Bản án số 1099/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1099/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1099/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1099/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà L yêu cầu vợ chồng anh T, chị D trả số tiền còn nợ là 1.900.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1099/2026/DS-PT Bản án số 1099/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1099/2026/DS-PT Bản án số 1099/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1099/2026/DS-PT
Ngày: 26-8-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng;
+ Ông Nguyễn Văn Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị
Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xphúc
thẩm công khai ván thụ số 575/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 7 năm 2026, về việc
Tranh chấp vợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2026/DS-ST, ngày 20-9-2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 2 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 580/2026/QĐXX-PT, ngày 7 tháng 8 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Tô Thị Trúc L, sinh năm 1983; CCCD số ************; trú tại:
Ấp H, xã N, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (giấy uỷ quyền lập ngày 26/3/2025-BL
số 25): Ông Văn L1, sinh năm 1982; CCCD số ************; trú tại: Ấp B, B, tỉnh
Đồng Tháp, có mặt.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Minh T, sinh năm 1980; CCCD số ************; trú tại: Ấp N, N,
tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
2.2 Nguyễn Kiều D, sinh năm 1986; CCCD số ************; trú tại: Ấp N,
2
N, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Kiều D (giấy uỷ quyền lập ngày
26/9/2025 BL số 47):Huỳnh Hoàng P, sinh năm 1985; CCCD số ************; trú
tại: Số A H, phường Đ, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyễn Kiều D bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Thị Trúc L lời khai của người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 17-3-2025, vợ chồng ông T và
D có vay của bà L 02 lần, lần thứ nhất vay số tiền 1.300.000.000 đồng, lần thứ hai vay số
tiền 900.000.000 đồng, tổng cộng 2.200.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 ngày. Khi vay
tiền, ông T làm 02 Biên nhận mượn tiền ngày 17-3-2025 và ký tên phía dưới. Ngoài ra,
ông T đưa 02 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L giữ để tạo lòng
tin. Đến hạn trả nợ, ông T bà D đã trả được 300.000.000 đồng, còn nợ lại 1.900.000.000
đồng chưa trả theo đúng thỏa thuận kéo dài cho đến nay.
L khởi kiện yêu cầu ông T D liên đới trả số tiền nợ gốc 1.900.000.000
đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Ý kiến của bị đơn ông Hà Minh T trình bày: Ông T thừa nhận vào ngày 17-3-2025
có vay của L số tiền 2.200.000.000 đồng, thoả thuận 02 ngày trả. Đến hạn trả nợ nhưng
ông T gặp khó khăn kinh tế nên chỉ trả được cho L stiền 300.000.000 đồng, còn nợ
lại 1.900.000.000 đồng kéo dài cho đến nay.
Việc vay tiền chỉ có ông T vay và ký nhận nợ với bà L. Qua yêu cầu khởi kiện của
bà L thì ông T đồng ý trả nợ gốc 1.900.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông T trình bày vay tiền của bà L để đáo nợ ngân hàng, trả các khoản
nợ trước đây nuôi cá và mua đất để dành cho con sau này.
- Ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Kiều D trình bày: Việc vay tiền giữa bà L với ông T
thì bà D không biết, bà D không có vay tiền của bà L, bà D và ông T đã thuận tình ly hôn.
đây là khoản nợ riêng của ông T nên D không đồng ý theo cầu khởi kiện của L,
không đồng ý liên đới cùng ông T trả nợ vay.
Tại Bản án dân sự thẩm số 68/2025/DS-ST, ngày 20-9-2025 của a án nhân dân
Khu vực 2 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 466 và 468 của Bộ
luật Dân sự; Điều 27 37 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tô Thị Trúc L đối với ông Hà Minh
T và bà Nguyễn Kiều D.
Buộc ông Minh T Nguyễn Kiều D liên đới trả cho Thị Trúc L số
tiền 1.900.000.000 đồng (một tỷ, chín trăm triệu đồng).
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.
Ngày 05-10-2026, người đại diện theo uỷ quyền của Nguyễn Kiều D nộp đơn
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không buộc bà
Nguyễn Kiều D cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với ông Hà Minh T trả tiền cho bà
Thị Trúc L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Huỳnh Hoàng P đại diện theo uỷ quyền của
Nguyễn Kiều D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người đại diện theo uỷ quyền của L
không đồng ý kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của pháp
luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng
nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của đương
sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị đơn là bà Nguyễn Kiều D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 20-9-2025 Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh xét x
thẩm vụ kiện, ngày 04-10-2025 bị đơn là bà Nguyễn Kiều D nộp đơn kháng cáo bản án sơ
thẩm, kháng cáo trong hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Kiều D thấy rằng:
[2.1] Ông Hà Minh T vay của Thị Trúc L số tiền 2.200.000.000 đồng và ông
T có làm 02 Biên nhận mượn tiền ghi ngày 17-3-2025 (01 giấy vay 900.000.000 đồng và
01 giấy vay 1.300.000.000 đồng) thời hạn vay 02 ngày từ 17-3-2025 đến 18-3-2025;
4
mục đích vay đáo hạn ngân hàng; khi vay tiền ông T đưa 02 bản chính Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do ông T, D1 tên cho bà L giữ để tạo lòng tin. Sau khi vay, ông
T đã trả cho bà L được 300.000.000 đồng hiện còn nợ 1.900.000.000 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L; buộc ông T, D liên đới
trả cho bà L số tiền còn nợ là 1.900.000.000 đồng.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ:
Xét thấy, ông T vay tiền của L dùng vào việc đáo hạn ngân hàng, trả khoản nợ từ
việc nuôi đầu đất đai làm tài sản sau này cho gia đình, các con. Như vậy, ông T
không sử dụng tiền vay của L cho mục đích nhân trả nợ chung đầu kinh
doanh nhằm phát triển kinh tế gia đình.
Ông T vay tiền của bà L trong thời kỳ hôn nhân vì đến ngày 24-6-2025 thì bà D và
ông T mới được Toà án công nhận thuận tình ly hôn và tại phiên toà sơ thẩm ông T, bà D
xác định không còn sống chung từ tháng 8-2025. Do vậy, nghĩa vụ tài sản phát sinh trong
thời kỳ hôn nhân mặc dù chỉ mình ông T thực hiện nhưng số tiền vay nhằm đích phục vụ
nhu cầu gia đình nên Toà án cấp sơ thẩm buộc ông T và bà D liên đới trả cho bà L số tin
còn nợ là 1.900.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bà Nguyễn Kiều D kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không căn cứ chấp nhận; đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Kiều D phải chịu án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo
không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kiều D.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 68/2026/DS-ST, ngày 20-9-2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 466 và 468 của Bộ
luật Dân sự; Điều 27 37 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tô Thị Trúc L đối với ông Hà Minh
T và bà Nguyễn Kiều D.
5
Buộc ông Minh T Nguyễn Kiều D liên đới trả cho Thị Trúc L số
tiền 1.900.000.000 đồng (một tỷ, chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật
Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Minh T Nguyễn Kiều D nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự
thẩm là 69.000.000 đồng (sáu mươi chín triệu đồng).
Tô Thị Trúc L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Thị Trúc L tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lphí Tòa án số 0003944 ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh (trước đây là Chi cục Thi hành án án dân sự huyện T, tỉnh Long An).
Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Kiều D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn)
đồng tiền án phí phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai s
0006110 ngày 07 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND Khu vực 2 -TN;
- THADS tỉnh TN;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1099/2026/DS-PT Bản án số 1099/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1099/2026/DS-PT Bản án số 1099/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất