Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 574/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 574/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 574/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện của ông T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 574/2026/DS-PT
Ngày 25 8 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ
Thanh Thuỳ Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 293/2026/TLPT-DS ngày 12 tháng 6
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 459/2026/QĐ-PT ngày 01
tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lữ Hoàng T, sinh năm 1963;
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 02/10/2021.
Địa chỉ cư trú: Ấp D, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông LHoàng T: Anh Liên Hoàng
K, sinh năm 1997; Địa chỉ cư trú: Khóm H, phường H, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Lê Hùng C, sinh năm 1977 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 07/05/2021.
2. Bà Huỳnh Mỹ P, sinh năm 1979 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 07/05/2021.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đoàn Minh Đ, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 14/08/2021
2
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Đoàn Minh Đ:
1. Anh Tôn Quách T1, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
2. Chị Trần Cẩm T2, sinh năm 1996 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Số A L, khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Hùng C và bà Huỳnh Mỹ P, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo anh Liên Hoàng K (là người đại diện của ông Lữ Hoàng T) trình bày:
Ngày 31/12/2024, ông T cho vợ chồng ông C, bà P vay số tiền 3.300.000.000
đồng, thời hạn vay đến 15/12/2025, lãi suất 20%/năm. Tuy nhiên, khi đến hạn vợ
chồng ông C không trả tiền cho ông T. Nay ông T yêu cầu vợ chồng ông C trả số
tiền vốn 3.300.000.000 đồng, lãi tạm tính từ ngày 31/12/2024 đến ngày 31/12/2025
là: 3.300.000.000 đồng x 20% x 12 tháng = 657.360.000 đồng; tổng cộng vốn, lãi
3.957.360.000 đồng.
Ngày 15/4/2026, ông Liên Hoàng K có đơn thay đổi đối với u cầu khởi kiện
của ông T: Yêu cầu ông C và bà P trả số tiền vốn1.200.000.000 đồng và tiền lãi
theo mức lãi suất 20%/năm tính từ tháng 12/2022 đến ngày xét xthẩm 03 năm
03 tháng bằng 780.000.000 đồng; tổng cng vốn, lãi là 1.980.000.000 đồng.
- Theo ông Lê Hùng C trình bày:
Ngày 19/12/2022, ông vay của ông T số tiền 700.000.000 đồng (số tiền này
được ông T chuyển khoản 02 lần), lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Sau đó, ông
vay thêm số tiền 500.000.000 đồng (số tiền này nhận bằng tiền mặt), lãi suất
5.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Tổng số tiền ông vay của ông T 1.200.000.000 đồng.
Từ thời điểm vay đến nay ông đóng lãi cho ông T được 170.000.000 đồng. Sau thời
gian ông không còn khả năng đóng lãi nên ông T tính tiền lãi nhập vốn và đưa hợp
đồng buộc ông ký có vay của ông T số tiền vốn 3.300.000.000 đồng. Nay ông
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Theo bà Huỳnh Mỹ P trình bày:
Ông C vay tiền của ông T thì không hay biết, không tên ông C
vay tiền sdụng vào mục đích riêng. Tuy nhiên, cùng ông C đóng tiền lãi
cho ông T được 170.000.000 đồng. Nay bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
ông T.
- Đối với ông Đoàn Minh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng, nhưng không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại bản án dân sự thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lữ Hoàng Triệu .
Buộc ông Lê Hùng C và bà Huỳnh Mỹ P phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Lữ
Hoàng T số tiền 1.950.000.000 đồng.
3
Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lữ Hoàng T về việc buộc ông
Hùng C và Huỳnh Mỹ P phải nghĩa vụ trả tiền lãi với số tiền 30.000.000
đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 21/5/2026, ông Lê Hùng C và bà Huỳnh Mỹ P có đơn kháng cáo:
Ông C kháng cáo cho rằng ông đã thanh toán cho ông T số tiền 170.000.000
đồng (trong đó trả vốn 140.000.000 đồng, trả lãi 30.000.000 đồng); yêu cầu sửa
bản án thẩm, buộc ông C nghĩa vụ trả cho ông T 1.719.000.000 đồng (trong
đó vốn là 1.060.000 đồng, lãi là 659.000 đồng);
Bà P kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không buộc P có trách nhiệm
liên đới với ông C trả nợ cho ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Hùng C giữ nguyên kháng cáo; bà Huỳnh
Mỹ P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông C phát biểu: Ông đã thanh toán cho ông T số tiền 170.000.000 đồng
(trong đó trả vốn 140.000.000 đồng, trả lãi 30.000.000 đồng); số tiền vay của
ông T là nợ riêng của ông, không liên quan đến bà P.
Anh K không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Mỹ P; chấp nhận
một phần kháng cáo của ông Lê Hùng C, sửa bản án thẩm: Buộc ông C bà P
trả cho ông T số tiền vốn 1.200.000.000 đồng tiền lãi thời gian 39 tháng theo mức
lãi suất pháp luật quy định, đối trừ lại số tiền lãi mà ông C và bà P đã thanh toán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Hùng C, Huỳnh Mỹ P, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Đối với kháng cáo của ông Lê Hùng C:
[1.1] Việc ông C vay tiền của ông T là thực tế xảy ra, được ông C thừa
nhận. Tại đơn khởi kiện của ông T ngày 20/01/2026 trình bày vào ngày 31/12/2024
cho ông C vay số tiền 3.300.000.000 đồng, ông T cung cấp kèm theo đơn khởi
kiện hợp đồng vay tiền giữa ông T với ông C năm 2023 (không ghi ngày, tháng) có
nội dung thể hiện ông T cho ông C vay số tiền 3.300.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại
đơn yêu cầu ngày 15/4/2026 của anh Liên Hoàng K người đại diện của ông T xác
định số tiền ông T cho vay là 1.200.000.000 đồng vào tháng 12/2022. Tại văn bản ý
kiến của ông C ngày 23/02/2026 trình bày: Vào ngày 19/12/2022, ông C vay của
ông T số tiền 700.000.000 đồng; sau đó (không nhớ ngày) ông C vay thêm của ông
T số tiền 500.000.000 đồng; tổng số tiền ông C vay của ông T là 1.200.000.000 đồng.
Tại phiên toà, các bên thống nhất xác định số tiền ông C vay của ông T là
4
1.200.000.000 đồng vào ngày 19/12/2022, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo thống
nhất xác định ca các đương sự.
[1.2] Phía ông T cho rằng quá trình vay phía ông C không thanh toán vốn, lãi
cho ông T; phía ông C xác định đã thanh toán số tiền 170.000.000 đồng, trong đó
thanh toán vốn là 140.000.000 đồng, thanh toán lãi 30.000.000 đng.
Tại cấp phúc thẩm, ông C cung cấp các tài liệu chứng cứ như chứng từ giao
dịch tại ngân hàng, chuyển khoản để chứng minh đã thanh toán cho ông T số tiền
170.000.000 đồng. Qua kiểm tra các tài liệu do ông C cung cấp thể hiện: Ngày
19/4/2023, bà P chuyển thanh toán cho ông T số tiền 50.000.000 đồng; ngày
24/5/2023, P chuyển thanh toán cho ông T số tiền 50.000.000 đồng; ngày
12/8/2023, P chuyển thanh toán cho ông T 10.000.000 đồng; ngày 08/02/2024,
ông C chuyển thanh toán cho ông T stiền 30.000.000 đồng; ngày 16/02/2026,
P chuyển thanh toán cho ông T số tiền 30.000.000 đồng. Tổng số tiền ông P
ông C chuyển thanh toán cho ông T là 170.000.000 đồng. Tại phiên toà, anh K cũng
thống nhất số tiền ông C và bà P đã thanh toán cho ông T là 170.000.000 đồng. Như
vậy, trình bày của ông C xác định đã thanh toán cho ông T số tiền 170.000.000 đồng
là có căn cứ chấp nhận.
Đối với trình bày của ông C cho rằng trong số tiền đã thanh toán cho ông T
170.000.000 đồng, có 140.000.000 đồng là thanh toán vốn, còn lại 30.000.000 đồng
là thanh toán lãi; phía anh K xác định số tiền thanh toán 170.000.000 đồng là thanh
toán lãi. Xét thấy: Việc ông C cho rằng thanh toán vốn cho ông T 140.000.000 đồng
không được ông T chấp nhận; hơn nữa, đối với số tiền 170.000.000 đồng chuyển
thanh toán cho ông T cũng không thể hiện là chuyển thanh toán vốn, cũng chưa đủ
để thanh toán khoản tiền lãi cho ông Triệu T3 đến thời điểm chuyển thanh toán,
trong khi khoản tiền lãi ông C chưa thanh toán xong. Đồng thời, tại văn bản ý kiến
của ông C, bà P ng ngày 23/02/2026 đều trình bày đã đóng lãi cho ông T được s
tiền 170.000.000 đồng. Do đó, không căn cứ chấp nhận trình bày của ông C đã
thanh toán cho ông T tiền vốn 140.000.000 đồng, mà có căn cứ xác định toàn bộ số
tiền 170.000.000 đồng đã thanh toán cho ông T là thanh toán tiền lãi. Toà án cấp sơ
thẩm buộc ông C trả cho ông T số tiền vốn 1.200.000.000 đồng là có căn cứ.
Về lãi suất: Về thời gian tính lãi, tính tngày vay đến ngày xét xử thẩm
(ngày 16/4/2026) hơn 39 tháng, nhưng phía ông T chỉ yêu cầu tính lãi thời gian
39 tháng (03 năm 03 tháng) ít hơn thời gian thực tế, lợi cho ông C, nên được
chấp nhận.
Số tiền lãi được tính như sau: 1.200.000.000 đồng x 20%/năm x 03 năm 03
tháng = 780.000.000 đồng. Đối trừ số tiền ông C đã thanh toán 170.000.000 đồng,
còn lại 610.000.000 đồng. Stiền lãi ông T yêu cầu không được chấp nhận
170.000.000 đồng. Tổng số tiền vốn, lãi buộc ông C phải thanh toán cho ông T
1.810.000.000 đồng (1.200.000.000 đồng + 610.000.000 đồng = 1.810.000.000
đồng). Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông C đối với bản án
sơ thẩm.
[2] Đối với kháng cáo của Huỳnh Mỹ P: Xét về trách nhiệm của P đối
với số tiền nợ của ông T, xét thấy: Số tiền ông C vay của ông T, mặc theo bà P
5
xác định là chị không biết, không ký tên, nhưng chị xác định có cùng ông C trả tiền
lãi cho ông T 170.000.000 đồng. Như vậy, chứng minh là P biết việc ông C
vay tiền của ông T. Tại phiên toà, ông C trình bày trước đây ông kinh doanh mua
bán thức ăn, thuốc thuỷ sản bị nợ nên ông vay tiền của ông T để trả nợ, thời điểm
ông kinh doanh mua bán thì ông và P đang là vợ chồng chung sống với nhau và
hiện nay ông P vẫn còn vợ chồng. Do đó, sở xác định khoản nợ của
ông T nợ chung của vợ chồng ông C và P, nên bà P phải nghĩa vụ liên đới
cùng ông C để trả nợ cho ông T. Toà án cấp sơ thẩm buộc bà P có nghĩa vụ liên đới
cùng với ông C trả nợ cho ông T là có căn cứ.
[3] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của
Huỳnh Mỹ P; chấp nhận một phần kháng cáo ông Lê Hùng C, sửa bản ánthẩm
phù hợp.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Hùng C không phải chịu án phí, đã dự nộp được nhận lại.
Huỳnh Mỹ P phải chịu theo quy định, đã dự nộp được chuyển thu.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Mỹ P. Chấp nhận một phần kháng
cáo ông Lê Hùng C.
Sửa bản án dân sự thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lữ Hoàng Triệu .
Buộc ông Lê Hùng C và bà Huỳnh Mỹ P phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Lữ
Hoàng T số tiền 1.810.000.000 đồng (Trong đó: Tiền vốn 1.200.000.000 đồng,
tiền lãi là 610.000.000 đồng).
Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản
tiền nêu trên thì hàng tháng ông C và bà P còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lữ Hoàng T đối với ông
Hùng C và bà Huỳnh Mỹ P số tiền là 170.000.000 đồng.
6
- Án phí dân sự thẩm: Ông Hùng C và Huỳnh Mỹ P phải chịu
66.300.000 đồng.Ông Lữ Hoàng T được miễn chịu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hùng C không phải chịu án phí. Ngày
29/5/2026, ông C đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006984 của Thi hành
án dân sự tỉnh Mau được nhận lại. Huỳnh Mỹ P phải chịu 300.000 đồng. Ngày
29/5/2026, bà P đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006985 của Thi hành
án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 574/2026/DS-PT Bản án số 574/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất