Bản án số 1658/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1658/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1658/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1658/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Duy T1 là ông Trần Duy Nhật A. 2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1658/2026/DS-PT Bản án số 1658/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1658/2026/DS-PT Bản án số 1658/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1658/2026/DS-PT
Ngày: 27/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên a:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Ông Đào Minh Đa
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trsở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1173/2026/TLPT-DS
ngày 20 tháng 7 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 5061/2026/QĐXXPT-DS ngày 04
tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 13047/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng
8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Văn D, sinh năm 1981; số CCCD: ************; địa chỉ: số E,
khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Ông Lưu Quyền L, sinh năm 1980; số CCCD: ************; địa chỉ: số A,
khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lâm Thanh T;
địa chỉ: số C Q, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh, là Luật thuộc Công ty L3,
Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1976; số CCCD: ************; địa
chỉ: số T, tổ A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Duy Nhật A, sinh năm 2001;
địa chỉ: số H - H N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy
quyền (Văn bản ủy quyền ngày 01/4/2026); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1984; địa chỉ: xóm X, Q, tỉnh Nghệ An; có
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Văn T2, sinh năm 1983; địa chỉ: số T, khu phố B,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Duy Nhật
A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng tại phiên tòa, nguyên
đơn ông Trần Văn D trình bày:
Ông Trần Văn D ông Nguyễn Duy T1 quan hệ họ hàng xa. Ngày
10/3/2024, ông T1 đi làm ăn tại Thái Lan và liên hệ với ông D để cung cấp thông tin
về việc sẽ thành lập công ty N (cụ thể là cây cần sa) tại Thái Lan, đồng thời kêu gọi
các thành viên khác cùng góp vốn. Sau khi tiếp nhận thông tin, các bên gồm ông D,
ông T1, ông L ông T2 đã gặp gỡ thống nhất kế hoạch: các thành viên tham gia
bao nhiêu góp vốn bấy nhiêu, không ấn định thời hạn góp vốn cụ thể; lợi nhuận
phát sinh sẽ được phân chia dựa trên tỷ lệ góp vốn thực tế của mỗi người. Việc góp
vốn dự kiến sẽ được thực hiện tại phòng công chứng, chỉ định ông T1 là người đại
diện theo pháp luật của công ty; ngoài ra công ty cần có kế toán nhân công (phần
nhân công do ông L chịu trách nhiệm cung cấp).
Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2024 thời gian các bên thực hiện góp vốn, trong
thời gian này ông T1 nghĩa vụ tiến hành các thủ tục thành lập công ty. Để thực
hiện việc góp vốn, ông D đã chuyển khoản cho ông T1 04 lần với tổng số tiền
800.000.000 đồng, cụ thể:
Ngày 20/3/2024 chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng;
Ngày 22/3/2024 chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng;
Ngày 23/3/2024 chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng;
Ngày 31/5/2024 chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng.
Đây số tiền ông D góp vốn để thành lập công ty tại Thái Lan mọi giao
dịch chuyển tiền đều thông qua ông T1. Do chưa ông T1 đã tiến hành thành lập
công ty hay chưa, ông D và ông L đã nhiều lần liên hệ yêu cầu xác nhận cung cấp
giấy phép thành lập nhưng ông T1 chỉ hứa hẹn không cung cấp được các hồ sơ
pháp lý liên quan.
Tháng 6/2024, ông D đi du lịch tại Thái Lan, gặp ông Tuấn A1 nghỉ ngơi
tại công ty của ông Tuấn A1. Tại đây, ông D tiếp tục yêu cầu ông T1 cung cấp hồ sơ
pháp lý, địa điểm trồng và khai thác cây cần sa nhưng ông T1 không cung cấp được
hồ pháp ràng; do đó ông D không việc nuôi trồng cây cần sa được triển
3
khai trên thực tế hay không. Đến đầu tháng 6/2024, ông D ông L tiếp tục gặp ông
T1 để nắm thông tin về kế hoạch thành lập công ty tại Thái Lan. Trong lúc trao đổi,
ông T1 hứa sẽ thực hiện đầy đủ cam kết (nội dung này không được lập thành văn
bản). Cũng trong tháng 6 năm 2024, các bên còn gặp nhau nhiều lần để hỏi về lợi
nhuận. Ông T1 hứa hẹn cuối năm 2024 sẽ lợi nhuận, nhưng đến nay ông D vẫn
không nhận được bất kỳ khoản lợi nhuận nào.
Ông D cho rằng, sau khi nhận tiền của ông, từ khoảng giữa tháng 6/2024 trở đi,
ông T1 đã sử dụng số tiền này vào mục đích khác không rõ ràngkhông thực hiện
được mục đích thỏa thuận ban đầu. Vì vậy, ông D yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc
ông Nguyễn Duy T1 hoàn trả số tiền gốc đã nhận 800.000.000 đồng (T3 trăm triệu
đồng chẵn) và thanh toán tiền lãi chậm trả tính từ ngày chuyển tiền cuối cùng (ngày
31/5/2024) đến ngày xét xử thẩm (ngày 25/5/2026), tạm tính tròn 24 tháng với
mức lãi suất 10%/năm (tương đương 0,833%/tháng), cụ thể: 0,833%/tháng x
800.000.000 đồng x 24 tháng = 159.936.000 đồng.
Tổng cộng cả gốc lãi ông D u cầu ông T1 phải thanh toán là: 800.000.000
đồng + 159.936.000 đồng = 959.936.000 đồng (chín trăm năm mươi chín triệu chín
trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Quá trình tố tụng, ông Nguyễn Duy T1 cùng người đại diện hợp pháp trình bày:
Ông Nguyễn Duy T1, ông Lưu Quyền L, ông Trần Văn D ông Văn T2
quan hệ bạn cùng xóm. Vào đầu năm 2024, ông T1 có đến Thái Lan chơi
gặp người bạn tên Nguyễn Tuấn A1 (hiện đang làm ăn, sinh sống tại Thái Lan).
Khi đến nơi, thấy ông Nguyễn Tuấn A1 đang vận hành trang trại trồng cây cần sa
lợi nhuận, ông T1 đã đề xuất xin góp vốn làm chung và được ông Nguyễn Tuấn A1
đồng ý.
Sau khi trở về Việt Nam, ông T1 gặp các ông Lưu Quyền L, Trần Văn D,
Văn T2 trao đổi lại nội dung sự việc. Ông L, ông T2 ông D nguyện vọng
cùng góp vốn. Ông T1 đã hỏi ý kiến ông Nguyễn Tuấn A1 và được ông đồng ý với
điều kiện: nhóm 04 người tại Việt Nam phải cử ra 01 người làm đại diện trực tiếp
làm việc với ông Tuấn A1. Ông T1 thông báo lại yêu cầu này thì được cả 03 ông
thống nhất cử ông T1 làm người đại diện liên hệ, làm việc trực tiếp.
Để thực hiện việc góp vốn, ngày 28/3/2024, ông L đã chuyển vào số tài
khoản 6563337 tại ngân hàng A2, chủ tài khoản là Nguyễn Duy T1, với tổng số tiền
899.999.998 đồng, nội dung chuyển tiền ghi mục đích góp vốn cổ phần công ty
N. Ông D chuyển số tiền 800.000.000 đồng; ông T2 chuyển số tiền 300.000.000
đồng. Tổng cộng, ông T1 đã nhận của ông L, ông D ông T2 1.899.999.998
đồng. Sau khi nhận tiền, ông T1 đã chuyển khoản toàn bộ số tiền này vào số tài
khoản 198437666666 của ông Nguyễn Tuấn A1 tại Ngân hàng V.
Ông T1 xác định tổng số tiền đã chuyển cho ông Nguyễn Tuấn A1 khoảng
2.600.000.000 đồng chuyển khoản khoảng 200.000.000 đồng tiền mặt đmua
thiết bị, máy móc, xây dựng nhà xưởng phục vụ mục đích trồng cây cần sa. Sau đó,
ông Thành L1 một nhóm Zalo gồm có ông T1, ông Nguyễn Tuấn A1, ông D và ông
T2. Mọi thông tin, hình ảnh về hoạt động tại Thái Lan đều được ông Nguyễn Tuấn
A1 thường xuyên gửi vào nhóm hoặc gửi riêng cho từng cá nhân (tuy nhiên, nhóm
4
Zalo hoạt động được một thời gian thì ông D tự rời nhóm vào lúc 12 giờ 49 phút
ngày 03/3/2025).
Quá trình trồng cần sa sau đó gặp khó khăn do gcả thị trường sụt giảm mạnh,
dẫn đến làm ăn thua lỗ (từ 60.000 Baht/kg xuống còn 5.000 Baht/kg), không đủ chi
phí hoạt động nên doanh nghiệp phải thông báo tạm dừng. Thông báo bằng văn bản
do ông Nguyễn Tuấn A1 trực tiếp soạn thảo đã được ông T1 gửi vào nhóm Zalo lúc
21 giờ 24 phút ngày 07/3/2025, và từ đó đến nay dự án dừng hoạt động.
Ông T1 xác định việc hợp tác làm ăn, góp vốn cổ đông này chỉ thỏa thuận bằng
miệng, không ký kết bất kỳ văn bản nào. Khi thỏa thuận ban đầu, ông T1 đã thông
báo nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu” các bên đều đồng ý; tiền lời (nếu có) sẽ chia
theo tlphần trăm góp vốn. Tuy nhiên, từ khi bắt đầu đến khi ngừng hoạt động,
dự án chưa chia khoản tiền lời nào cho các cổ đông, hiện tại còn nợ lương công nhân
khoảng từ 700.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng.
Nay ông L và ông D khởi kiện yêu cầu hoàn trả số tiền đã chuyển cùng tiền lãi
chậm trả, ông T1 không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Tuấn A1 trình bày:
Ông Nguyễn Tuấn A1 và ông Nguyễn Duy T1 là bạn bè. Vào tháng 3/2024,
ông T1 có sang Thái Lan để thăm dự án trồng cây cần sa của ông Tuấn A1. Sau khi
tham quan dự án, ông T1 có xin tham gia góp vốn để cùng thực hiện dự án này.
Khi ông T1 về Việt Nam, ông có trao đổi lại là có thêm các ông Lưu Quyền L,
Trần Văn DLê Văn T2 muốn tham gia góp vốn cùng ông T1 để thực hiện dự án.
Sau đó, ông Tuấn A1 đã gọi điện cho ông T1 để gặp và trao đổi với ông L, ông D,
ông T2 với nội dung: Tổng quan kế hoạch góp vốn để mua công cụ, dụng cụ, máy
móc phục vụ cho dự án trồng cây cần sa. Ông Tuấn A1 cũng thông báo với các thành
viên góp vốn rằng: nếu dự án này sinh lời thì cùng nhau chia lợi nhuận, còn nếu làm
ăn không thuận lợi thì các thành viên cùng nhau chịu trách nhiệm vchi phí cũng
như các khoản nợ của dự án; nội dung này đã được các thành viên tham gia góp vốn
đồng ý. Sau đó, ông T1 được ông Lưu Quyền L, ông Trần Văn Dông Văn T2
cử làm người đại diện để làm việc trực tiếp với ông Tuấn A1.
Ông T1 là người chuyển tiền của những thành viên góp vốn cho ông Tuấn A1.
Số tiền mà ông T1 chuyển góp vốn để thực hiện dự án này khoảng 2.565.000.000
đồng (hai tỷ năm trăm sáu mươi lăm triệu đồng); trong đó 2.365.000.000 đồng
(hai tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng) tiền chuyển khoản 200.000.000 đồng
(hai trăm triệu đồng) tiền mặt.
Sau khi nhận tiền từ ông T1, ông Tuấn A1 đã mua các máy móc, thiết bị, làm
nhà xưởng, lắp đặt trạm điện để phục vụ cho quá trình thực hiện dự án trồng cây cần
sa. Trong quá trình làm ăn, do giá cả cây cần sa thị trường Thái Lan xuống thấp
dẫn đến thất thu, không đủ chi phí đtiếp tục hoạt động. Do đó, ông đã tạm dừng dự
án có ra thông báo tạm dừng bằng văn bản gửi cho ông T1 để ông T1 gửi thông
báo này cho các thành viên góp vốn khác được biết.
Người làm chứng ông Lê Văn T2 trình bày:
5
Ông Lê Văn T2, ông Trần Văn D và ông Lưu Quyền L bạn của ông Nguyễn
Duy T1. Đầu tháng 01 năm 2024, sau khi ông Nguyễn Duy T1 sang thăm mô hình
trồng cây cần sa của ông Tuấn A1 tại Thái Lan, khi về nước, nghe ông Nguyễn
Duy T1 trao đổi sắp tới sẽ đầu tư trồng cây cần sa tại Thái Lan cùng ông Tuấn A1.
Khi đó, bốn anh em xin ông T1 nói với Tuấn A1 để góp vốn cùng đầu tư chung
và được Tuấn A1 cùng Nguyễn Duy T1 đồng ý.
Quá trình chuẩn bị đầu tư, Tuấn A1 gọi điện cho Nguyễn Duy T1 để gặp
chúng tôi và trình bày về tổng quan kế hoạch đầu trồng cây cần sa tại Thái Lan.
Nội dung trao đổi là: “Nếu bốn anh em đầu thì cử ra một người làm đại diện” (bao
gồm việc nhận tiền đầu của mọi người trao đổi quá trình đầu tư). Trước khi
đầu tư, Tuấn A1 nói: “Anh em góp vốn đầu tư thì hoàn toàn tnguyện, lời ăn lỗ chịu
và chia theo tỷ lệ phần trăm góp vốn; nếu làm ăn không thuận lợi thì các thành viên
phải chịu các chi phí cũng như các khoản nợ của dự án”.
Sau cuộc gọi của Tuấn A1, chúng tôi gồm tôi (Lê Văn T2), Lưu Quyền L, Trần
Văn D Nguyễn Duy T1 đã họp bàn, thống nhất cử anh Nguyễn Duy T1 làm người
đại diện nhận tiền của chúng tôi để cùng Nguyễn Tuấn A1 mua máy móc, công cụ,
dụng cụ, thiết bị lắp trạm điện và làm nhà xưởng phục vụ cho việc trồng cây cần sa
tại Thái Lan. Trong quá trình đầu tư, chúng tôi có thành lập nhóm Zalo để thuận tiện
trao đổi, theo dõi các khoản thu chi của dự án.
Khi dự án bắt đầu hoạt động, giá cả thị trường tại Thái Lan xuống thấp không
đủ chi phí hoạt động. Tuấn A1 thông báo yêu cầu chúng tôi góp thêm vốn để duy
trì nhưng chúng tôi không đồng ý. Một thời gian ngắn sau, Tuấn A1 thông báo tạm
dừng kế hoạch trồng cây cần sa, đợi khi giá cả tăng lên thì hoạt động tiếp. Tôi
góp vốn trong dự án trồng cần sa tại Thái Lan cùng ông D, ông L và ông T1 nhưng
tôi không có yêu cầu gì trong vụ án này, vì đã xác định làm ăn thì lời ăn lỗ chịu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn D,
ông Lưu Quyền L đối với bị đơn ông Nguyễn Duy T1 về việc Tranh chấp hợp đồng
hợp tác.
Buộc ông Nguyễn Duy T1 trả lại cho ông Trần Văn D số tiền 844.666.666 đồng
(T3 trăm bốn mươi bốn triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu
đồng) trong đó có 800.000.000 đồng tiền gốc và 44.666.666 đồng tiền lãi.
Buộc ông Nguyễn Duy T1 trả lại cho ông L2 Quyền Lực số tiền 1.058.749.998
đồng (Một tỷ, không trăm năm mươi tám triệu, bảy trăm bốn mươi chín nghìn, chín
trăm chín mươi m đồng), trong đó tiền gốc 899.999.998 đồng tiền
lãi 158.750.000 đồng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn D đối với ông Nguyễn
Duy T1 về số tiền lãi 115.269.334 đồng (một trăm mười lăm triệu, hai trăm sáu mươi
chín nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng).
6
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông L2 Quyền Lực đối với ông
Nguyễn Duy T1 vsố tiền lãi 36.172.000 đồng (ba mươi sáu triệu, một trăm bảy
mươi hai nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn quyết định ván phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét đối với
hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới giữa ông Nguyễn Duy T1 và ông
Nguyễn Tuấn A1 theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ yêu cầu
kháng cáo, đồng thời thay đổi nội dung kháng cáo từ sửa bản án thẩm sang hủy
bản án thẩm cho rằng Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để
xem xét, giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu. Nguyên đơn vẫn giữ nguyênu
cầu khởi kiện. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm
tranh luận: Bị đơn thừa nhận nhận số tiền do nguyên đơn chuyển. Bị đơn cho rằng
đã chuyển số tiền trên cho ông Tuấn A1, trong khi ông Tuấn A1 phủ nhận việc làm
ăn giữa bị đơn ông Tuấn A1 liên quan đến ông D, ông L. Bị đơn cho rằng mua
sắm trang thiết bị cho công ty nhưng công ty này không liên quan đến ông D, ông
L. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự, Luật sư và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tuấn A1 đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương
sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông Nguyễn Duy T1 thừa nhận nhận chuyển khoản tnguyên
đơn ông Trần Văn D số tiền 800.000.000 đồng, ông Lưu Quyền L số tiền
7
899.999.998 đồng là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn cho rằng chuyển số tiền trên cho bị đơn là để thành lập công ty
N khai thác dược liệu “cây cần sa” tại Thái Lan nhưng bị đơn lại không thực hiện
đúng thỏa thuận. Ngược lại, bị đơn cho rằng số tiền nhận từ nguyên đơn là tiền hợp
tác đầu tư, theo đó ông D, ông L ông T2 xin góp vốn cùng ông T1 để góp vốn
vào công ty của ông Tuấn A1 tại Thái Lan với điều kiện trong 04 người sẽ cử 01
người làm đại diện trực tiếp làm việc với ông Tuấn A1 ông D, ông L, ông T2
thống nhất cử ông T1 làm đại diện. Trên sở đó, ông T1 đã chuyển tiền cho ông
Tuấn A1 để đầu mua máy móc, thiết bị phục vụ cho việc trồng và khai thác cây
cần sa tại Thái Lan, việc làm ăn thua lỗ nên bị đơn không đồng ý trả lại số tiền trên.
[4] Xét, căn cứ vào lời trình bày của ông Trần Văn D, ông Lưu Quyền L, ông
Nguyễn Duy T1; lời khai của người làm chứng ông T2 và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Tuấn A1 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở
xác định việc các bên giao, nhận tiền không phải quan hệ vay tài sản nhằm
mục đích cùng góp vốn để thực hiện hoạt động đầu tư, thành lập doanh nghiệp tại
Thái Lan để nuôi trồng, khai thác kinh doanh dược liệu cây cần sa. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư năm 2020, việc nhà đầu tư thành lập tổ chức
kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu là một trong các hình thức
đầu ra nước ngoài. Do đó, trường hợp các nhân tại Việt Nam góp vốn nhằm
thành lập doanh nghiệp tại Thái Lan để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thì,
về bản chất, thuộc hoạt động đầu tư ra nước ngoài và phải tuân thủ các quy định của
pháp luật Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài.
Tại khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020 quy định cấm hoạt động đầu kinh
doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I của Luật này. Tại Phụ lục I ban hành
kèm theo Luật Đầu năm 2020, “cần sa các chế phẩm từ cần sa” thông
tin CAS 8063-14-7 thuộc danh mục các chất ma túy cấm đầu kinh doanh. Đồng
thời, khoản 1 Điều 53 Luật Đầu năm 2020 quy định ngành, nghề cấm đầu ra
nước ngoài bao gồm ngành, nghề cấm đầu kinh doanh quy định tại Điều 6 của
Luật này.
Như vậy, đủ căn cứ xác định ngay tthời điểm giao nhận tiền, ông Lưu
Quyền L, ông Trần Văn Dông Nguyễn Duy T1 đều biết và thống nhất việc góp
tiền nhằm thành lập doanh nghiệp tại Thái Lan để thực hiện hoạt động trồng, khai
thác, kinh doanh cần sa hoặc các chế phẩm từ cần sa, tmục đích của thỏa thuận
góp vốn này thuộc hoạt động đầu kinh doanh bị pháp luật Việt Nam cấm và đồng
thời thuộc ngành, nghề cấm đầu ra nước ngoài. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác
định giao dịch góp vốn của các bên bị hiệu theo quy định tại Điều 123 của Bộ
luật Dân sự.
[5] Ông T1 cho rằng, việc ông D, ông L ông T2 chuyển tiền để góp vốn
vào công ty của ông Tuấn A1. Tuy nhiên, nguyên đơn ông D ông L không thừa
nhận ông T1 không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận giữa
ông D, ông L, ông T2 ông T1 góp vốn vào công ty ông Tuấn A1 như ông T1 trình
bày. Trong khi đó, chứng cứ Vi bằng số 413/2025/VB-TPL ngày 19 đến ngày
8
23/12/2025 do ông T1 cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung tin nhắn ông T1 gửi
cho ông L: “… Tất cả giấy tờ giờ đứng tên nó….Nó chỉ biết e làm với e chư ko
làm với a và bác dụng…”, chứng minh việc hợp tác giữa ông T1 và ông Tuấn A1,
không liên quan đến ông D, ông L. Ông T1 cũng không chứng minh được việc
thành lập công ty theo thỏa thuận không chứng minh việc sử dụng đúng mục đích
cam kết, đồng thời ông T1 cũng không chứng minh được các khoản lỗ cụ thể. Do
đó, Tòa án cấp thẩm tuyên buộc ông T1 trả lại số tiền đã nhận từ ông D, ông L
dành quyền khởi kiện của ông T1 với ông Tuấn A1 bằng một vụ kiện khác là có
căn cứ.
[6] Đối với yêu cầu tính lãi:
[6.1] Ông Lưu Quyền L yêu cu s tin lãi: 900.000.000
đồng x 0,833%/tháng x 26 tháng = 194.922.000 đồng. Xét thy, tha thun góp vn
gia các bên là vô hiu ngay t thi điểm xác lập. Căn cứ ni dung tin nhn ông T1
nhn cho ông L vào ngày 06/9/2024 ti trang 12/40 ca Vi bng s 413/2025/VB-
TPL ngày 19 đến ngày 23/12/2025 th hin: “… Nếu a ko thích em tr tin li cho
a…”. Như vậy, s xác định t ngày 06/9/2024, ông L đã nhu cầu rút li
phn vn góp ông T1 đã thiện chí tr li vốn góp nhưng ông T1 chưa thực hin
vic tr li vi phạm nghĩa vụ tr tin, làm ảnh hưởng đến quyn li ích hp
pháp của nguyên đơn ông Lưu Quyn L. vy, Tòa án cấp thm buc ông T1
tr tin lãi t ngày 06/9/2024 đến ngày xét x sơ thẩm vi s tin 158.750.000 đồng
là có căn cứ.
[6.2] Ông Trần Văn D yêu cầu số tiền lãi: 800.000.000 đồng x 0,833%/tháng x
24 tháng = 159.936.000 đồng. Xét thấy, việc góp vốn của các bên hiệu lỗi
làm cho thỏa thuận hiệu như nhau. Tuy nhiên, đến ngày 20/11/2025 ông D mới
thông báo yêu cầu ông T1 trả lại phần vốn góp nhưng ông T1 không trả là đã vi
phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, Tòa án cấp thẩm chỉ chấp nhận tính lãi tthời
điểm ông D thông báo gửi cho ông T1 (tức từ ngày 20/11/2025 đến ngày xét
xử sơ thẩm ngày 11/6/2026) với số tiền 44.666.666 đồng là có căn cứ.
[7] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ.
Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là phù hợp.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn
ông Nguyễn Duy T1 là ông Trần Duy Nhật A.
9
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 312/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Duy T1 phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu số 0039701 ngày
23/6/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 16 – Thành phố Hồ C
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (13), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1658/2026/DS-PT Bản án số 1658/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1658/2026/DS-PT Bản án số 1658/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất