L, Chi nhánh văn phòng đăng
đât đai huyện Đ, c quan Nhà nước thẩm quyền liên quan để tiến hành
lập mọi hồ sơ, thủ tục đề thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích các thửa đất
đã chuyển nhượng cho ông Trần Hoàng A, ông Nguyễn Văn H theo quy định
của pháp luật.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn H1 đối với các yêu cầu
sau:
3.1. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Hoàng A với ông Văn G được UBND H, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh
Tây Ninh) chứng thực ngày 23/8/2008 đối với thửa đất 380 (thửa 389 điều chỉnh
thành 380) tờ bản đồ số 01 H (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
3.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Hoàng A đứng
tên thửa 380 tờ bản đồ số 01 H (nay Đ) được cấp ngày 16/9/2008 do
UBND huyện Đ cấp.
4. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị D và ông Trần Văn Đ về việc:
14
4.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 722169, số vào sổ H
05090 do UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn H ngày 29/5/2008 đối với
Thửa đất số 376, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
4.2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 235187 do UBND
huyện Đ cấp cho ông Văn G ngày 12/9/1997 đối với thửa đất số 376, tờ bản
đồ số 1, đất tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây
Ninh);
4.3. hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Văn G với ông Nguyễn Văn H đối với Thửa đất số 376, tờ bản đồ số 1,
đất tọa lạc tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh);
4.4. Công nhận cho ông Trần Văn Đ, bà Thị D được quyền sử dụng đất
thửa 376 tờ bản đồ số 01 xã H (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) ông Đ và bà D được
liên hệ với quan thẩm quyền để đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật. Vị trí đất theo Mãnh trích đo địa chính do
Công ty TNHH Đ3 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ
duyệt ngày 02/10/2023.
5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về việc đề nghị Tòa án
buộc Thị D ông Trần Văn Đ hoàn trả thửa đất 376 tờ bản đồ số 01 tại
xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
6. Về xử lý hậu quả vô hiệu các hợp đồng:
6.1. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần
Hoàng A với ông Văn G được UBND H, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh
Tây Ninh) chứng thực ngày 23/8/2008 đối với thửa đất 380 tờ bản đồ số 01 xã H
(nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
6.2. hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Văn G với ông Nguyễn Văn H đối với Thửa đất số 376, tờ bản đồ số 1,
đất tọa lạc tại Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Buộc Nguyễn Thị T ông Văn G liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn
Văn H số tiền 259.700.000 đồng (số tiền nhận chuyển nhượng 2008) +
2.578.623.800 đồng (tiền trượt gđất) = 2.838.323.800 đồng (Hai tỷ tám trăm
ba mươi tám triệu ba trăm hai mươi ba ngàn tám trăm đồng).
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tính lãi chậm thi hành.
7. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H
Thị Thúy H2 về việc yêu cầu ông Văn G Nguyễn Thị T phải bồi
thường thiệt hại với số tiền nguyên giá hai thửa 376 389 tờ bản đồ 01 H
(nay Đ) với tổng cộng stiền 5.416.947.000 đồng (nguyên giá), chỉ chấp
nhận 2.838.323.800 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi tám triệu ba trăm hai mươi
ba ngàn tám trăm đồng), số tiền không được chấp nhận 2.578.623.200 đồng
(Hai tỷ năm trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn hai trăm
đồng).
15
8. V chi phí thẩm định, đo đạc, định giá lập bản vẽ: Tổng chi phí
104.000.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu đồng). Buộc ông Văn G phải chịu
toàn bộ chi phí này nên ông G phải nộp 94.000.000 đồng đhoàn lại ông H1
nộp 14.000.000 đồng; ông Hoàng A 60.000.000 đồng; D 20.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.
9. Về án phí dân sự thẩm: ông G phải chịu 600.000 đồng án phí hiệu
hợp đồng. Ông G T phải chịu 88.766.476 đồng án phí hoàn trả tiền cho
H2 ông H. Tổng cộng ông G T phải chịu 89.366.476 đồng. Số tiền
này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông G đã nộp là 13.500.000 đồng
theo các biên lai số 0004834, 0004835, 0004836 cùng ngày 11/6/2024 tại Chi
cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh), biên
lai số 0007696 và 0007596 cùng ngày 04/01/2023 tại Chi cục thi hành án huyện
Đức Hòa (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh), biên lai số 0000025 ngày
28/9/2022 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh). Như vậy ông G T phải nộp tiếp 75.866.476 đồng sung vào
Ngân sách Nhà nước.
Ông H, bà D, ông Đ được miễn án phí.
Thị Thúy H2 phải chịu 41.786.232 đồng án phí dân sự phần không
chấp nhận yêu cầu. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
57.750.000 đồng theo biên lai số 0007361 ngày 23/6/2025 tại Chi cục thi hành
án huyện Đức Hòa (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). H7 lại H2
15.963.768 đồng theo Biên lai nêu trên.
Ông Trần Hoàng A phải chịu 1.200.000 đồng án phí không chấp nhận yêu
cầu sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí ông Trần Hoàng A đã nộp theo biên lai số 0004568 0004567
cùng ngày 16/5/2024; biên lai số 0006992 và 0006992 cùng ngày 03/12/2020 tại
Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh). Như vậy ông Trần Hoàng A đã nộp xong.
H7 lại cho ông Văn H1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai
số 0009920 ngày 16/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc
thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/8/2025, nguyên đơn, ông Trần Hoàng A người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn H đơn kháng cáo một phần bản án
thẩm.
Ngày 20/8/2025, bị đơn, ông Võ Văn Gngười có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Nguyễn Văn H ông Cao Thanh L thống nhất trình bày: ông Trần
Hoàng A ông Nguyễn Văn H chỉ kháng cáo một phần bản án thẩm liên
16
quan đến giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, cụ thể là yêu cầu ông
Văn G Nguyễn Thị T phải liên đới bồi thường 100% thiệt hại theo giá
trị đất thửa 389 (chỉnh thành thửa 380) thửa 376 theo giá trị đã định giá
hiện nay tổng cộng 5.416.947.000 đồng. Đối với các phần quyết định còn lại
của bản án sơ thẩm thì ông Hoàng A ông H không kháng cáo. Ông H rút lại
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số 380 của ông
Văn H1 đứng tên, chỉ yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm
thời đã áp dụng đối với thửa 389 ông G đang đứng tên trên GCNQSDĐ để
đảm bảo thi hành án cho ông H đnghị được nhận lại số tiền đã nộp thực
hiện biện pháp bảo đảm.
Ông Hoàng A chỉ người đứng tên dùm ông Nguyễn Văn H đối với diện
tích đất ông H đã mua của ông Văn G theo hợp đồng mua bán đất bằng
giấy tay ghi ngày 15/3/2008. Toàn bộ giao dịch do vợ chồng ông H, H2
trực tiếp thỏa thuận thanh toán tiền với ông G. Tại thời điểm nhận chuyển
nhượng, ông G chèo xuồng chở ông H đi xem giao đất gồm 02 khu, trong
đó thửa 376 392 nằm 1 khu, còn thửa 388 389 (khi làm giấy đổi thành
thửa 380) 01 khu, nhưng do thời gian đã lâu nên ông H không nhớ chính xác
giữa các thửa ranh giới ràng hay không. Theo thỏa thuận, giá chuyển
nhượng 500.000.000đ/ha. Tính theo diện ch trên GCNQSDĐ tổng cộng
15.106m
2
, nên thực tế ông H đã trả cho ông G số tiền hơn 750.000.000 đồng,
còn trên 02 hợp đồng được UBND chứng thực thì ghi chẳn 350.000.000
đồng 400.000.000 đồng. Sau khi mua đất, do xa nên ông H không điều
kiện canh tác. Một thời gian sau đó, khi thăm đất thì ông H phát hiện vợ chồng
ông G, bà T vẫn canh tác, nên bà T đã ký hợp đồng thuê đất với ông H vào ngày
24/3/2013. Khi ông G bán đất cho ông H diện tích 15.000m
2
, nhưng khi T
“Giấy hợp đồng cho mướn đất” với ông H, thì T chỉ mướn lại diện tích
13.000m
2
, nên việc xác định ông G lỗi, lừa dối ông H về diện tích đất đã
bán hay không thì đề nghị Tòa án xem xét. Việc cấp đổi số thửa đất từ 389 thành
380 do cán bộ địa chính thực hiện khi làm thủ tục chuyển nhượng từ ông G sang
ông Hoàng A. Đến năm 2019, khi UBND thông báo cho ông H làm thủ tục
cấp đổi GCNQSDĐ thì ông H mới phát hiện thửa 380 được cấp trùng số thửa
cho ông Lê Văn H1.
Ông Mai Thanh N trình bày: ông Võ Văn G chỉ kháng cáo một phần bản án
thẩm về giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu đối với ông H ông
Hoàng A, cụ thể ông G T không đồng ý hoàn trả số tiền 259.700.000
đồng (số tiền nhận chuyển nhượng 2008) bồi thường thiệt hại cho ông H số
tiền 2.578.623.800 đồng (tiền trượt giá đất), tổng cộng 2.838.323.800 đồng. Tại
thời điểm thỏa thuận bán đất cho ông H, thì ông G đã đưa ông H đi xem thực tế
đất, giao đủ các phần đất ông H đã xem đã giao GCNQSDĐ ông G
được cấp năm 1997 cho ông H, toàn bộ thủ tục sang tên chuyển nhượng do ông
H làm. Sở T chỉ giấy mướn lại đất của ông H diện tích 1,3 mẫu
(=13.000m
2
), phần diện tích còn lại còn nhiều gốc tràm khó canh tác, khả
năng gia đình T đủ sức canh tác bao nhiêu thì mướn bấy nhiêu, hoàn toàn
không việc lừa dối ông H về diện tích đất chuyển nhượng. Ông H đã nhận
17
đất, được cấp GCNQSDĐ từ năm 2008 cho đến khi thực hiện cấp đổi, phát hiện
trùng số thửa đất với đất của ông H1 nên tranh chấp với ông G đòi lại tiền do đất
bị thiếu không căn cứ, việc cấp đổi số thửa đất từ 389 thành 380 không
phải do ông G thực hiện.
Nguyễn Thị T: đơn xin giải quyết vắng mặt trình bày thống nhất
với ý kiến và yêu cầu của ông G.
Ông Trương Tấn P Nguyễn Thị G1: xác định không yêu cầu
trong vụ án này.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông Trần Hoàng A, ông
Nguyễn Văn H, ông Văn G Nguyễn Thị T đủ điu kiện để xem xét
theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: năm 2008, giữa ông G ông H, ông Hoàng A đã
thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích số thửa được xác
định theo GCNQSDĐ. Các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng
500.000.000đ/ha, ông G xác định đã giao đất theo đúng diện tích trong
GCNQSDĐ. Nay, nhầm lẫn số thửa đất làm cho đất bị thiếu nhưng ông H
ông Hoàng A không chứng minh được ông G hành vi lừa dối khi thỏa thuận
chuyển nhượng. Ông H chỉ phát sinh tranh chấp với ông G vào năm 2020, khi
kiểm tra tờ bản đồ thì ông H phát hiện ông G vẫn còn đứng tên trên GCNQSDĐ
thửa 389 (thực chất có nguồn gốc là của bà D và do ông G là người nhận chuyển
nhượng sau cùng vào năm 2016 từ bà H4) và thửa 376 có nhà cấp 4 do ông Trần
Văn Đ Thị D đang quản sử dụng. Do đó, ông H ông Hoàng A lại
căn cứ vào diện tích đất thực tế bthiếu để yêu cầu ông G phải hoàn trả bồi
thường thiệt hại là không căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận
toàn bộ kháng cáo của ông G và bà T; không chấp nhận kháng cáo của ông H và
ông Hoàng A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn, ông Trần Hoàng A; bị đơn ông Văn G;
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn H Nguyễn Thị T
thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Hoàng A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông
Võ Văn G do ông Mai Thanh N đại diện tại phiên tòa phúc thẩm xác định ông G
đã rút yêu cầu phản tố tại cấp sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn H, bà Thị Thúy H2,
Thị D, ông Trần Văn Đ ông Văn H1 giữ nguyên yêu cầu độc lập
như đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được vviệc giải quyết toàn bộ
vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tòa án không triệu tập các đương
sự gồm: Phạm Thị Kim C1, Huỳnh Thị Minh H3, ông Văn N1,
18
Nguyễn Thị Hồng T2, bà Hồ Thị L1, ông Nguyễn Hồng T3, Thị H4,
Nguyễn Thị Thùy D1, ông Minh K, Phan Thị Ngọc H5, Văn phòng C9,
Văn phòng C5, Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân Đ, tỉnh Tây Ninh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh Tây Ninh tham
gia phiên tòa phúc thẩm. Ông Trần Hoàng A vắng mặt, nhưng có người đại diện
theo ủy quyền mặt. Nguyễn Thị T, ông Văn H1, Nguyễn Thị T1
vắng mặt, đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Văn G vắng mặt, nhưng
người đại diện theo ủy quyền là ông Mai Thanh N mặt tại phiên tòa ngày
12/6/2026 xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 18/6/2026. Căn cứ Điều 296 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn, ông Trần Hoàng A; bị đơn,
ông Võ Văn Gngười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn H, bà
Nguyễn Thị T chỉ kháng cáo 1 phần bản án dân sự thẩm liên quan đến giải
quyết hậu quả pháp của việc hiệu 1 phần Hợp đồng số 722/2008 đối với
thửa 376 và hiệu 1 phần Hợp đồng số 723/2008 đối với thửa 389 (đổi thành
thửa 380) giữa ông H, ông Hoàng A và ông G. Các đương sự còn lại trong vụ án
không kháng cáo. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án thẩm kháng cáo hoặc liên quan
đến việc xem xét nội dung kháng cáo.
[4] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: căn cứ yêu cầu khởi kiện của
các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các quan hệ pháp luật tranh chấp cần
giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy quyết
định hành chính biệt và tranh chấp quyền sdụng đất, căn cứ theo quy
định tại khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của ông Trần Hoàng A ông Nguyễn Văn H, ông Văn
G Nguyễn Thị T về giải quyết hậu quả của việc hiệu một phần hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 376 và thửa 380
[5] Nội dung và căn cứ kháng cáo của ông Hoàng A và ông H: 02 đương sự
cho rằng, giá chuyển nhượng năm 2008 được tính căn cứ theo đơn giá
500.000.000đ/ha, nay ông G giao thiếu thửa 376 thửa 380, lỗi 100% thì
phải hoàn trả bồi thường 100% thiệt hại theo giá trị quyền sử dụng đất hiện
tại của 02 thửa.
[6] Nội dung căn cứ kháng cáo của ông G và T: 02 đương skhông
đồng ý bồi thường cho ông H cho rằng, đã giao bản chính GCNQSDĐ cho
ông H đã giao nhận đất xong từ năm 2008; toàn bộ hồ thủ tục chuyển
nhượng do phía bên mua ông H, ông Hoàng A tự thực hiện đã được cấp
GCNQSDĐ đủ diện tích số thửa theo hợp đồng, việc cấp GCNQSDĐ
chỉnh lý số thửa đất do Nhà nước thực hiện; tại thời điểm chuyển nhượng thì
phía ông H đã xem xét hiện trạng đất trên thực tế, nhận đất sử dụng từ năm 2008
đến nay gần 20 năm mới tranh chấp cho rằng bị thiếu đất, là không có căn cứ.
[7] Để giải quyết kháng cáo của các bên đương sự, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét nguyên nhân dẫn đến hợp đồng giữa các bên bhiệu, lỗi của
các bên dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
19
[8] Hồ sơ vụ án thể hiện: diện tích đất mà ông H và ông Hoàng A được cấp
GCNQSDĐ vẫn đủ 04 thửa đất diện tích đủ theo diện tích đất trong
GCNQSDĐ ông G được cấp vào năm 1997; ranh giới thực tế phần đất khi
ông H, ông Hoàng A nhận ranh giới ràng với các thửa đất liền kề của các
chủ sử dụng khác, được phân định trên thực tế bởi con mương hoặc là đường đi;
hiện trạng thực tế hiện nay toàn bộ phần đất của ông H thỏa thuận chuyển
nhượng với ông G chỉ có 02 khu riêng biệt (thửa 388 và thửa 392) phù hợp với
trình bày của ông H tại biên bản biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
20/01/2025, ông H đã xác định rằng “tôi nhận chuyển nhượng từ ông G 2 khu là
hơn 15.000m
2
(bút lục số 1209).
[9] Tuy nhiên, theo trình bày của ông G và ông H trong quá trình giải quyết
vụ án tại cấp thẩm tại phiên tòa phúc thẩm, đủ căn cứ xác định, tại thời
điểm xác lập và thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất 04 thửa
376, 388, 389 (đổi thành thửa 380) thửa 392, theo Hợp đồng số 722/2008
Hợp đồng số 723/2008, giữa ông G ông H, mặc dù xem xét đất trên thực
tế, nhưng lại không thực hiện việc đo đạc chính xác diện tích, chỉ thỏa thuận
số thửa và diện tích theo GCNQSDĐ mà ông G được cấp lần đầu vào năm 1997,
trong khi việc cấp giấy cho ông G thời điểm đó cấp đại trà, căn cứ vào sự tự
khai của người sử dụng đất không đo đạc, xác nhận ranh giới đất giữa
các chủ sử dụng đất liền kề. Chính vậy, dẫn đến việc mặc trong
GCNQSDĐ, ông G được cấp quyền sử dụng thửa 376, nhưng từ trước đến nay
ông G lại không quản lý, sử dụng, thửa 376 lại do Thị D và ông Trần
Văn Đ trực tiếp quản sử dụng, xây dựng nhà ở. Tương tự, đối với thửa 389
(chỉnh số hiệu thành 380) lại do bà Hồ Thị L1 trực tiếp quản sử dụng (ông
H1 là người mua sau cùng đến thời điểm phát sinh tranh chấp); tại thời điểm cấp
GCNQSDĐ cho L1 lập Trích đo, có tứ cận thửa đất và số liệu đo đạc thực
tế, thể hiện ông G không đất vị trí thửa 380 (các bút lục số 651, 719, 724,
811, 838, 839, 938, 1041, 1209, 1210).
[10] Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các yêu cầu khởi kiện độc lập của bà
D, ông Đ ông H1, hiệu 1 phần Hợp đồng số 722/2008 Hợp đồng số
723/2008 liên quan đến thửa đất số 376, thửa 380 (sau này 1 phần thửa 777),
hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông Hoàng A, ông H đối với 02 thửa đất này,
hoàn toàn có căn cứ. Các đương sự không ai kháng cáo về nội dung này của bản
án sơ thẩm.
[11] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 12/6/2026, ông H xác định rằng, việc
chỉnh lý số hiệu thửa đất là do cán bộ địa chính thực hiện. Nguyên nhân dẫn đến
ông H tranh chấp với ông G chỉ phát sinh vào năm 2019 khi ông H được Ủy ban
nhân dân thông báo làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ, qua kiểm tra tờ bản đồ
thì ông H phát hiện thửa 380 được cấp trùng cho ông H1 và đồng thời, bà D, ông
Đ cũng phát hiện thửa 376 đã được cấp nhầm cho ông G ông H. Từ những
tình tiết này cho thấy, vào năm 2008 giữa ông G và ông H, ông Hoàng A đã thỏa
thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích số thửa được xác định
theo GCNQSDĐ, giao dịch giữa các bên được xác lập hoàn toàn tự nguyện,
thiện chí, phù hợp với nguyên tắc bản của pháp luật dân sự theo quy định tại
20
Điều 4, Điều 5, Điều 6 Điều 11 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Trong trường
hợp này, số thửa đất trên thực tế không tồn tại so với số thửa trên GCNQSDĐ,
nghĩa đã sự nhầm lẫn giữa hai bên trong giao dịch về nội dung của hợp
đồng (thỏa thuận mua theo sổ) ngay từ khi kết, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với thửa 376 và thửa 389 (mới là thửa 380) giữa ông G và
ông H, ông Hoàng A đã bị vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được
do khách quan, bởi lẽ, việc xác định số hiệu thửa đất trên tờ bản đồ cấp
GCNQSDĐ cho người dân, là do cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thực hiện.
[12] Khoản 1 Điều 411 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hợp
đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được như sau:
“1. Trong trường hợp ngay từ khi kết, hợp đồng đối tượng không thể
thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu.”
[13] Theo quy định tại khoản 2 Điều 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp
của giao dịch dân sự hiệu, “khi giao dịch dân sự hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận”… “Bên
lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
[14] Ông H ông Hoàng A không chứng minh được ông G đã sự lừa
dối về số thửa đất diện tích đất ngay tại thời điểm các bên xác lập giao dịch,
nên nay, ông H ông Hoàng A lại căn cứ vào diện tích đất thực tế bị thiếu để
yêu cầu ông G phải bồi thường 100% thiệt hại là số tiền chênh lệch tăng giá trị
quyền sử dụng đất thửa 376 thửa 380, so sánh thời điểm năm 2008 và hiện
nay, không căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 137, khoản 1 Điều 410
và Điều 411 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 4 Điều 131, Điều 407 và Điều
408 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[15] Theo Hợp đồng mua bán đất bằng giấy tay ghi ngày 15/3/2008 giữa
ông Nguyễn Văn H ông Văn G, thì 02 bên đã thỏa thuận giá chuyển
nhượng là 500.000.000đ/ha (= 50.000đ/m
2
). Do đó, ông G phải trả lại cho ông H
số tiền tương ứng với giá trị diện tích đất không trên thực tế tại thời điểm
chuyển nhượng. Theo 02 Mảnh Trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ3 đo vẽ
ngày 25/9/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ, tỉnh
Long An phê duyệt ngày 27/9/2023 và ngày 02/10/2023, thì diện tích thực tế của
thửa 388 là 6.652,2m
2
; diện tích thực tế của thửa 392 4.018,7m
2
. Tổng diện
tích đo đạc thực tế của thửa 392 388 10.670,9m
2
, thiếu 4.329,1m
2
so với
diện tích 15.000m
2
đã thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán đất bằng giấy tay ghi
ngày 15/3/2008. Do đó, ông G phải trả lại cho ông H số tiền đã nhận thừa
216.455.000 đồng (= 4.329,1m
2
x 50.000đ/m
2
).
[16] Về bồi thường thiệt hại: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy rằng, mặc
dù hợp đồng chuyển nhượng thửa 376 và thửa 389 (380) giữa ông Hoàng A, ông
H và ông G không thể thực hiện được vì lý do khách quan (việc cấp số hiệu thửa
đất do quan quản đất đai thực hiện), nhưng, cả hai bên trong giao dịch
đều lỗi làm cho hợp đồng hiệu, bởi lẽ, các bên đã không tiến hành đo đạc
thực tế để xác định chính xác diện tích đất giao dịch, trong khi lại thỏa thuận giá
21
chuyển nhượng được tính theo diện tích cụ thể (500.000.000đ/ha). Thửa 376
thửa 389 (380) trong giao dịch chuyển nhượng giữa ông G và ông H, ông Hoàng
A, mặc dù đã không tồn tại trên thực tế ngay tthời điểm xác lập giao dịch,
nhưng, cả bên ông G ông H đều thừa nhận rằng, ý chí của các bên khi thỏa
thuận chuyển nhượng thì đã xác định vị trí của 02 thửa đất này lần lượt liền kề
với 02 thửa số 392 388 còn lại trong hợp đồng (2 khu). Tại thời điểm thỏa
thuận năm 2008, hai bên trong giao dịch cũng không phân biệt giá trị của từng
thửa đất tính giá 50.000đ/m
2
. Do đó, cần căn cứ vào giá trung bình của 04
thửa đất theo hiện nay để tính thiệt hại tương ứng với diện tích đất bị thiếu.
[17] Theo các Chứng thư thẩm định g số 256/2022/08/2022/TĐG LA-
BĐS ngày 25/8/2022 s 020/2025/91-HD/TĐG LA-BĐS ngày 09/04/2025
của Công ty c phần T6, giá trị quyền sử dụng đất thửa 380, thửa 389
1.354.000đ/m
2
, thửa 376 và thửa 392 869.000đ/m
2
; thửa 388 508.000đ/m
2
(các bút lục số 1251, 1283). Như
vậy, đơn giá trung bình 1m
2
tại 4 thửa
đất là
900.000 đồng (= (1.354.000đ + 869.000đ + 869.000đ + 508.000đ)/4). Giá trị
hiện nay của phần diện tích đất bị thiếu so với thỏa thuận trong hợp đồng
3.896.190.00(= 4.329,1m
2
x 900.000/m
2
), nên tổng thiệt hại (mức chênh lệch
giữa giá thỏa thuận năm 2008 và hiện nay) là 3.679.735.000đ (= 3.896.190.000đ
- 216.455.000đ), mỗi bên phải chịu ½ thiệt hại là 1.839.867.500đ. Như vậy, tổng
số tiền ông G phải hoàn trả bồi thường thiệt hại cho ông H 2.056.322.500
đồng ( = 216.455.000đ +1.839.867.500đ), quy tròn là 2.056.323.000 đồng. Số
tiền ông Nguyễn Văn H Thị Thúy H2 yêu cầu ông Văn G
Nguyễn Thị T phải liên đới hoàn trả bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn
Văn H nhưng không được chấp nhận 3.360.624.000 đồng (=5.416.947.000đ -
2.056.323.000đ).
[18] Đối với kháng cáo của T không đồng ý bồi thường cho ông H, Hội
đồng xét xử nhận thấy, T là người đã vào “Giấy hợp đồng cho mướn đất”
với ông H để thuê lại chính phần đất ông G đã chuyển nhượng, nên việc
cho rằng không biết và không trách nhiệm liên đới với ông G để trả tiền cho
ông H, là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc trách nhiệm liên đới của
T, đúng quy định tại Điều 25 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000;
Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[19] Do đó, cần chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông G T, không
chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng A ông H về giải quyết hậu quả của hợp
đồng bị vô hiệu.
[20] Đối với trình bày yêu cầu của ông H về biện pháp khẩn cấp tạm
thời, hồ sơ vụ án thể hiện:
[20.1] Ngày 09/3/2022, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định số
09/2022/QĐ-BPKCTT áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Cấm thực hiện
hành vi chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, thừa kế, ủy quyền
tặng cho về quyền sử dụng đất và cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp” đối
với thửa 389 tờ bản đồ số 1 do ông Võ Văn G đứng tên trên GCNQSDĐ số phát
hành CĐ 851342 ngày 27/6/2016 (bút lục số 1105).
22
[20.2] Đến ngày 11/3/2022, Tòa án cấp thẩm Quyết định số
11/2022/QĐ-BPKCTT áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cấm thực hiện
hành vi chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, thừa kế, ủy quyền
tặng cho về quyền sử dụng đất; và C2 thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp theo
quy định tại Điều 121, Điều 122 của Bộ luật Tố tụng dân sđối với thửa đất số
380 tờ bản đồ số 1 H, diện tích 1.889m
2
do ông Văn H1 đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sCE 796355 ngày 25/11/2016 (bút lục
1058). Tuy nhiên, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định số
11/2022/QĐ-BPKCTT, thửa 380 này đã được nhập với thửa 379, thành 1 thửa
mới 777 ông Văn H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số DD540000 vào ngày 16/02/2022. Như vậy, tại thời điểm ngày 11/3/2022 khi
Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định số 11/2022/QĐ-BPKCTT, thì thửa 380
đã không còn tồn tại về mặt pháp lý.
[20.3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 12/6/2026, ông H xác định không
kháng cáo và đồng ý rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa án
cấp thẩm đã áp dụng đối với thửa đất số 380 tờ bản đồ số 1 H trước đây do
ông Lê Văn H1 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 796355
ngày 25/11/2016, chỉ n giữ yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối
với thửa 389 do ông Văn G đang đứng tên trên GCNQSDĐ và yêu cầu được
nhận lại số tiền đã thực hiện biện pháp bảo đảm. Xét thấy, các yêu cầu này của
ông H là căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 138 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 18 của Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày
24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố tụng dân sự,
cần được chấp nhận.
[21] Đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ một phần, được chấp nhận.
[22] Về chi phí tố tụng tại cấp thẩm, gồm chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ, đo đạc, định giá, tổng cộng đã chi 104.000.000 đồng: cả ông G ông H
đều lỗi khi giao dịch nhưng không đo đạc thực tế làm cho hợp đồng bị
hiệu 1 phần, nên chi phí tố tụng mỗi bên phải chịu ½ 52.000.000 đồng. Tạm
ứng chi phí do ông H1 nộp 14.000.000 đồng, ông Hoàng A nộp 60.000.000
đồng, D nộp 20.000.000 đồng, ông G nộp 10.000.000 đồng. Do đó, ông G
phải nộp 42.000.000 đồng để hoàn trả tạm ứng cho ông H1 ông Hoàng A,
D; ông H phải nộp 52.000.000 đồng để hoàn trả cho ông Hoàng A.
[23] Về án phí dân sự sơ thẩm: do sửa bản án sơ thẩm về giải quyết hậu quả
pháp của hợp đồng hiệu, nên án phí thẩm liên quan đến phần này được
xác định lại, cụ thể ông Nguyễn Văn H bà Thị Thúy H2 phải chịu án phí
trên số tiền yêu cầu hoàn trả bồi thường không được chấp nhận quy tròn
99.212.000 đồng, nhưng phần ông H được miễn do người cao tuổi đơn
đề nghị xét miễn, nên bà H2 phải chịu ½ 49.606.000 đồng. Ông Văn G
Nguyễn Thị T phải liên đới chịu án phí trên số tiền phải trả cho ông H, quy
tròn án phí 73.126.000 đồng. Ngoài ra, ông Hoàng A chỉ phải chịu 600.000
đồng án phí dân sự thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu công nhận hợp
23
đồng 723/2028 hiệu hợp đồng chuyển nhượng thửa 777 không được chấp
nhận; đồng thời, ông Đ, D và ông H1 được chấp nhận yêu cầu độc lập nên
không phải chịu án phí, nhưng bản án sơ thẩm tuyên được miễn không chính
xác, cần sửa phần này cho đúng quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[24] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Văn G Nguyễn Thị T
không phải chịu do kháng cáo được chấp nhận một phần; buộc ông Trần Hoàng
A phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận. Ông Nguyễn Văn H
được miễn án phí do là người cao tuổi và có đơn đề nghị xét miễn.
[25] Ngoài ra, quyết định của bản án thẩm còn một số sai sót về thời
gian cấp GCNQSDĐ cho các đương sự, cần sửa cho chính xác để đảm bảo thi
hành án.
[26] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309, Điều 147, Điều 148, Điều
165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 411 của Bộ luật Dân snăm
2005; khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 408, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 25 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 37 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; Điều 100 và Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều
12, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng A ông Nguyễn Văn
H, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Văn G Nguyễn Thị T về
giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
3. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh về việc giải quyết hậu quả
pháp lý của hợp đồng vô hiệu:
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, ông
Trần Hoàng A và bà Thị Thúy H2 về việc buộc ông Võ Văn G và bà Nguyễn
Thị T phải liên đới hoàn trả bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn H do
các hợp đồng sau đây bị vô hiệu 1 phần:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn G ông
Nguyễn Văn H, số chứng thực 722/2008 ngày 28/3/2008 tại UBND xã H, huyện
Đ, tỉnh Long An đối với thửa s376 tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Văn G ông
Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A), số chứng thực 723/2008 ngày 28/3/2008 tại
24
UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa số 389 (điều chỉnh thành 380)
tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Buộc ông Văn G Nguyễn Thị T phải liên đới hoàn trả số tiền
216.455.000đ (hai trăm mười sáu triệu bốn trăm năm mươi lăm ngàn đồng)
bồi thường thiệt hại số tiền 1.839.867.500đ (một tỷ tám trăm ba mươi chín triệu
tám trăm sáu mươi bảy ngàn năm trăm đồng) cho ông Nguyễn Văn H. Tổng
cộng số tiền ông Văn G Nguyễn Thị T phải thanh toán cho ông
Nguyễn Văn H được quy tròn là 2.056.323.000đ (hai tỷ không trăm năm mươi
sáu triệu ba trăm hai mươi ba ngàn đồng).
3.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và Thị Thúy
H2 yêu cầu ông Võ Văn G và bà Nguyễn Thị T phải liên đới bồi thường thiệt hại
cho ông Nguyễn Văn H số tiền 3.360.624.000đ (ba tỷ ba trăm sáu mươi triệu sáu
trăm hai mươi bốn ngàn đồng).
4. Các phần sau đây của Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh không bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị:
4.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng A về việc
“tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt” với ông
Văn H1. Các yêu cầu ông Trần Hoàng A không được chấp nhận như sau:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CE 796355, số vào
sổ CS 00884 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Văn H1
vào ngày 25/11/2016, đối với thửa đất số 380, tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ,
tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Văn G và ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A), số chứng thực 723/2008
ngày 28/3/2008 tại UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa số 389
(điều chỉnh thành 380) tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay
Đ, tỉnh Tây Ninh) là hợp pháp.
- Công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 722172,
số vào sổ “H” 06221 do UBND huyện Đ cấp ngày 16/9/2008 cho ông Nguyễn
Hoàng A1 (Trần Hoàng A) là hợp pháp.
- Buộc ông Lê Văn H1 bàn giao thửa đất số 380 tờ bản đsố 01 H,
huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) cho ông Trần Hoàng A.
- Hủy bỏ Quyết định nhập thửa 379 380 thành thửa 777 tờ bản đồ số 01
H, theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số phát hành DD 540000 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh L (nay Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T)
cấp ngày 16/02/2022 cho ông Lê Văn H1.
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn H1,
Nguyễn Thị T1 với bà Nguyễn Thị G1 tại thửa 777 tờ bản đồ 01 xã H, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
25
4.2. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với các yêu cầu phản tố của ông n
G đã rút yêu cầu, bao gồm:
- hiệu và hủy hợp đồng mua bán đất (viết tay) ngày 15/03/2008 giữa
ông Võ Văn G và ông Nguyễn Văn H với diện tích “mười lăm ngàn m
2
chẵn”.
- Vô hiệu và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Văn G ông Nguyễn Văn H, số chứng thực 722/2008 ngày 28/3/2008 tại
UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa số 376 tờ bản đồ số 01 H,
huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
- Vô hiệu và hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Văn G và ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A), số chứng thực 723/2008
ngày 28/3/2008 tại UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa số 389
(điều chỉnh thành 380) tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay
Đ, tỉnh Tây Ninh).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 722171 do
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A)
ngày 16/9/2008 đối với thửa 388 tbản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), diện tích 6.143m
2
.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 722172 do
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A)
ngày 16/9/2008 đối với thửa 380 tbản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), diện tích 2.165m
2
.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số phát hành AM 722169, số
vào sổ “H” 05090 do UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Văn
H vào ngày 29/5/2008 đối với 2 thửa đất số 376 thửa số 392, tổng diện tích
6.798 m
2
.
- Ông Văn G hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 500.000.000đ
(năm trăm triệu đồng), buộc ông Nguyễn Văn H và ông Trần Hoàng A phải giao
trả cho ông Võ Văn G toàn bộ diện tích đất đã nhận.
- Ông Võ Văn G được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân huyện Đ, Ủy ban
nhân dân tỉnh L, Văn phòng Đăng đất đai tỉnh L, Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện C5, các quan Nhà nước thẩm quyền liên quan để tiến
hành lập mọi hồ sơ, thủ tục để thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích các thửa
đất đã chuyển nhượng cho ông Trần Hoàng A, ông Nguyễn Văn H theo quy định
của pháp luật.
4.3. Chấp nhận các yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Lê Văn H1 về việc:
- Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn G
ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A), số chứng thực 723/2008 ngày
28/3/2008 tại UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa s389 (điều
chỉnh thành 380) tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh
Tây Ninh).
26
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AM 722172 do
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Nguyễn Hoàng A1 (Trần Hoàng A)
ngày 16/9/2008 đối với thửa 380 tbản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), diện tích 2.165m
2
.
4.4. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị D và ông Trần Văn Đ về việc:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AM 722169, số vào sổ “H”
05090 do UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn H ngày 29/5/2008 đối với
thửa đất số 376 tbản đồ số 01 H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh
Tây Ninh).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành L 235187 do
UBND huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Văn G ngày 12/9/1997 đối với
thửa đất số 376 tờ bản đồ số 1 H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh
Tây Ninh).
- hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Văn G ông Nguyễn Văn H, số chứng thực 722/2008 ngày 28/3/2008 tại
UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An đối với thửa số 376 tờ bản đồ số 01 H,
huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
- Công nhận cho ông Trần Văn Đ và Thị D được quyền sử dụng đất
thửa 376 tờ bản đồ số 01 xã H (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). Ông Trần Văn Đ
Thị D được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Vị trí, diện tích thực
tế tứ cận thửa đất được thể hiện theo Mảnh Trích đo địa chính do Công ty
TNHH Đ3 lập ngày 25/9/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại
huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 02/10/2023.
4.5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H vviệc đề nghị Tòa
án buộc Lê Thị D ông Trần Văn Đ hoàn trả thửa đất 376 tờ bản đồ số 01
xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
5. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
lập thủ tục khai, đăng ký, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
theo đúng diện tích đất thực tế sử dụng được công nhận theo bản án. Văn
phòng đăng đất đai, quan Tài nguyên và Môi trường, quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải
quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho các đương sự cho phù hợp với bản án của Tòa án.
6. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu quan
nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp để cấp mới cho các đương scho phù hợp với bản án của Tòa
án.
7. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm, gồm chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ, đo đạc, định giá, tổng cộng 104.000.000 đồng: buộc ông Văn G ông
27
Nguyễn Văn H mỗi bên phải chịu ½ 52.000.000 đồng. Buộc ông Văn G
phải nộp để hoàn trả tạm ứng cho: ông Văn H1 14.000.000 đồng, ông Trần
Hoàng A 8.000.000 đồng, bà D 20.000.000 đồng. Buộc ông Nguyễn Văn H phải
nộp 52.000.000 đồng để hoàn trả tạm ứng cho ông Trần Hoàng A.
8. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
9. Về án phí dân sự sơ thẩm:
9.1. Buộc ông Văn G Nguyễn Thị T phải liên đới chịu 600.000
đồng án phí không giá ngạch 73.126.000 đồng án phí giá ngạch, tổng
cộng án phí 73.726.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
ông G đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay
Thi hành án dân sự khu vực 3-Tây Ninh) tổng cộng 13.500.000đ (mười ba
triệu đồng), gồm: các Biên lai thu số 0004834, 0004835, 0004836 cùng ngày
11/6/2024; các Biên lai số 0007695 0007596 cùng ngày 04/01/2023 Biên
lai số 0000025 ngày 28/9/2022. Buộc Văn G Nguyễn Thị T còn phải
nộp tiếp 60.226.000đ (sáu mươi triệu hai trăm hai mươi sáu ngàn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
9.2. Buộc Thị Thúy H2 phải chịu 49.606.000đ (bốn mươi chín triệu
sáu trăm lẻ sáu ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
57.750.000 đồng mà H2 đã nộp theo Biên lai thu số 0007361 ngày 23/6/2025
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 3-Tây Ninh). Thị Thúy H2 được hoàn trả số tiền
8.144.000đ (tám triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) tạm ứng án phí còn
thừa.
9.3. Buộc ông Trần Hoàng A phải chịu 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) án
phí không giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền 1.200.000đ (một triệu hai
trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà ông Trần Hoàng A đã nộp theo các Biên lai
thu số 0004568 0004567 cùng ngày 16/5/2024; các biên lai số 0006992
0006993 cùng ngày 03/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa,
tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Tây Ninh). Ông Trần
Hoàng A được hoàn trả số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí
còn thừa.
9.4. Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí.
9.5. Ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị Diệu K1 phải chịu án phí.
9.6. Ông Văn H1 không phải chịu án phí và được hoàn trả số tiền
300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông H1 đã nộp theo Biên lai thu
số 0009920 ngày 16/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh
Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Tây Ninh).
28
10. Án phí dân sự phúc thẩm:
10.1. Ông Văn G Nguyễn Thị T không phải chịu mỗi người
được hoàn trả số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng số 0003317 và số 0003318 cùng ngày
21/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
10.2. Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí.
10.3. Ông Trần Hoàng A phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được
khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm ông Hoàng A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0004510 ngày
18/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông Trần Hoàng A đã nộp đủ
án phí phúc thẩm.
11. Tiếp tục duy t biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số
09/2022/QĐ-BPKCTT ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây
Ninh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Cấm thực hiện hành vi chuyển
nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, thừa kế, ủy quyền và tặng cho về quyền
sử dụng đất cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp” đối với thửa đất số
389 tờ bản đồ số 01 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh Tây Ninh),
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất sphát hành 851342 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 26/7/2016 cho ông Võ Văn G.
12. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
13. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 3-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
29
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 808/2026/DS-PT Bản án số 808/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 808/2026/DS-PT Bản án số 808/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất