Bản án số 651/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 651/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 651/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 651/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 651/2026/DS-PT
Ngày: 26-8-2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Nguyễn Thị Tâm
Các Thẩm phán:
Đặng Mai Hoa
Trần Thị Diệp Linh
- Thư phiên tòa: Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội tham gia phiên toà:
Trần Thị Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nội xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ lý s207/2026/TLPT-DS ngày 30 tháng 3
năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 2984/2025/DSST, ngày 12/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 234/2026/QĐ-PT ngày 30
tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 284/2026/QĐ-PT ngày
14/4/2026, Thông báo mở lại phiên tòa phúc thẩm số 554/2026/TB-MLPT ngày
05/5/2026; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 395/2026/QĐ- PT ngày 26 tháng
5 năm 2026 Thông báo mở lại phiên toà số phúc thẩm số 1042/TB-MLPT ngày
28 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà G, phố L, phường B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Công ty L1, người đại diện theo pháp luật:
Nguyễn Thị Thu T. Địa chỉ: P, tầng G tòa nhà S số G phố D, phường C, thành phố
Nội. Theo giấy uỷ quyền ngày 07/4/2026. Công ty cử Nguyễn Thị P làm
người đại diện theo ủy quyền cho N. Theo Quyết định phân công ngày 26/8/2026.
Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của N: Luật Đỗ Ngọc Q, Văn
phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: phòng B tầng B Nhà N T, phường C,
thành phố Hà Ni. Có mặt
Bị đơn yêu cầu phản tố: Công ty Cổ phần L1 (Sau đây gọi Công ty L1);
Trụ sở: Số F, phố L, phường T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim C, sinh năm 1985 - Chức vụ:
Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uquyền: Cao Thúy N1, sinh năm 1976; ông Đặng
Thành L, sinh năm 1983; ông Đặng Xuân T1, sinh m 1989 - Cán bộ công ty;
theo Văn bản uỷ quyền ngày 22/07/2025. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật Trần Thị Thái H và Luật sư
Đặng Thành C1, Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: P, tòa nhà F, số
A L, phường Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Minh H1, sinh năm 1958;
Vắng mặt.
Địa chỉ: Số nhà G, phố L, phường B, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
* Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như
tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N quyền tnh bày:
Ngày 14/1/2013, Công ty Cổ phần L1 (viết tắt là Công ty L1) ban hành Thông
báo về việc huy động vốn với mục đích huy động tiền phục vụ hoạt động sản xuất
của ng ty. bàn bạc trong gia đình quyết định cho Công ty L1 vay tiền.
Từ tháng 5/2015 đến tháng 9/2016 bà đã cùng Công ty PECC1 ký các Giấy nhận nợ
sau:
1- Giấy nhận nợ s101: ký ngày 22/5/2015 nội dung Công ty L1 vay số tiền
1.800.000.000 đồng; Thời hạn vay 03 tháng ktừ ngày 22/05/2015 đến ngày
22/08/2015 với mức lãi suất trong hạn là 10%/năm, lãi suất phạt quá hạn
15%/năm; Mục đích vay để phục vụ sản suất kinh doanh của Công ty. Bên vay
phải thực hiện trả nợ gốc theo đúng thời hạn quy định tại Giấy nhận nợ và trả lãi cho
bên cho vay vào ngày cuối tháng của tháng cuối quý. Lãi suất sẽ thay đổi hàng quý
theo biến động lãi suất Ngân hàng. Những giấy nhận nợ đã sẽ được giữ nguyên
lãi suất cho đến cuối kỳ hạn.
3
2- Giấy nhận nợ số 147: ngày 24/9/2015, Công ty L1 vay số tiền
1.240.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán nợ gốc, nợ lãi tương tự như trên.
3- Giấy nhận nợ số 188: ngày 30/11/2015, Công ty L1 vay số tiền
1.100.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán tương tự như trên.
4- Giấy nhận nợ số 29: ngày 02/03/2016, Công ty L1 vay số tiền
1.300.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán tương tự như trên.
5- Giấy nhận n số 52: ngày 20/4/2016, Công ty L1 vay số tiền
3.500.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán tương tự như trên.
6- Giấy nhận nợ số 66: ngày 28/6/2016, Công ty L1 vay số tiền
2.500.000.000 đồng với thời hạn vay, mc đích vay, thời hạn vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán tương tự như trên.
7- Giấy nhận nợ số 80: ngày 09/08/2016, Công ty L1 vay số tiền
600.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn, thời
hạn thanh toán tương tự như trên.
8- Giấy nhận nợ số 94: ngày 30/09/2016, Công ty L1 vay số tiền
2.500.000.000 đồng với thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay, lãi suất quá hạn,
thời hạn thanh toán tương tự như trên.
Tổng số tiền Công ty L1 vay của theo 08 Giấy nhận nợ trên
14.540.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện việc trả lãi theo các Giấy nhận nợ, Công ty L1 đã
nhiều lần hạ mức lãi suất và có thông báo bằng văn bản như sau:
- Thông báo ngày 14/7/2017, Công ty điều chỉnh lãi suất vay từ 10%/năm xuống
còn 9,5%/năm;
- Thông báo ngày 24/11/2017, Công ty điều chỉnh lãi suất vay từ 9,5%/năm
xuống còn 9,0%/năm;
- Thông báo ngày 12/5/2021, Công ty điều chỉnh lãi suất từ 9%/năm xuống còn
8,5%/năm;
- Thông báo ngày 25/10/2021, Công ty điều chỉnh lãi suất còn 7,5%/năm;
- Thông báo ngày 26/01/2022, Công ty điều chỉnh lãi suất còn 7,0%/năm.
Quá trình thực hiện các thỏa thuận trong Giấy nhận nợ, Công ty L1 mới chỉ
thanh toán được số tiền như sau:
4
- Năm 2017, thanh toán tiền lãi trong hạn 1.373.331.875 đồng; lãi quá hạn
chỉ thanh toán quý 1 năm 2017 được 8.481.344 đồng, còn các quý 2, 3, 4 năm 2017
không tính thanh toán. Tổng tiền lãi quá hạn theo thoả thuận trong các quý 2, 3,
4 năm 2017 là 42.915.000 đồng;
- m 2018, Công ty chỉ trả phần lãi trong hạn số tiền 1.263.791.579 đồng;
không tính và thanh toán phần lãi quá hạn là 91.310.592 đồng;
- Năm 2019, tổng số tiền lãi trong hạn 1.260.436.250 đồng, Công ty chỉ thanh
toán cho 878.491.500 đồng, còn nợ tiền lãi trong hạn 381.944.750 đồng, không
tính thanh toán lãi qhạn của năm 2019 248.918.661 đồng. Tổng số tiền Công
ty Cổ phần L1 n nợ năm 2019 là 630.863.411 đồng;
- Năm 2020, tổng số tiền lãi trong hạn 1.263.889.500 đồng, Công ty chỉ thanh
toán 435.398.000 đồng, còn nợ tiền lãi trong hạn 828.491.500 đồng, không tính
thanh toán phần lãi suất quá hạn của năm 2020 227.302.774 đồng. Tổng số tiền
nợ năm 2020 là 1.055.794.274 đồng;
- Năm 2021, tổng số tiền lãi trong hạn 1.200.171.309 đồng, Công ty chỉ thanh
toán 205.938.795 đồng, còn nợ tiền lãi trong hạn là 994.232.514 đồng, không tính
và thanh toán phần lãi quá hạn của năm 2021 là 140.738.690 đồng. Tổng số tiền nợ
năm 2021 là 1.134.971.204 đồng;
- m 2022, tổng số tiền lãi trong hạn các quý 1, 2, 3 738.734.315 đồng,
Công ty không thanh toán. Đồng thời phần lãi suất quá hạn trong các quý 1, 2, 3 của
năm 2022, cũng không tính thanh toán 37.312.617 đồng. Tổng số tiền còn nợ
trong các quý 1, 2, 3 của năm 2022 là 776.046.932 đồng;
Như vậy, tính từ năm 2017 đến hết quý 3 năm 2022, tổng số tiền lãi trong hạn
Công ty PECC1 phải thanh toán 7.100.354.846 đồng nhưng mới thanh toán
4.174.433.111 đồng, gồm 4.156.951.767 đồng lãi trong hạn 8.481.344 đồng lãi
quá hạn, số tiền còn nợ lại 2.943.403.079 đồng.
Ngoài ra, Công ty không thanh toán tiền lãi quá hạn từ Quý 2 năm 2017 đến
hết Q1 3 năm 2022 tạm tính 788.498.334 đồng. Tổng số tiền lãi trong hạn lãi
quá hạn, Công ty chưa thanh toán cho tính đến hết Q1 3 năm 2022
3.731.901.413 đồng.
Đối với tiền lãi trong hạn từ khi vay đến ngày 01/01/2017, Công ty đã thanh
toán đầy đủ nên bà không có yêu cầu gì. Số tiền lãi Công ty đã thanh toán trong các
năm 2015, 2016 do không lưu giữ chứng từ nên bà không nhớ là bao nhiêu.
Do Công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà đã nhiều lần đơn đề nghị gửi
Công ty đề nghị thanh toán hết các khoản tin lãi theo các Giấy nhận nợ mà các bên
đã ký kết hoàn trả lại cho nợ gốc 14.540.000.000 đồng nhưng ng ty không
5
thực hiện. Ngày 04/8/2022, tại buổi làm việc với Tổng giám đốc và Kế toán trưởng
Công ty, bà được thông báo, việc thanh toán tiền lãi gốc cho phải chờ ý kiến
của Tập đoàn Đ (E). Đến nay, vẫn chưa nhận được trả lời của Công ty về do
không tiếp tục trả các khoản nợ trên cho trong khi việc vay nợ số tiền
14.540.000.000 đồng thật và Công ty đã sử dụng số tiền này để phục vụ hoạt
động sản xuất, kinh doanh của Công ty và đã trả một phần tiền lãi trong hạn cho bà.
Từ Q1 4 m 2022 đến nay, ng ty PECC1 không thanh toán nợ gốc lãi
cho bà là vi phạm những quy định được ghi trong Giấy nhận nợ. Do đó bà khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc Công ty L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền nợ gốc và nợ lãi
đến hết Q1 3 năm 2022 từ Q1 4 năm 2022 đến ngày xét xử sơ thẩm. Đối với
nợ gốc, lãi trong hạn đến Quý 3/2022 đã có văn bản xác nhận công nợ giữa các bên.
Đối với yêu cầu phản tố của nguyên đơn, bà không nhất trí vì giữa bà và Công
ty L1 không ký văn bản nào liên quan đến hợp đồng tín dụng, thẻ tiết kiệm, trái
phiếu, tín phiếu nên không vi phạm Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Đây
quan hệ vay tài sản giữa bên cho vay bên vay Công ty L1 thoả thuận
các điều khoản về số tiền, thời hạn cho vay, lãi suất vay, quyền nghĩa vụ của bên cho
vay, bên vay
Những nội dung trong Giấy nhận nợ phù hợp với quy định của pháp luật dân
sự về hợp đồng vay tài sản. Từ Quý 4/2022 đến nay ng ty không tiếp tục thực
hiện hợp đồng cho rằng hợp đồng vi phạm Luật các tổ chức tín dụng, Luật doanh
nghiệp nên vô hiệu và chỉ đồng ý trả lại tiền gốc, trừ đi các khoản tiền lãi đã trả cho
bà từ năm 2017 đến hết quý 3/2022 là không có căn cứ
Mặt khác, số tiền mà bà cho Công ty L1 vay từ năm 2016 - 2017 cũng đã giúp
cho Công ty vốn hoạt động trong lúc khó khăn tài chính để tồn tại cho đến hiện
nay nhưng Công ty L1 lại cho rằng hợp đồng cho vay tài sản hiệu điều bất
hợp lý. vậy, yêu cầu Công ty L1 phải hoàn trả toàn bộ số tiền gốc lãi
chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm.
* Bị đơn - Công ty L1 do người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 14/01/2013, Tổng Giám đốc Công ty L1 ban hành Thông báo về việc huy
động vốn. Trong đó nội dung: "Kể từ ngày m nay, 14 tháng 01 năm 2013, Công
ty sẽ huy động vốn vay của cán bộ, công nhân viên trong Công ty để phục vụ sản
xuất với mức lãi suất là 12,6%/năm"
Ngày 27/01/2014 và ngày 24/03/2014, Tổng Giám đốc Công ty L1 tiếp tục ban
hành các thông báo giảm lãi suất xuống 11%/năm và 10%/năm
Trong giai đoạn từ tháng 5/2015 đến tháng 9/2016, đại diện Công ty L1 đã ký
08 Giấy nhận nợ với bà Nguyễn Thị N, theo đó tổng số tiền nhận n gốc
6
14.540.000.000 đồng. Từ năm 2017 đến hết Quý 3 năm 2022, Công ty L1 đã thanh
toán cho bà N tổng số tiền lãi là 5.262.128.944 đồng
Nguyên đơn - Nguyễn Thị N người liên quan của thành viên Hội đồng
quản trị Công ty (cụ thể N vợ của ông Minh H1 - Thành viên Hội đồng quản
trị tnăm 2011 - 2013 Chủ tịch Hội đồng quản trị từ ngày 26/4/2013 - 30/6/2017).
Đến ngày 01/12/2018, ông Nguyễn Tài S - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần
L1 nghỉ hưu theo chế độ, ngày 01/01/2019, ông Minh H1 nghỉ hưu theo chế độ.
Sau đó là ông H2, ông C2 tiếp nhận công việc của hai ông.
Tháng 8/2022, sau khi soát lại toàn bộ quá trình huy động vốn, Công ty đã
tạm dừng việc thanh toán tiền lãi vay đxem xét trách nhiệm của các tổ chức,
nhân liên quan.
Qua soát, Công ty nhận thấy, việc kết các Thỏa thuận vay tiền trong đó
thoả thuận với Nguyễn Thị N không đúng thẩm quyền không đúng đối
tượng do không được Hội đồng quản trị phê duyệt.
Căn cứ theo Luật doanh nghiệp 2005 2014, Điều lệ 2010 Điều lệ 2014
của PECC1, Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được
Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận: "...người có liên quan của
thành viên Hi đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc". Việc Công ty L1 xác
lập Thỏa thuận vay tiền với bà Nguyễn Thị N người có liên quan đến thành viên
Hội đồng quản trị tại thời điểm đó phải được sự đồng ý của Hội đồng quản trị và Đại
hội cổ đông của Công ty L1.
Trong thời gian từ năm 2012 đến 2016, Hội đồng quản trị Đại hội cổ đông
của PECC1 chưa từng ban hành văn bản chấp thuận, thông qua việc Tổng Giám đốc
được kết các thỏa thuận vay tiền. Nvậy, các thỏa thuận vay tiền được kết
giữa Công ty L1 (đại diện là ông Nguyễn Tài S) với Nguyễn Thị N không được
chấp thuận bởi người có thầm quyền của PECCl.
Theo Thông báo về việc huy động vốn của PECC1 do ông Nguyễn Tài S - Tổng
Giám đốc công ty ký ngày 14/01/2013 là huy động vốn của cán bộ, công nhân viên
trong Công ty để phục vụ sản xuất kinh doanh với lãi suất 12,6%/năm. Bà Nguyễn
Thị N không phải là cán bộ, công nhân viên của Công ty L1 kết Thỏa thuận vay
tiền với công ty. Như vậy, PECC1 đã huy động vốn sai đối tượng ghi trong thông
báo của công ty. Ngoài ra, việc kết các Thỏa thuận vay tiền vi phạm điều cấm của
Luật các tổ chức tín dụng 2010 (các tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng
bị nghiêm cấm thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi). Trong khi từ năm 2013 đến năm
2016, PECC1 đã thực hiện liên tục việc huy động vốn, vay tiền tnhiều nhân
trong và ngoài công ty trong đó có bà N, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất vay 12,6%
7
năm, thanh toán tiền lãi theo định kỳ, các khoản vay giá trị lớn. PECCI đã thực
hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi như các t chức tín dụng.
Do giao dịch dân sự giữa N Công ty mục đích nội dung vi phạm
điều cấm của pháp luật, trái đạo đức hội nên hiệu. Công ty đề nghị Toà án
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 21/10/2024, Công
ty đã Đơn phản tố yêu cầu Toà án tuyên bố các Giấy nhận ngiữa bà Nguyễn Thị
N Công ty Cổ phần L1 hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu,
Công ty sẽ hoàn trả cho bà N số tiền đã nhận nợ là 14.540.000.000 đồng, bà N phải
hoàn trả cho Công ty số tiền lãi Công ty đã thanh toán cho N 5.262.128.944
đồng. Nay Công ty giữ nguyên yêu cầu phản tố, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết
theo quy định ca pháp luật.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - ông Lê Minh H1 trình bày:
Công ty L1 pháp nhân độc lập 54% vốn góp của Tập đoàn Đ (E). Tập
đoàn cử 03 người đại diện phần vốn góp của EVN tại Công ty. Thời điểm trước
tháng 5/2013 đại diện cho Tập đoàn ông Nguyễn Tài S gichức vụ Tổng giám
đốc, ông Nguyễn Quyết T2 - chtịch Hội đồng quản trị 01 người khác ông không
nhớ là ai.
Tháng 1/2013 khi Công ty chủ trương huy động vốn tcán bộ công nhân
viên trong Công ty để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty đã thông qua
Hội đồng quản trị Công ty và được Hội đồng quản trị đồng ý. Ông Nguyễn Tài S
Tổng giám đốc Công ty L1 là đại diện phần vốn của Tập đoàn Đ tại Công tL1 đã ký
thông báo huy động vốn gửi các đơn vị trong Công ty. Thời điểm đó ông chỉ là kế
toán trưởng, không có quyền quyết định đối với chủ trương của ban lãnh đạo Công
ty.
Tháng 5/2013, ông được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty. Do
Công ty trong tình trạng thiếu vốn kinh doanh nên ông Hội đồng quản trị vẫn nhất
trí với chủ trương này. Do nguồn vốn vay từ các cán bộ nhân viên Công ty không đủ
nên Công ty phải vay từ các tổ chức, nhân ngoài Công ty. Thời điểm đó, Tập đoàn
Đ (Công ty mẹ của Công ty cổ phần L1) vay vượt hạn mức tín dụng nên Ngân hàng
không cho vay nữa, các Công ty con buộc phải vay từ bên ngoài.
Ông làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty đến năm 2017 thì nghỉ chế độ,
không tham gia bất cứ công việc tại Công ty nữa.
Năm 2015, 2016, vợ ông là bà Nguyễn Thị N đã dùng số tiền gia đình tích luỹ
được cho Công ty vay cũng để giúp đỡ Công ty vượt qua giai đoạn khó khăn về
tài chính. Việc N cho Công ty vay ông biết đó tài sản chung của vợ chồng.
Bà N đã ký 08 Giấy nhận nợ cho Công ty vay tổng số tiền 14.540.000.000 dồng với
8
lãi suất theo thoả thuận của hai bên. Sau khi Giấy nhận nợ với N, Công ty thực
hiện trả lãi cho N nhưng không trả đủ, mỗi năm nợ lại một ít lãi. Công ty tự
động ra thông báo điều chỉnh giảm lãi suất gửi cho bà N nhiều lần. Tổng số tiền lãi
Công ty đã thanh toán cho bà N như bà N trình bày là đúng.
Công ty không thanh toán tiền lãi cho N từ Quý 4/2022 đến nay trong khi
vẫn thanh toán cho những người khác.
Do bị ảnh hưởng quyền lợi nên bà N phải làm đơn khởi kiện đến Tòa án.
Nay với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, cùng
quyền sở hữu đối với số tiền cho vay, ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết, bảo vệ quyền lợi cho vợ
chồng ông.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu tuyên bố các giấy nhận nợ
giữa N Công ty L1 hiệu giải quyết hậu quả của giao dịch hiệu ông
hoàn toàn không nhất trí vì các Giấy nhận nợ này xuất phát từ chủ trương của lãnh
đạo Công ty, thể hiện qua thông báo ngày 14/01/2013 do ông Nguyễn Tài S - Tổng
giám đốc đồng thời người đại diện phần vốn góp của Tập đoàn Đ ký. Từ năm
2013 đến năm 2017, quan thuế, quan kiểm toán vào làm việc tại Công ty nhiều
lần, không có bất cứ kết luận nào thể hiện có sai phạm trong việc vay vn của Công
ty đối với các cá nhân trong và ngoài Công ty.
* Người làm chứng - ông Nguyễn Tài S trình bày: Công ty PECC1 là công ty
cổ phầL1, có tư cách pháp nhân, có khoảng 54% vốn góp của Tập đoàn Đ (E). Tập
đoàn có cử người tham gia Hội đồng quản trị của Công ty gồm có ông, ông T2, sau
này ông H1. Hàng năm, Công ty phải báo cáo Tập đoàn về chỉ tiêu hoạt động kinh
doanh của Công ty, tuy nhiên Tập đoàn không can thiệp vào hoạt động điều hành
của Công ty, kể cả việc huy động vốn duy trì hoạt động của Công ty.
Ông được bổ nhiệm Tổng giám đốc Công ty cổ phần L1 từ năm 2013 đến
2017. Trong quá trình lãnh đạo điều hành Công ty, do đặc thù của Công ty L1
thường thực hiện các dự án thuỷ điện, nhiệt điện lớn, thường xuyên thiếu vốn
phải huy động vốn từ các nguồn khác nhau. Thời điểm từ khoảng năm 2013 đến
2018, các Công ty thuộc Tập đoàn E không vay được nguồn vốn từ Ngân hàng nên
phải vay từ nguồn tiền của cán bộ công nhân viên trong Công ty và gia đình họ.
Trước đó, Công ty cũng thường xuyên phải vay vốn từ các nguồn khác nhau.
Từ m 2010, Công ty thực hiện cổ phần hoá, trở thành Công ty Cổ phần L1. Về
chủ trương huy động vốn từ các cá nhân có từ trước khi ông lên làm tổng giám đốc.
Thời điểm ông là tổng giám đốc, ông Minh H1 chủ tịch Hội đồng quản trị, mọi
chủ trương lớn, trong đó hoạt động vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh
9
doanh Hội đồng quản trị biết nhưng không có Nghị quyết và cũng không có văn bản
chấp thuận chủ trương này.
Trong giai đoạn 2014 đến 2016, Công ty vay tiền của cả người nhà cán bộ
công nhân viên, trong đó bà Nguyễn Thị N vợ ông Lê Minh H1 chủ tịch Hội
đồng quản trị Công ty.
Trong đó, năm 2015, ông với cách đại diện theo Công ty 04 Giấy
nhận nợ, năm 2016 ký 04 giấy nhận nợ với bà Nguyễn Thị N để vay số tiền hơn 14
tỷ đồng với lãi suất theo thoả thuận. Do pháp luật lúc đó không cấm doanh nghiệp
vay tiền của nhân (cán bộ công nhân viên công ty) nên chúng tôi vẫn tiến hành
các giao dịch này.
Sau khi ký các giấy nhận nợ với bà N cũng như các cá nhân khác, Công ty thực
hiện trả lãi đầy đủ cho bên cho vay theo các thông báo điều chỉnh lãi suất cho đến
thời điểm ông nghỉ chế độ vào khoảng tháng 4/2017. Sau này Công ty tiếp tục thực
hiện hợp đồng như thế nào thì ông không nắm được, stiền lãi Công ty đã thanh
toán cho bà N cụ thể ra sao ông không biết vì bộ phận kế toán phụ trách.
Nay N khởi kiện Công ty cổ phần L1 yêu cầu thanh toán nợ theo 08 giấy
nhận nợ trên, quan điểm của ông như sau: Các Giấy nhận nợ Công ty Cổ phần L1
đã với nhân N cũng như những cá nhân khác thời điểm đó hợp pháp vì
được giao kết trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia, không vi phạm điều cấm
của pháp luật nên hiệu lực thi hành. Do giao dịch hợp pháp nên Công ty Cổ
phần L1 phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận nợ cho bên cho vay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2984/2025/DSST, ngày 12/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Hà Nội đã xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị N
một phần yêu cầu phản tố của bị đơn - Công ty Cổ phần L1.
- Tuyên bố 08 giấy nhận nợ gồm: Giấy nhận nợ số 101 ngày 22/05/2015, Giấy
nhận nợ số 147 ngày 24/09/2015, Giấy nhận nợ số 188 ngày 30/11/2015, Giấy nhận
nợ số 29 ngày 02/03/2016, Giấy nhận nợ số 52 ngày 20/04/2016, Giấy nhận nợ s
66 ngày 28/06/2016, Giấy nhận nợ số 80 ngày 09/08/2016 Giấy nhận nợ số 94
ngày 30/09/2016 giữa Công ty Cổ phần L1 và bà Nguyễn Thị N là vô hiệu.
- Buộc Công ty Cổ phần L1 phải hoàn trả cho Nguyễn Thị N số tiền đã nhận
theo 08 giấy nhận nợ trên là 14.540.000.000 đồng (Mười bốn tỷ m trăm bốn mươi
triệu đồng chẵn)
- Buộc Nguyễn Thị N phải hoàn trả cho Công ty Cổ phần L1 số tiền lãi Công
ty đã thanh toán trả bà N từ tháng 06/2015 đến khi dừng thanh toán 5.262.128.646
10
đồng (năm thai trăm u mươi hai triệu một trăm hai mươi tám ngàn sáu trăm bốn
mươi sáu đồng)
- Công ty Cổ phần L1 phải bồi thường cho Nguyễn Thị N giá trị thiệt hại
tương ứng với phần lỗi của mình gây ra 8.416.906.920 đồng. Đối trừ với nghĩa vụ
của bà N về việc hoàn trả s tiền lãi 5.262.128.646 đồng cho Công ty Cổ phần L1
trên, Công ty còn phải bồi thường tiếp cho bà N số tiền 3.154.778.274 đồng.
Tổng cộng số tiền Công ty Cổ phần L1 phải hoàn trbồi thường cho N
17.694.778.724 đồng (Mười bảy tỷ sáu trăm chín triệu by trăm bảy tám ngàn
bảy trăm hai tư đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn Công ty Cổ phần L1 kháng cáo một
phần Bản án dân sự thẩm số 2984/2025/DS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Hà Nội với lý do:
- Công ty không đồng ý với nhận định quyết định của Bản án thẩm tại
mục [2.3] liên quan đến việc xác định mức đlỗi của các bên phân chia trách
nhiệm theo tỷ lệ Công ty chịu 60%, bà Nguyễn Thị Nông Minh H1 chịu 40%,
cho rằng việc xác định tỷ lệ này chưa thật sự phù hợp với bản chất pháp của
giao dịch cũng như các quy định của pháp luật hiện hành.
- Bà Nguyễn Thị N không thể được coi là bên ngay tình hay bên yếu thế trong
giao dịch này. N là vợ của Chủ tịch Hội đồng quản tr - ông Lê Minh H1; việc
N sử dụng tài sản chung của vợ chồng để cho Công ty vay tiền là vấn đề mà ông H1
với cách đồng chủ sở hữu tài sản người quản doanh nghiệp, trách
nhiệm biết điều kiện trao đổi, nhắc nhở về các quy định pháp luật liên
quan đến việc Công ty giao kết hợp đồng với người liên quan. Trong bối cảnh đó,
N2 biết hoặc buộc phải biết các hạn chế pháp lý trong việc Công ty ký kết, thực
hiện hợp đồng vay với người liên quan đến người quản doanh nghiệp, nên
không thể coi bà là bên ngay tình khi tham gia giao dịch.
- Bản án thẩm cũng không xác định được thiệt hại vật chất cụ thể nào phát
sinh ngoài nghĩa vụ hoàn trả để làm căn cứ xác định cụ thể tỷ lệ lỗi của các bên. Vì
vậy, việc phân chi lỗi theo tỷ lệ 60% - 40% trong bối cảnh không có thiệt hại thực tế
được lượng hoá rõ ràng là chưa thật sự phù hợp với tinh thần của pháp luật dân sự.
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự thẩm số
2984/2025/DSST ngày 12/12/2025; xác định lại mức đlỗi của các bên: không áp
dụng tỷ lệ 60% - 40% đối với Công ty L1 hoặc xem xét điều chỉnh tỷ lệ lỗi của phía
nguyên đơn (bà N, ông H1) mức cao hơn, nhằm đảm bảo việc phân định trách
nhiệm phợp với vai trò, trách nhiệm của người quản lý người liên quan theo
11
quy định của Luật Doanh nghiệp đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty
PECC1 theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền trình bày: giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn về việc thay đổi tỷ lệ phân định lỗi nhằm né tránh nghĩa vụ tài chính và
giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm về việc buộc Công ty L1 hoàn trả toàn bộ số tiền
gốc 14.540.000.000 đồng, duy trì tỷ lệ phân định trách nhiệm Công ty chịu lỗi 60%
còn lại là cá nhân bà N 40% đã tuyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm
được tóm tắt như sau: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng của bà N cho Công
ty L1 vay trong 08 giấy nhận nợ hiệu là không đúng. Việc cho vay nhận tiền
vay là phù hợp với quy định của pháp luật về vay tài sản. Việc bà N cho Công ty L1
phải báo cáo với Hội đồng quản trị Công ty thì người lỗi chịu trách nhiệm là
Công ty L1 chứ không phải là bà N. Với số tiền vay gc là 14.540.000.000 đồng thì
Công ty L1 đã sử dụng số tiền này phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong
thời gian dài góp phần giúp Công ty vượt qua những khó khăn về tài chính. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng thì Công ty L1 cũng đã thanh toán tiền lãi trong hạn
cho bà N theo từng Q1 như thỏa thuận nhưng không đầy đủ theo mức lãi suất trong
hạn, còn mức lãi suất quá hạn thì Công ty không thanh toán. Từ Quý 4/2022 đến
nay, Công ty PECC1 dựa vào Công văn số 4725/EVN-KSTG ngày 22/8/2022 Của
Tập đoàn Đ (E) để không thanh toán tiền lãi cho N. Việc không tiếp tục trả nợ
gốc, nợ lãi cho bà N liên quan đến các khoản vay theo các Giấy nhận nợ đã được
kết vi phạm các quy định của pháp luật, nên N không phải chịu lỗi 40% như
Tòa án cấp sơ thẩm xác định gây thiệt hại cho bà N. Nhưng vì quá mệt mỏi bà N đã
chấp nhận, chịu thiệt thòi không kháng cáo đối với bản án thẩm và đề nghị
HĐXX giữ nguyên quyết định trọng bản án sơ thẩm, buộc Công ty L1 hoàn trả cho
bà N số tiền gốc và 1 phần số tiền lãi.
2. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: giữ nguyên nội dung
kháng cáo, sửa một phần Bản án dân ssơ thẩm theo hướng xác định lại mức độ lỗi
của các bên cụ thể như sau: Không áp dụng tỷ llỗi 60% đối với Công ty Cổ phần
L1, hoặc xem xét điều chỉnh mức độ lỗi của nguyên đơn Nguyễn Thị N ông
Lê Minh H1 mức độ cao hơn nhằm bảo đảm việc phân định trách nhiệm phù hợp
với vai trò, nghĩa vụ của người quản doanh nghiệp người liên quan theo quy
định của Luật doanh nghiệp; Đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ
phần L1 theo quy định của pháp luật.
12
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm được
tóm tắt như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ông Minh H1 vi phạm nghĩa
vụ của người quản lý nhưng chưa định giá đầy đủ hậu quả pháp lý của vi phạm này,
ông H1 Chủ tịch HĐQT đồng thời quan hệ vchồng với người trực tiếp cho
Công ty vay tiền và có lợi ích liên quan đến nguồn tiền. Vì vậy, khi đánh giá lỗi phải
xem xét đến trách nhiệm của ông H1 lợi ích liên quan. Việc xác định lỗi của Công
ty L1 60% của ông H1, N 40% nhưng chưa giải sao tổng trách
nhiệm của ông H1 N chỉ 40%, trong đó không xác định riêng ông C3
bao nhiêu phần và bà N chịu bao nhiêu phần. Căn cứ Điều 162 Luật Doanh nghiệp
2014, cần phải xem xét trách nhiệm của những nhân nghĩa vụ quản trị, kiểm
soát và lợi ích liên quan trực tiếp đến giao dịch ông H1, Tòa án cấp thẩm
xác định gộp ông H1 N chịu 40% không phân tích riêng trách nhiệm của
ông H1 chưa thỏa đáng. N vợ ông H1, ông H1 Chủ tịch HĐQT PECC1,
bà N đã trực tiếp giao tiền cho Công ty và nhận lại số tiền lãi rất lớn trong quá trình
thực hiện giao dịch là 5.262.128.646 đồng, vì vậy khi xác định mức độ lỗi của bà N
phải xem thực tế không nghị quyết, quyết định hoặc biên bản chấp thuận
N vẫn tiếp tục giao tiền, nhiều Giấy nhận nợ nhận lãi trong thời gian dài
nên bà N phải hoàn trả khoản tiền này cho Công ty. Tòa án cấp sơ thẩm đã tính lấy
số tiền gốc x tỷ lệ lỗi 60% nhưng không phân tích cụ thể quan hnhân quả giữa từng
hành vi với từng phần thiệt hại chưa đủ sở để áp đặt nghĩa vụ 8.416.906.920
đồng cho Công ty L1. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của Công ty L1 đối với
phần xác định mức độ lỗi và nghĩa vụ bồi thường, không áp dụng tỷ lệ lỗi 60% đối
với Công ty L1 hoặc xem xét điều chỉnh tỷ lệ lỗi của phía bên nguyên đơn cao hơn,
đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của Công ty PECC1 theo đúng quy định của pháp
luật.
Các đương skhông xuất trình thêm tài liệu chứng cứ không thoả thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
3.Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát
biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chtọa phiên
tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng
theo quy định ca pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia ttụng: các đương sđã chấp
hành đúng quyền nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng
cáo của Bị đơn trong thời hạn luật định nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình
thức là hợp lệ.
13
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung ván, đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án
dân sự thẩm số 2984/2025/DSST, ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
2 - Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu án p
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Bị đơn đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
trong thời hạn quy định ca pháp luật nên được chấp nhận về mặt hình thức.
Tại phiên tòa, mặt nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn bị đơn. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Minh
H1 vắng mặt lần thứ 2 không do, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự,
HĐXX tiến hành xét xử theo quy định.
[1.2]. Ti Tòa án, Nguyễn Thị N Công ty L1 tranh chấp tính hợp pháp
của 08 Giấy nhận nợ, ký kết giữa Công ty với N. Cấpthẩm xác định quan h
pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có căn c.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo ca bị đơn Công ty Cổ phần L1:
[2.1]. Xét 08 giấy nhận ngồm: Giấy nhận nợ số 101 ngày 22/05/2015, Giấy
nhận nợ số 147 ngày 24/09/2015, Giấy nhận nợ số 188 ngày 30/11/2015, Giấy nhận
nợ số 29 ngày 02/03/2016, Giấy nhận nợ số 52 ngày 20/04/2016, Giấy nhận nợ số
66 ngày 28/06/2016, Giấy nhận nợ số 80 ngày 09/08/2016 Giấy nhận nợ số 94
ngày 30/09/2016 được ký giữa Công ty Cổ phần L1 và bà Nguyễn Thị N:
Về hình thức: 08 Giấy nhận nợ đều được ký kết giữa người đại diện theo pháp
luật của Công ty L1 với bà N. Hai bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên hình
thức phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị N là vợ ông Minh H1, ông H1 là Chủ tịch Hội
đồng quản trị Công ty L1 từ ngày 07/05/2013 đến tháng 06/2017. Theo quy định tại
Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 và Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì bà
N là người có liên quan của người quản lý doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014, thì Hợp đồng,
giao dịch giữa Công ty với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám
14
đốc và người có liên quan của họ phải được Đại hội cổ đông hoặc Hội đồng quản trị
Công ty L1 chấp thuận.
Tuy nhiên, trong toàn bộ các tài liệu, chứng cứ do nguyên, bị đơn, người
quyền lợi liên quan xuất trình cho Toà án, không bất cứ tài liệu nào thể hiện trước
khi thực hiện giao kết các hợp đồng vay tài sản với bà N, người giao kết hợp đồng
đã báo cáo với Hội đồng quản trị, ban kiểm soát Công ty PECC1 về các đối tượng
liên quan đến giao dịch đó, cũng không bất cứ văn bản hay nghị quyết nào của
Hội đồng quản trị chấp thuận đối với các hợp đồng này. Thậm chí, bản thân ông H1
với cách là chủ tịch Hội đồng quản trị, có lợi ích liên quan trực tiếp trong các giao
dịch giữa Công ty L1 với N cũng không triệp tập Hội đồng quản trị để thông qua,
không công khai với Hội đồng quản trị về các lợi ích mình được hưởng từ các giao
dịch này là vi phạm quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ Công ty.
Cấp thẩm xác định nội dung giao dịch của 08 Giấy vay nợ giữa N với
Công ty vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật là có căn cứ.
[2.2]. Về xử hậu quả khi hợp đồng hiệu: cấp thẩm áp dụng khoản 2
Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005, để buộc Công ty phải trả N tổng số tiền
14.540.000.000 đồng theo 08 giấy nhận nợ; buộc N phải hoàn trả Công ty số tiền
lãi đã nhận là có căn cứ.
[2.3]. Về mức độ lỗi của các bên khi tham gia giao dịch trách nhiệm bồi
thường thiệt hại: cấp sơ thẩm xác định mức độ lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu của bà
N và Công ty L1 là phù hợp.
Cấp sơ thẩm xác định thiệt hạitiền lãi của số tiền giao dịch mà lẽ ra bên cho
vay được hưởng nếu hợp đồng có hiệu lực pháp luật là có căn cứ.
Kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần L1 không có cơ sở để chấp nhận.
T các phân tích trên, Hội đng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự: Không chp nhn kháng cáo ca b đơn Công ty Cổ phần L1, gi nguyên
bn án dân sự sơ thẩm số 2984/2025/DSST, ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Hà Nội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với
nhận định của Hi đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần L1 không được chấp nhận nên Công
ty Cổ phần L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
15
- Điu 26; Điều 39; Điều 148; Khoản 2, khoản 3, Điều 296; khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 và Điều 4; khoản 1 Điều 162 Luật doanh
nghiệp năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án;
Xử:
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ng ty Cổ phần L1 (viết tắt
Công ty L1);
[2]. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 2984/2025/DSST, ngày 12/12/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội.
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty Cổ phần L1 phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0022099 ngày 31 tháng 12
năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự, quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều
9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND khu vực 2-HN;
- THADS TP Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất