Bản án số 128/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 128/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 128/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 128/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 90/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 128/2026/DS-PT Bản án số 128/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 128/2026/DS-PT Bản án số 128/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 128/2026/DS - PT
Ngày 25/8/2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang.
Các thẩm phán: Lý Thị Thuý và bà Vũ Thị An
- Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Lao Thị Hồng Hoài - Thư
Toà án nhân dân tỉnh Thái nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nông Văn Đổi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 90/2026/TLPT-DS ngày
15 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án n
sự thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 9 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2026/QĐ-PT ngày 04 tháng 8
năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đỗ Đức L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh
Thái Nguyên (nay là thôn N, xã B, tỉnh Thái Nguyên).
(Có mặt)
* Bị đơn: Anh Nông Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn C, B, tỉnh
Thái Nguyên (nay là thôn N, xã B, tỉnh Thái Nguyên).
(Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đỗ Thị L1, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Thái Nguyên (nay thôn N, B, tỉnh Thái Nguyên).
(Có mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn S, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Thôn K, B, tỉnh Thái
Nguyên.
- Ông Trương Văn T1, sinh năm 1965
- Anh Đỗ Đức Đ, sinh năm 2004
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Dương Thị N, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, tỉnh Bắc Ninh.
(Đều vắng mặt)
* Người kháng cáo: Bị đơn anh Nông Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ
Đức L trình bày:
Năm 2014 do nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng không đủ
tiền nên ngày 04/9/2014 anh Nông Văn T đến nhà ông hỏi vay số tiền
50.000.000
đ
(Năm mươi triệu đồng). Sau khi đi xuất khẩu được hơn nửa năm, do
khó khăn trong công việc nên anh T về Việt Nam để tìm đơn hàng khác tiếp
tục xuất khẩu lao động đi Đài Loan, nhưng không đủ tiền nên anh T lại vay thêm
ông là 50.000.000
đ
(Năm mươi triệu đồng). Do ông không biết chữ nên cả hai lần
vay tiền của ông thì anh T đều tự viết giấy vay tiền. Từ đó đến nay anh T chỉ trả
cho ông được 20.000.000
đ
(Hai mươi triệu đồng) tiền gốc, chưa trả lãi (số tiền này
do vợ cũ anh T là chị Dương Thị N trả thay cho anh T khi anh T đi xuất khẩu lao
động không nhà, khi đó chị N anh T chưa ly hôn). Nhiều lần ông đòi
nhưng anh T không trả nên ông làm đơn khởi kiện yêu cầu anh T phải trả cho ông
số tiền gốc 80.000.000
đ
(T2 mươi triệu đồng) số tiền lãi 50.000.000
đ
(Năm
mươi triệu đồng), thời điểm tính lãi từ ngày 01/01/2017.
* Bị đơn anh Nông Văn T trình bày: Cuối năm 2014 do muốn đi xuất khẩu
lao động tại Đài Loan nhưng không đủ tiền nên anh vay của ông Đỗ Đức Lbác
ruột hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 27/10/2014 anh vay ông L số tiền là
34.000.000
đ
(Ba mươi triệu đồng), lãi suất 1.0 thời hạn trả nợ gốc lãi hết
tháng 12 năm 2014 âm lịch. Lần thứ hai là vào ngày 07/4/2015 anh T vay ông số
tiền là 35.000.000
đ
(Ba mươi lăm triệu đồng) cùng với giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất canh tác và đấtờn hiện nay đang sinh sống. Cả hai lần vay tiền thì do
ông L không biết chữ nên anh đều tự nguyện viết giấy vay tiền cho ông L và đưa
giấy vay tiền cho ông L giữ. Theo giấy vay tiền thì cả hai lần vay tiền của ông L
đều yêu cầu anh viết giấy vay tiền với số tiền 50.000.000
đ
(Năm mươi triệu
đồng) nhưng thực tế tổng cộng cả hai lần vay tiền của ông L, anh chỉ được vay
của ông L tổng số tiền 69.000.000
đ
(Sáu mươi chín triệu đồng). Tại giấy vay
tiền lần thứ nhất thì tự thoả thuận mức lãi suất là 1.0, thời hạn trả nợ gốc và lãi là
hết tháng 12/2014. Giấy vay tiền lần thứ 2 nội dung lần vay tiền thứ nhất
50.000.000
đ
(Năm mươi triệu đồng), lần vay tiền thứ hai 50.000.000
đ
(Năm
mươi triệu đồng), tổng cộng cả hai lần anh vay ông L là 100.000.000
đ
(Một trăm
triệu đồng), lãi suất do hai bên thoả thuận. Anh xác định đã trả hết số tiền là
69.000.000
đ
(Sáu ơi chín triệu đồng) cho ông L nên nay ông L khởi kiện đòi
anh phải trả số tiền gốc 80.000.000
đ
(Tám mươi triệu đồng) tiền lãi không
có căn cứ, anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị L1 trình bày: L1 là
em gái ruột của ông L mẹ đẻ của anh T. có biết việc anh T vay tiền của
ông L do anh T nói với bà, hai vchồng anh T tự đi vay tiền ông L, bà không biết
và không chứng kiến việc anh T vay tiền. Sau khi anh T đi xuất khẩu lao động tại
Đài Loan có gửi tiền về bà và chị N là vợ cũ của anh T đi trả cho ông L 4 lần trả
được 40.000.000
đ
(Bốn mươi triệu đồng) gồm: Lần 1 trả 9.000.000
đ
(Chín triệu
đồng), lần 2 trả 10.000.000
đ
(Mười triệu đồng), lần 3 trả 10.000.000
đ
(Mười triệu
đồng), lần 4 trả 11.000.000
đ
(Mười một triệu đồng). Còn 29.000.000
đ
(Hai mươi
chín triệu đồng) bà trả cho ông L bằng mảnh rẫy Pác Qua mảnh rẫy có nguồn
gốc do bà khai phá từ năm 2000, có diện tích 1.681m
2
, chưa có giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất. Sau khi trả hết nợ cho ông L thì có viết “Đơn xin giao trả
đất”, ông L nhất trí nhưng không biết chữ nên nhờ cháu ruột là Đ ký thay, sau đó
mang tờ đơn đó đi cho trưởng thôn là ông Trương Văn Thư K xác nhận. Nay
ông L lại tiếp tục đòi số tiền trên là do hai gia đình mâu thuẫn tranh chấp đất
đai, chứ thực tế anh T đã trả toàn bộ s tiền vay của ông L. Mảnh rẫy Pác Qua này
sau khi bà dùng để trả nợ cho ông L tông L đã bán cho anh Hoàng văn S trú tại
thôn K, xã B, tnh Thái Nguyên.
* Những người làm chứng trình bày:
Anh Đỗ Đức Đ trình bày: Anh Đ là cháu ruột của ông L và L1, không có
mâu thuẫn với ông L và L1. Anh khẳng định “Giấy trao trả đất” do L1
cung cấp cho Toà án được viết vào năm 2018 lúc đó anh mới 14 tuổi, nay thời
gian đã lâu nên anh không nhớ có được ký thay ông L vào tờ giấy củaL1 hay
không.
Ông Trương Văn T1 trình bày: Ông làm trưởng thôn từ năm 2007 đến năm
2020 thì nghỉ. Ông không mâu thuẫn với gia đình ông L L1. Năm 2018
L1 có cầm Đơn xin giao trả đất đến nhà ông để xin chữ ký xác nhận vào đơn,
tuy nhiên do không chữ của ông L trong đơn nên ông không ký xác nhận,
do vậy, L1 cầm đơn về. Sau đó lâm lại cầm đơn này đến nhưng ông thấy chỉ
có chữ ký ca bà L1 nên ông bảo bà L1 về thoả thuận với ông L, nếu ông L đồng
ý ký tên thì ông sẽ ký xác nhận cho. Bà L1 lại cầm đơn này về, một lúc sau quay
lại thấy có chữ ký tên ông L nên ông nghĩ cả hai người đã thoả thuận được vấn đề
trả nợ nên ông mới xác nhận việc thoả thuận của hai bên. Thực tế nội dung
trong đơn như thế nào ông cũng không rõ, chỉ nghe L1 trình bày lại. Ông cũng
không được chứng kiến việc thoả thuận của hai bên cũng không chứng kiến
việc ông L trực tiếp ký vào đơn.
Ông Hoàng Văn S trình bày: Năm 2018 ông Đỗ Đức L bán cho anh 01
mảnh rẫy có tên gọi Pác Qua có diện tích khoảng 1.700m
2
, có tứ cận như sau một
cạnh giáp đất ông Vừ Văn Q mua với ông L hiện nay ông Q đã chết, con trai ông
Q là Vừ Văn V đang canh tác, một cạnh giáp đất ông Dương Văn C, hai cạnh còn
lại giáp suối. Trước đó thì ông thấyL1 canh tác, khi ông L n đất cho thì ông
cũng hỏi bà L1 đã bàn giao đất chưa, sau khi bà L1 từ miền nam vđịa phương
sinh sống thì thấy bà L1 canh tác trên mảnh đất này, chứ ông biết nguồn gốc đất
đó của ông L, khi mua đất t ông xem trên bản đ thấy tên ông L nên ông mua.
Hiện nay ông chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng với ông L, nhưng
ông L khẳng định đất đó có giấy tờ hợp pháp.
Chị Dương Thị N trình bày: Chị N vợ cũ của anh Nông Văn T, chị và anh
T ly hôn năm 2019. Trong quá trình chung sống với anh T, chị không biết việc
anh T vay tiền ông L, cũng không được cùng anh T đến vay tiền ông L đồng thời
không được ký bất kỳ giấy vay tiền nào với ông L. Chị cũng không biết đơn xin
giao trả đất của L1 viết ngày 06/02/2018, không nắm được nguồn gốc đám rẫy
Pác Qua, địa chỉ cụ thể, diện tích số thửa như nào, trong thời gian chung sống với
anh T chị cũng được canh tác đám rẫy đó. Năm 2019 chị anh T ly hôn
cũng không thoả thuận gì về việc trả tiền cho ông L. Việc anh T vay tiền của ông
L chị không biết và không có trách nhiệm gì về việc trả nợ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 229; Điều 271; Điều 273 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 468
của Bộ luật dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Đức L. Buộc
anh Nông n T phải có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Đức L tổng số tiền
130.000.000
đ
(Một trăm ba mươi triệu đồng). Trong đó số tiền gốc vay là
80.000.000
đ
(T2 mươi triệu đồng) tiền lãi 50.000.000
đ
(Năm mươi triệu
đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quy định về quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24/6/2026, bị đơn anh Nông Văn T kháng cáo không đồng ý với bản
án sơ thẩm giải quyết buộc anh T phải có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Đức L tổng số
tiền 130.000.000 đồng. Trong đó số tiền gốc 80.000.000 đồng, số tiền lãi là
50.000.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị đơn anh Nông Văn T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa nội dung bản án
sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Đức L về việc ông Đỗ Đức L
yêu cầu anh phải trả tổng số tiền 130.000.000 đồng. Trong đó số tiền gốc
80.000.000 đồng, số tiền lãi là 50.000.000 đồng.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không nhất trí với kháng cáo
của bị đơn anh Nông Văn T.
Đỗ Thị L1 giữ nguyên lời khai tại cấp sơ thẩm, đề nghị chấp nhận
kháng cáo của anh Nông Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến có quan
điểm như sau:
- V s tuân theo pháp luật: Những người tiến hành tố tụng, những người
tham gia tố tụng từ khi th lý v án cho đến trước khi ngh án đã thc hiện đúng
các quy định ca B luật tố tụng dân s;
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng
dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nông Văn T, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 9 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ ván được thẩm tra
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa quan điểm của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà, HĐXX nhận
định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của bị đơn anh Nông Văn T đảm bảo vhình thức làm
trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về sự mặt, vắng mặt của đương sự, người làm chứng: Tại phiên toà
phúc thẩm, vắng mặt những người làm chứng tuy nhiên những người này đã
lời khai trong quá trình giải quyết v án, Hội đồng xét xcăn cứ Điều 296 của Bộ
luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt những người trên.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn anh Nông Văn T, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
[3] Về xác định s tiền vay.
Anh Nông Văn T thừa nhận vay tiền của ông Đỗ Đức L hai lần vào các
năm 2014 và 2015 để đi xuất khẩu lao động; thừa nhận Giấy vay tiềnngày
27/10/2014 và Giấy cam kết vay tiền” ngày 07/4/2015 đều do chính anh viết và
ký. Tuy nhiên, anh T cho rằng thực tế lần thứ nhất chỉ nhận 34.000.000 đồng, lần
thứ hai nhận 35.000.000 đồng, tổng cộng 69.000.000 đồng; Số tiền vay ghi trong
Giấy vay tiềnngày 27/10/2014 Giấy cam kết vay tiềnngày 07/4/2015 được
viết theo yêu cầu của ông L.
Nguyên đơn ông Đỗ Đức L cho rằng, anh Nông Văn T vay tiền của ông
0 lần vào năm 2014 năm 2015, mỗi lần cho vay 50.000.000 đồng, tổng cộng
100.000.000 đồng. Việc vay tiền đều do anh Nông Văn T viết giấy vay.
Với các tài liệu, chứng cứ cho thấy: Giấy vay tiền” ngày 27/10/2014 do anh
T viết thể hiện số tiền vay 50.000.000 đồng; Giấy cam kết vay tiềnngày
07/4/2015 tiếp tục xác nhận khoản vay lần thứ nhất ngày 27/10/2014
50.000.000 đồng, khoản vay lần thứ hai ngày 07/4/2015 là 50.000.000 đồng, tổng
cộng 100.000.000 đồng. Như vậy, không chỉ giấy vay được lập tại từng thời
điểm tại giấy vay tiền lập sau (Lập ngày 07/4/2015), anh T còn xác nhận lại
tổng số tiền của cả hai lần vay ông L là 100.000.000 đồng.
Anh T thừa nhận các giấy vay u trên đều do mình tự viết và ký. Theo khoản
2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây những tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh.
Tòa án cấp thẩm xác định anh Nông Văn T đã vay của ông Đỗ Đức L
100.000.000 đồng theo Giấy vay tiềnngày 27/10/2014 Giấy cam kết vay
tiềnngày 07/4/2015 là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo cho rằng chỉ vay 69.000.000
đồng tuy nhiên không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không
căn cứ chấp nhận.
[4] Về số tiền b đơn cho rằng đã thanh toán
Anh T cho rằng đã thanh toán hết khoản tiền thực tế đã vay 69.000.000 đồng.
Trong đó bà Đỗ Thị L1 (là mẹ đẻ) và chị Dương Thị N (là vợ khi chưa ly hôn) đã
trả cho ông L 04 lần bằng tiền mặt với tổng số tiền 40.000.000 đồng. Số tiền còn
lại 29.000.000 đồng được L1 thanh toán bằng việc giao mảnh rẫy Pác Qua
cho ông L để trừ nợ (có đơn xin giao trả đt).
Đối với stiền thanh toán bằng tiền mặt, nguyên đơn ông L chỉ thừa nhận
phía anh T đã trả 20.000.000 đồng là do chị N (Vợ anh T khi chưa ly hôn) trả khi
anh T Đài Loan. Đây sự thừa nhận của nguyên đơn nên theo khoản 2 Điều 92
Bộ luật Tố tụng dân sự, không phải chứng minh căn cứ xác định anh T đã
thanh toán được 20.000.000 đồng.
Đỗ Thị L1 cho rằng đã thanh toán toàn bộ số tiền anh T đã vay của ông
L do chị N vợ của anh T đã trả cho ông L 4 lần với tổng số tiền
40.000.000
đ
(Bn mươi triệu đồng) từ số tiền anh T gửi từ Đài Loan về gồm: Lần
1 trả 9.000.000
đ
(Chín triệu đồng), lần 2 trả 10.000.000
đ
(Mười triệu đồng), lần 3
trả 10.000.000
đ
(Mười triệu đồng), lần 4 trả 11.000.000
đ
(Mười một triệu đồng).
Còn 29.000.000
đ
(Hai mươi chín triệu đồng) bà trả cho ông L bằng mảnh rẫy Pác
Qua để trừ nợ. Ông L không thừa nhận nội dung trên, không thừa nhận tài liệu
“Đơn xin giao trả đất” của bà L1 để trừ nợ cho anh T. HĐXX xét thấy, về số tiền
mặt được cả anh T L1 (mẹ đẻ anh T) khẳng định đã trả cho ông L 04 lần,
nhưng không xuất trình được bất cứ tài liệu nào về việc đã giao (trả) tiền cho ông
L hoặc chứng cứ khác chứng minh. Chị Dương Thị N (Vợ cũ anh T) cũng không
xác nhận việc đã trả cho ông L số tiền như phía bị đơn trình bày. Do đó, không
căn cứ để xác định L1 chị Dương Thị N (Vợ anh T) đã trả số tiền
40.000.000 đồng cho ông L.
Đối với việc thanh toán 29.000.000 đồng bằng mảnh rẫy Pác Qua, anh T và
L1 căn cứ vào “Đơn xin giao trả đất” để cho rằng ông L đã đồng ý nhận đất
thay cho số tiền còn nợ. Tuy nhiên, lời khai của những người làm chứng cũng
không chứng minh được có sự thỏa thuận này. Anh Đỗ Đức Đ xác định “Đơn xin
giao trả đất” được lập năm 2018, thời điểm đó anh mới 14 tuổi không nhớ
thay ông L hay không (Bút lục 31). Ông Trương Văn T1 xác nhận vào
đơn nhưng không trực tiếp chứng kiến ông L ký, không chứng kiến việc thỏa
thuận giữa ông L với bà L1, ông T1 chỉ thấy sau khi L1 mang đơn quay lại thì
trên đơn đã chữ mang tên ông L nên cho rằng các bên đã thỏa thuận được
với nhau (Bút lục 32); Ông Hoàng Văn S chỉ xác nhận năm 2018 có nhận chuyển
nhượng mảnh rẫy Pác Qua từ ông L; không biết việc vay tiền hoặc việc các bên
thỏa thuận dùng đất để trừ nợ (Bút lục 65); chính L1 cũng khai việc làm đơn
xin trao trả đất và đến nhà ông L không có ai chứng kiến (Bút lục 33). Mặt khác,
tài liệu do Tòa án cấp thẩm thu thập thể hiện diện tích đất tại P Qua đã được
quan nhà nước thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông L từ năm 1999. Như vậy, không đcăn cứ chứng minh ông L đã đồng ý nhận
quyền sử dụng đất tại Pác Qua như lời khai của L1 để khấu trừ số tiền anh T
còn nợ ông L.
Từ những căn cứ nêu trên, căn cứ xác định trong tổng số tiền vay
100.000.000 đồng, anh T mới thanh toán được 20.000.000 đồng, số tiền nợ gốc
còn lại là 80.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm quyết định buộc anh T trả s tiền nợ gốc
80.000.000 đồng là có căn cứ.
[5] Về nghĩa vụ liên đới: Các giấy vay tiền ngày 27/10/2014 và ngày
07/4/2015 đều do cá nhân anh Nông Văn T trực tiếp lập, ký xác nhận với ông Đỗ
Đức L; không có chữ ký của chị Dương Thị N là vợ anh T tại thời điểm vay. Quá
trình giải quyết ván và tại phiên tòa sơ thẩm, chính anh T xác định việc vay tiền
của ông L là do cá nhân anh vay để đi xuất khẩu lao động, không phải khoản vay
chung của vợ chồng; khi anh T chị N ly hôn năm 2019 cũng không xác định,
giải quyết khoản vay này nghĩa vụ chung của vợ chồng. Lời khai của chị Dương
Thị N cũng phù hợp với nội dung trên. Như vậy, lời khai của anh T chị N thống
nhất về việc vay tiền được xác lập giữa nhân anh T với ông L. Ông L, anh T
cũng không yêu cầu chị N phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, cấp sơ
thẩm xác định anh Nông Văn T người nghĩa vụ thanh toán khoản tiền vay
còn ncho ông Đỗ Đức L, không xác định đây nghĩa vụ chung của anh T
chị Dương Thị N là có căn cứ, đúng quy định.
[6] Về nghĩa vụ trả lãi:
“Giấy vay tiền” ngày 27/10/2014 thể hiện các bên thỏa thuận về lãi nhưng
chỉ ghi “lãi suất 1.0”, thời hạn trả nợ hết tháng 12/2024 âm lịch, không xác định
cách tính; “Giấy cam kết vay tiền” ngày 07/4/2015 ghi “lãi suất do hai bên thỏa
thuận” nhưng không xác định mức lãi suất cụ thể, không xác định thời hạn trả nợ.
HĐXX thấy, “Giấy vay tiền” ngày 27/10/2014 có ghi thời hạn trả nợ đến hết
tháng 12 năm 2014 âm lịch. Tuy nhiên, sau thời điểm này các bên không thực
hiện việc tất toán khoản vay. Đến ngày 07/4/2015, anh Nông Văn T viết “Giấy
cam kết vay tiền”, trong đó xác nhận lại khoản vay lần thứ nhất ngày 27/10/2014
50.000.000 đồng đồng thời vay lần thứ hai 50.000.000 đồng, tổng số tiền
vay là 100.000.000 đồng, “lãi suất do hai bên thỏa thuận” nhưng không xác định
thời hạn phải thanh toán. Như vậy, nội dung trong “Giấy cam kết vay tiền” ngày
07/4/2015 được lập sau khi thời hạn trả nợ ghi trong giấy vay ln thứ nhất ngày
27/10/2014 đã hết, đồng thời xác nhận lại toàn bộ số tiền của cả hai lần vay thành
một nghĩa vụ 100.000.000 đồng mà không ấn định thời điểm trả nợ, có căn cứ xác
định các bên đã xác lập lại nghĩa vụ trả nợ đối với toàn bộ số tiền vay mà không
xác định khạn. vậy, HĐXX thấy sxác định các khoản vay trên là
khoản vay không có kỳ hạn và thỏa thuận về trả lãi nhưng mức lãi suất các bên
không thỏa thuận rõ.
Hai khoản vay được xác lập trước ngày 01/01/2017, nguyên đơn ông ĐVăn
L2 không yêu cầu tính lãi đối với thời gian anh Nông Văn T vay trước ngày
01/01/2017, mà chỉ yêu cầu tính lãi trên số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng từ ngày
01/01/2017 đến ngày xét xthẩm 12/6/2026, với số tiền lãi cụ thể anh T
phải trả cho ông L2 là 50.000.000 đồng.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Ngh quyết số 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đối với
hợp đồng đang được thực hiện lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật
Dân sự năm 2015 thì đối với khoảng thời gian từ ngày 01/01/2017 áp dụng Bộ
luật Dân sự năm 2015 các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng
dẫn áp dụng Bộ luật này.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP,
đối với hợp đồng vay có lãi mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không
xác định lãi suất tranh chấp thì lãi suất đối với nợ gốc trong hạn được xác
định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
quy định mức lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền
vay; do đó mức 50% của giới hạn này là 10%/năm.
Do hợp đồng vay không kỳ hạn nên lãi trên nợ gốc trong hạn được tính
từ ngày 01/01/2017 (theo yêu cầu của nguyên đơn) đến ngày hết “thời gian hợp
lý” theo quy định tại khoản 3 Điều 6 nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Hội đồng
xác định ngày 19/3/2026 ngày bị đơn nhận được thông báo thụ vụ án, cũng
là ngày bị đơn biết được ông L2 khởi kiện để đòi khoản tiền ông L2 đã cho anh T
vay (03 tháng). Như vậy: số tiền lãi trên nợ gốc trong hạn = Số tiền nợ gốc
80.000.000 đồng X lãi suất 10% X thời gian (Từ 01/01/2017 đến 19/3/2026 = 9
năm 2 tháng 18 ngày) = 73.733.333 đồng
Ngoài ra theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số
01/2019/NQ-TP thì bị đơn anh T còn phải trả số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn
chưa trả cho ông L2 với mức bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận
trong hợp đồng số tiền lãi trên nợ lãi trong hạn với mức lãi suất theo khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả (Từ ngày
19/3/2026 đến ngày xét xử sơ thẩm 12/6/2026 ). Cụ thể:
- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn = Số tiền ngốc 80.000.000 đồng X lãi suất
150% lãi suất thỏa thuận trong hạn (150% x 10 = 15%) X thời gian (T20/3/2026
- 12/6/2026 = 2 tháng 23 ngày) = 2.766.667 đồng.
- Số tiền lãi trên nợ lãi trong hạn = Số tiền nợ lãi trong hạn 73.727.854 đồng
x lãi suất 10% (Theo khoản 2 Điều 468) x thời gian (Từ 20/3/2026 - 12/6/2026 =
2 tháng 23 ngày) = 1.699.837 đồng.
Tổng số tiền lãi bị đơn là anh Nông Văn T phải trả cho ông Đỗ Đức L theo
quy định của pháp luật là: 73.733.333 đồng + 2.766.667 đồng + 1.699.837 đồng
= 78.199.837 đồng.
Tuy nhiên, nguyên đơn ông Đỗ Văn L2 chỉ yêu cầu bị đơn anh Nông Văn T
phải trả số tiền lãi 50.000.000
đ
(Năm mươi triệu đồng) là thấp hơn số tiền lãi theo
quy định của pháp luật và có lợi cho phía bị đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận khoản tiền lãi 50.000.000 đồng là phù hợp với phạm vi khởi kiện và có căn
cứ.
[7] Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy, Tòa án cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ, đúng quy định
của pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho kháng cáo của mình căn cứ hợp pháp. vậy, căn cứ
khoản 1 Điều 308 của Bộ tố tụng dân sự, HĐXX không chấp nhận khángo của
anh Nông Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên căn cứ,
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Nông Văn T
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 293, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn anh ng Văn T. Giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 03/2026/DS - ST ngày 12 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn anh Nông Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002841 ngày 29/6/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 và Điều 36 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 9 - Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 9 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hoàng Văn Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 128/2026/DS-PT Bản án số 128/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 128/2026/DS-PT Bản án số 128/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất