Bản án số 641/2024/DS-PT ngày 30/12/2024 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng ủy quyền
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 641/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 641/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 641/2024/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 641/2024/DS-PT ngày 30/12/2024 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng ủy quyền |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng ủy quyền |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Dương |
Số hiệu: | 641/2024/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 30/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng dịch vụ bằng hình thức uỷ quyền |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 641/2024/DS-PT
Ngày 30-12-2024
V/v “tranh chấp hợp đồng dịch
vụ bằng hình thức uỷ quyền”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Dũng.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thắm;
Ông Đào Minh Đa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Khang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Ông Trần Đức Thoại – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 504/2024/TLPT-
DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng dịch vụ bằng hình
thức uỷ quyền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 525/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng
12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng T, sinh năm 1986; địa chỉ tại: ấp L, xã L,
huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1980; địa chỉ tại: tổ B, ấp L, xã L,
huyện B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Hoàng P, sinh năm 1978; địa
chỉ: số E, đường số E, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 7
năm 2024), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Kim L, sinh năm
1981; địa chỉ: tổ B, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
2
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông
Võ Hoàng P, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 01
tháng 7 năm 2024), có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Tại Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 8 năm 2023, các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Hoàng T trình bày:
Ông T có quen biết với vợ chồng ông Phạm Văn Đ và bà Đặng Thị Kim L.
Ông Đ và bà L có tài sản chung là thửa đất số 67, tờ bản đồ số 02, diện tích 19.258
m
2
, tọa lạc ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước, được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS08054 ngày 24 tháng 6 năm 2022 cho
ông Đ.
Tháng 7 năm 2022, ông Đ và bà L có nhờ ông T liên hệ với các cơ quan có
thẩm quyền tại tỉnh Bình Phước để tách thửa đất số 67 thành 07 thửa đất. Hai bên
thỏa thuận, ông T phải chịu toàn bộ các chi phí từ khi làm thủ tục đến khi tách ra
thành 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ); khi giao sổ cho ông Đ và bà L,
ông Đ và bà L sẽ thanh toán cho ông T mỗi sổ là 15.000.000 đồng, ông T đồng ý.
Sau đó, hai bên ra phòng công chứng ký hợp đồng dịch vụ với nội dung thỏa thuận
như trên. Khi ra phòng công chứng, bà L và ông Đ nói ký hợp đồng ủy quyền cho
ông T tiến hành làm thủ tục tách thửa, còn phí dịch vụ như các bên đã thỏa thuận.
Do đó, ngày 11 tháng 7 năm 2022, ông Đ đã lập Giấy ủy quyền cho ông T liên hệ
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc trích lục, trích đo thửa đất,
tách thửa đối với thửa đất số 67, giấy ủy quyền được Văn phòng C, tỉnh Bình
Dương công chứng số 08332, quyển số 07/2022/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 11
tháng 7 năm 2022. Ông Đ và bà L đã bàn giao bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất trên cho ông T để làm các thủ tục tách thửa.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, ông T đã hoàn tất công việc và Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B đã cấp cho ông Đ 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tương ứng với 07 thửa đất mới là 337, 338, 339, 340, 341, 342 và 343, tờ bản đồ
số 02. Ông T đã giao 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số
337, 338, 339, 340, 341 và 342 cho ông Đ, chỉ giữ lại 01 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của thửa đất số 343 để làm tin. Ông Đ hứa sẽ sớm trả tiền thù lao dịch
vụ là 105.000.000 đồng cho ông T nhưng sau đó lại cố tình lẫn tránh, không trả
như đã hứa. Ông T có trao đổi tin nhắn với bà L đề cập nội dung thỏa thuận này
(nội dung tin nhắn ông T có cung cấp cho Tòa án). Hành vi này của ông Đ là vi
phạm thỏa thuận bằng lời nói ban đầu với ông T, gây thiệt hại đến quyền và lợi
ích hợp pháp của ông T.
Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải thanh toán cho ông T
số tiền 105.000.000 đồng là tiền thù lao và chi phí dịch vụ.
3
Tại Bản trình bày ý kiến ngày 05 tháng 7 năm 2024 và tại phiên tòa, người
đại diện hợp pháp của bị đơn ông Phạm Văn Đ và của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Đặng Thị Kim L là ông Võ Hoàng P trình bày:
Ngày 11 tháng 7 năm 2022, ông Đ có ký giấy ủy quyền cho ông T thực hiện
công việc là liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc trích
lục, trích đo thửa đất, tách thửa đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 02, tọa lạc ấp
E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ CS08054 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24 tháng 6 năm 2022 cho ông Đ. Ngày
04 tháng 10 năm 2022, ông Đ ký tiếp giấy ủy quyền cho ông T để liên hệ với cơ
quan chức năng có thẩm quyền thực hiện công việc nộp hồ sơ đo đạc tách thửa,
hợp thửa và chuyển mục đích sử dụng đất đối với 04 thửa đất số 355, 356, 357 và
358, tờ bản đồ số 20, tọa lạc ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. Như vậy,
công việc chính là chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm thành đất ở và
tách thửa. Về thù lao ủy quyền là không thù lao. Quá trình ông T thực hiện công
việc theo ủy quyền, ông Đ có tự nguyện hỗ trợ cho ông T số tiền 120.000.000
đồng.
Ông Đ xác nhận, về công việc theo Giấy ủy quyền ngày 11 tháng 7 năm 2022
đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 02 thì ông T có thực hiện tách ra được 07 thửa
đất là đất trồng cây lâu năm, không phải đất ở, tức ông T chưa thực hiện công việc
chuyển mục đích sử dụng đất. Về công việc theo Giấy ủy quyền ngày 04 tháng 10
năm 2022 đối với 04 thửa đất số 355, 356, 357 và 358, tờ bản đồ số 20 thì ông T
không thực hiện được việc chuyển mục đích sử dụng đất và tách thửa. Về chi phí
ông T thực hiện tách thửa đất số 67 ra được 07 thửa đất là đất trồng cây lâu năm,
chi phí khoảng vài chục triệu đồng nhưng ông Đ đã hỗ trợ 120.000.000 đồng cho
ông T để thực hiện công việc chuyển mục đích sử dụng đất rồi. Việc ông T khởi
kiện yêu cầu ông Đ phải thanh toán số tiền thù lao và chi phí dịch vụ là
105.000.000 đồng cho ông T là hoàn toàn không có cơ sở. Trong các chứng cứ
kèm theo đơn khởi kiện của ông T không có bản hợp đồng dịch vụ. Công việc ông
T thực hiện theo ủy quyền là không có thù lao. Như vậy, giữa ông Đ và ông T
không có ký kết hợp đồng dịch vụ và căn cứ theo giấy ủy quyền không có thù lao
thì ông Đ không có nghĩa vụ phải thanh toán tiền cho ông T.
Từ những lý do trên, ông Đ không chấp nhận yêu cầu của ông T, đề nghị Tòa
án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bản án sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân
huyện B, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng T
đối với bị đơn ông Phạm Văn Đ về việc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bằng hình
thức ủy quyền.
Buộc ông Phạm Văn Đ có nghĩa vụ trả cho ông Võ Hoàng T số tiền là
47.697.000 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành
4
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Ông Võ Hoàng T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Đ bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất có số vào sổ CS09543 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 31
tháng 10 năm 2022 cho ông Phạm Văn Đ (diện tích được cấp 1.045,9 m
2
, thuộc
thửa đất số 343, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: ấp E, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng T đối
với bị đơn ông Phạm Văn Đ về việc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bằng hình
thức ủy quyền đối với số tiền là 57.303.000 đồng (năm mươi bảy triệu ba trăm lẻ
ba nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị
và quy định về thi hành án.
Ngày 05/10/2023, bị đơn ông Phạm Văn Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ý kiến ông Võ Hoàng P đại diện bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông Đ không liên quan đến
thoả thuận dịch vụ giữa bà L với ông T. Ông T không cung cấp được chứng cứ
chứng minh hợp đồng dịch vụ, hứa trả thù lao.
Ý kiến nguyên đơn: Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người
tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về nội dung: Ông Đ không trực tiếp thoả thuận dịch vụ với ông T mà do
bà L thoả thuận với ông T. Ông T không cung cấp được chứng cứ chứng minh
hợp đồng dịch vụ, hứa trả thù lao. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự,
ý kiến của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm,
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Các đương sự thống nhất việc xác lập Giấy ủy quyền ngày 11/7/2022,
được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương, số công chứng 08332, quyển
số 07/2022/TP-CC-SCC/HĐGD. Ông Đ ủy quyền cho ông T thực hiện các công
việc sau: Liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc trích lục,
trích đo thửa đất, tách thửa đối với thửa đất số 67, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ. Mục đích của ký kết Giấy ủy quyền ngày
11/7/2022 là để ông T đại diện cho vợ, chồng ông Đ thực hiện dịch vụ liên hệ với
các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tất cả các thủ tục tách thửa đất số 67, tờ bản
đồ số 02, tọa lạc ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước (theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào
sổ CS08054 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24 tháng 6 năm
2022 cho ông Đ) thành 07 thửa đất mới tương ứng 07 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên ông Đ. Nguồn gốc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 02, diện tích
19.258 m
2
là tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà L nhưng ông Đ đứng tên theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất có số vào sổ CS08054 ngày 24/6/2022.
Ngày 31/10/2022, ông T đã hoàn tất công việc và Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B đã cấp cho ông Đ 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tương ứng
với 07 thửa đất mới là 337, 338, 339, 340, 341, 342 và 343, tờ bản đồ số 02. Ông
T đã giao 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 337, 338,
339, 340, 341 và 342 cho ông Đ, chỉ giữ lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của thửa đất số 343.
Các đương sự đều thừa nhận các tình tiết, sự kiện trên nên đây là tình tiết
không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Bị đơn kháng cáo cho rằng ông Đ không trực tiếp thoả thuận dịch vụ tách thửa
đất với ông T mà do bà L thoả thuận, người xâm phạm đến quyền lợi của ông T là
bà L nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ vấn đề này theo khoản 5 Điều 189 Bộ luật
Tố tụng dân sự nên đã vi phạm tố tụng.
Xét tại Toà, ông P đại diện cho cả ông Đ và bà L đã xác định ông Đ và bà L là vợ
chồng. Bà L là người trực tiếp thoả thuận dịch vụ tách thửa đất với ông T nhưng
kết quả thủ tục tách thửa do ông Đ hưởng, ông Đ đã nhận được 06 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sau khi tách thửa. Theo khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau:
Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình”. Vì vậy, ông Đ phải có trách nhiệm chung với bà L khi thực hiện nghĩa vụ
với ông T. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định bà L với tư cách người liên quan và
chỉ quyết định buộc ông Đ có nghĩa vụ trả tiền thù lao 35.000.000 đồng cho ông
T mà không xác định trách nhiệm của bà L là không đúng quy định pháp luật,
không đảm bảo cho quá trình chứng minh hợp đồng dịch vụ và không đảm bảo
quá trình thi hành án nên cần buộc bà L phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản
6
với ông Đ theo quy định. Ông Đ kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm làm rõ
trách nhiệm của ông Đ trong giao dịch giữa bà L với ông T là có căn cứ.
[3] Ông Đ kháng cáo cho rằng ông T không đưa ra được Hợp đồng dịch vụ,
ông Đ hay bà L không có lời nói hứa hẹn trả thù lao để thực hiện dịch vụ cho ông
T nên bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Đ trả tiền thù lao dịch vụ là không có căn
cứ chấp nhận, đề nghị sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn.
Ông T không chấp nhận kháng cáo vì cho rằng trước khi thực hiện dịch vụ
thì vợ chồng ông Đ, bà L có thỏa thuận miệng trả thù lao 15.000.000 đồng/giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi tách. Ông T sẽ bỏ ra toàn bộ chi phí đo
đạc, lập bản vẽ, tách thửa… cho đến khi hoàn thành thủ tục tách thửa đất số 67 ra
thành 07 thửa với 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đ thì mới
được hưởng thù lao tổng cộng 105.000.000 đồng.
Xét các chi phí ông T đã thanh toán để thực hiện dịch vụ gồm: chi phí đo
đạc chỉnh lý bản đồ địa chính (1000m
2
- 3000m
2
) là 8.328.000 đồng và chi phí đo
đạc chỉnh lý bản đồ địa chính (01-10ha) là 2.569.000 đồng theo Hóa đơn bán hàng
ngày 19/9/2022 (bút lục số 134); chi phí tách thửa (trường hợp tự tách) là 576.000
đồng và giấy chứng nhận tăng thêm (tách thửa) là 1.224.000 đồng theo Hóa đơn
bán hàng ngày 09 tháng 11 năm 2022 (bút lục số 135); tổng cộng là 12.697.000
đồng. Đại diện ông Đ, bà L cũng thừa nhận số tiền chi phí 12.697.000 đồng là của
ông T bỏ ra để thực hiện việc tách sổ cho ông Đ. Vì vậy, ông Đ và bà L có nghĩa
vụ chung phải hoàn trả lại cho ông T chi phí 12.697.000 đồng do đã hoàn thành
thủ tục tách thửa và đây là số tiền thuộc sở hữu của ông T. Toà cấp sơ thẩm buộc
ông Đ có nghĩa vụ trả cho ông T khoản chi phí này là phù hợp nhưng cần buộc bà
L có nghĩa vụ chung với ông Đ như đã phân tích ở phần [2].
Ông T cung cấp 14 tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Zalo
giữa ông T và bà L được chụp qua màn hình điện thoại của ông T (bút lục số 08
đến số B) để chứng minh bà L đồng ý trả tiền dịch vụ 15.000.000 đồng/giấy chứng
nhận cho ông T nhưng do gặp khó khăn nên chưa chuyển trả. Tại phiên tòa phúc
thẩm, ông P đại diện bà L cho rằng bà L không nhớ có nhắn tin zalo cho ông T
với nội dung trên hay không. Tuy nhiên, khi Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích
sẽ trưng cầu giám định nội dung tin nhắn Zalo nguyên đơn cung cấp có phải
nguyên đơn nhắn tin trao đổi với bà L hay không thì đại diện ông Đ, bà L không
chấp nhận và ông Đ vẫn xác định từ chối chịu trách nhiệm ngay cả khi kết quả tin
nhắn Zalo đúng của bà L. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải
trưng cầu giám định nội dung tin nhắn Zalo nguyên đơn cung cấp mà căn cứ vào
các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.
Theo hồ sơ cấp 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 07 thửa đất mới
(bút lục từ số 84 đến số 117) do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C
cung cấp thể hiện từ ngày có đơn đề nghị tách thửa đất 21/7/2022 đến ngày có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 31/10/2022 là hơn 03 tháng. Như vậy, thực tế
ông T đã có công sức, chi phí đi lại trong thời gian dài để thực hiện dịch vụ cho
ông Đ, bà L nên theo quy định tại khoản 2 Điều 515 và khoản 1 Điều 519, khoản
7
3 Điều 518 của Bộ luật Dân sự, ông T có quyền yêu cầu ông Đ phải trả tiền dịch
vụ.
Tuy ông T không cung cấp được Hợp đồng dịch vụ chứng minh mức thù
lao cụ thể mà bà L hay ông Đ đã cam kết thanh toán nhưng theo Bản trình bày ý
kiến của ông Võ Hoàng P đại diện cho ông Đ và bà L (bút lục 62) đã trình bày:
“Chi phí trong quá trình ông T thực hiện tách ra được 07 thửa đất là đất trồng
cây lâu năm thì chi phí mất khoảng tầm vài chục triệu đồng nhưng phía ông Phan
văn Đ1 đã có hỗ trợ số tiền 120.000.000 đồng cho ông T rồi”. Tại phiên toà phúc
thẩm, ông P cũng xác nhận lại ý kiến trình bày nêu trên. Như vậy, xét về mặt ý
chí chủ quan của ông Đ1, bà L đều thừa nhận ông T thoả thuận làm dịch vụ tách
thửa cho vợ chồng ông Đ1 là có chi phí và số tiền phía ông Đ1 cho rằng hỗ trợ
120.000.000 đồng là tương đương hoặc cao hơn chi phí tách sổ của ông T nên họ
không còn nợ ông T. Vì vậy, ông T cho rằng chi phí theo thoả thuận tổng cộng
105.000.000 đồng là phù hợp với ý chí nêu trên của ông Đ1, bà L nên có căn cứ
chấp nhận. Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn tự nguyện giảm yêu cầu chỉ còn
35.000.000 đồng (5.000.000 đồng/giấy chứng nhận sau khi tách thửa) là có lợi
cho bị đơn. Sau khi xét xử, nguyên đơn cũng không kháng cáo nên không có cơ
sở xem xét lại mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về số tiền và buộc bà L có trách
nhiệm chung với ông Đ1 trong việc thanh toán.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện bị đơn cho rằng việc hỗ trợ số tiền
120.000.000 đồng là của giao dịch khác, không liên quan đến vụ án và chưa cung
cấp được chứng cứ chứng minh nên sẽ được giải quyết tại vụ án khác khi các bên
phát sinh tranh chấp.
[4] Từ những cơ sở nhận định nêu trên, có căn cứ chấp nhận một phần
kháng cáo của bị đơn. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát là không phù hợp.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đ1 không phải chịu do sửa bản
án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308, 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, min, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn Đ về việc “tranh
chấp hợp đồng dịch vụ bằng hình thức uỷ quyền”.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án
nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương như sau:
8
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng
T đối với bị đơn ông Phạm Văn Đ về việc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bằng
hình thức ủy quyền.
Buộc ông Phạm Văn Đ, bà Đặng Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho ông Võ
Hoàng T số tiền là 47.697.000 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi bảy
nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Ông Võ Hoàng T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Đ bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất có số vào sổ CS09543 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 31
tháng 10 năm 2022 cho ông Phạm Văn Đ (diện tích được cấp 1.045,9 m
2
, thuộc
thửa đất số 343, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: ấp E, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước).
2.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng T
đối với bị đơn ông Phạm Văn Đ về việc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bằng hình
thức ủy quyền đối với số tiền là 57.303.000 đồng (năm mươi bảy triệu ba trăm lẻ
ba nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Hoàng T phải chịu 2.865.150 đồng (hai triệu tám trăm sáu mươi lăm
nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm ông Võ Hoàng T đã nộp là 2.625.000 đồng (hai triệu sáu
trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0010448 ngày
16 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương.
Ông Võ Hoàng T còn phải tiếp tục nộp 240.150 đồng (hai trăm bốn mươi nghìn
một trăm năm mươi đồng).
Ông Phạm Văn Đ, bà Đặng Thị Kim L phải chịu 2.384.850 đồng (hai triệu
ba trăm tám mươi bốn nghìn tám trăm năm mươi đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn Đ không phải chịu, Chi cục Thi
hành án huyện B hoàn trả cho ông Đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0003661 ngày 19/9/2024.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS huyện B;
- TAND huyện B;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, Tổ Hành chính Tư pháp;
Tòa Dân sự.
Phan Trí Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 25/11/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 15/10/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 28/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 18/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 17/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 16/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 22/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 22/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm