Bản án số 566/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 566/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 566/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 566/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 566/2026/DS-PT Bản án số 566/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 566/2026/DS-PT Bản án số 566/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 566/2026/DS-PT
Ngày: 21/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Đặng Minh Trung
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Hải Sơn, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Trương Trung Tín.
Ngày 21 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét x
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 177/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 337/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Trần Tuyết L, sinh năm 1955; số CCCD: ************.
Địa chỉ: Khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Sơn T; số CCCD:
************1 (Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2024. Ông T có mặt).
Địa chỉ: Số B, đường P, khóm C, phường T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Lê Tú A, sinh năm 1972; số CCCD: ************ (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; số CCCD: ************.
Cùng địa chỉ: Khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của N: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979
(Văn bản ủy quyền ngày 24/02/2026. Ông K có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm C, phường A, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Tú A và bà Nguyễn Thị N là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo ông Sơn T (đại diện hợp pháp của nguyên đơn Trần Tuyết L)
trình bày:
Trần Tuyết L ruột (dì thứ 4) của Nguyễn Thị N. Tháng 11/2016,
N hỏi mượn của L tiền để làm vốn mua bán quần áo, nói sẽ trả lãi cho
L nhưng không nói mức lãi suất. Bà L đồng ý nên rút tiền từ ngân hàng đưa cho
N số tiền 250.000.000 đồng. Do cháu nên L không yêu cầu N viết
biên nhận nợ. Sau khi vay một thời gian thì N đã trả cho L 10.000.000 đồng
tiền vốn. Thời gian đầu N đưa tiền lãi cho L nhưng không đầy đủ mỗi
tháng. Đến dịch Covid19, N không đưa tiền lãi cho L nữa, cũng không trả
vốn. Bà L đã nhiều lần liên lạc đòi tiền thì N hứa hẹn nhưng vẫn không trả. Lúc
liên lạc đòi tiền N, L ghi âm cuộc gọi với N. Sau này thì N không
thừa nhận có vay tiền của bà L.
Bà L đã giao nộp cho Toà án nhiều đoạn ghi âm cuộc gọi giữa L vớiN,
L nhắc đến số tiền vốn còn nợ 240.000.000 đồng. N không thừa nhận giọng
nói trong đoạn ghi âm L nộp cho Toà án, nhưng N không yêu cầu giám định
giọng nói. Bà L đã yêu cầu giám định giọng nói nhưng bà N không cung cấp giọng
nói để giám định.
N ông A vợ chồng hợp pháp. nhiễm vay tiền để làm vốn
mua bán, phục vụ cho cuộc sống gia đình. Do đó bà L yêu cầu ông A liên
đới cùng bà N thanh toán cho L số tiền vốn vay còn nợ 240.000.000 đồng. Yêu
cầu thanh toán lãi với mức lãi suất 20%/năm trên số tiền 240.000.000 đồng từ ngày
20/10/2022 đến nay (ngày xét xử sơ thẩm 20/3/2026) là 172.000.000 đồng.
* Ông Lê Tú A trình bày:
Ông N vợ chồng hợp pháp. N cháu, gọi Trần Tuyết L
tư. Ttrước đến nay vợ chồng ông không vay tiền L. Lúc N bà L còn
thuận thảo, vợ ông L mượn tiền qua lại chỉ vài chục triệu nhưng đã trả
xong. Do ông không vay tiền của bà L nên ông không đồng ý với yêu cầu của bà L.
* Tại văn bản trình bày ý kiến đề ngày 05/8/2024 của Nguyễn Thị N
người đại diện theo uỷ quyền của bà N trình bày:
N không vay, mượn tiền của bà L. Những đoạn ghi âm L giao nộp cho
Toà án không phải giọng nói của bà N. Trước đây bà N L mượn tiền qua
lại với nhau nhưng chỉ với số tiền vài triệu đồng đã trả xong. N không nợ
tiền bà L nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại Bản án dân sthẩm số: 51/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân khu vực 1 - Cà Mau, quyết định:
Căn cứ các điều 357, 463, 466 468 của Bộ luật Dân sự; Các điều 27 và 37
của Luật Hôn nhân Gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Tuyết L, buộc Nguyễn Thị N ông A
liên đới thanh toán cho Trần Tuyết L vốn lãi vay với tổng số tiền là
3
322.000.000 (ba trăm hai mươi hai triệu) đồng. Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về
nghĩa vụ chịu lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06 tháng 4 năm 2026, ông Lê Tú A Nguyễn Thị N đơn kháng cáo
đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Tú A và bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo uỷ quyền của L trình bày: Không đồng ý với nội
dung kháng cáo của ông Tú A và bà N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về thủ tục ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xtiến hành đúng theo quy
định của pháp luật tố tụng các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền
nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định;
+ Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS; Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông A và Nguyễn Thị N, sửa toàn bộ Bản án
thẩm số 51/2026/DSST, ngày 23/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 -
Mau, theo hướng không buộc ông A và bà N trả tổng số tiền 322.000.000 đồng
cho bà Trần Tuyết L. Bị đơn có kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà Trần Tuyết L khởi kiện yêu cầu ông A vợ
Nguyễn Thị N hoàn trả khoản nợ gốc 240.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, L đã cung cấp cho Tòa án các
đoạn ghi âm thể hiện nội dung đòi tiền phàn nàn về việc N chưa thanh toán
nợ.
[2] Tại cấp thẩm, Tòa án đã đánh giá nội dung các đoạn ghi âm do L
cung cấp. Cụ thể, tại file ghi âm ngày 20/10/2022 nội dung đối thoại giữa các
bên, trong đó người đòi tiền đề cập đến số tiền 240.000.000 đồng người còn lại
không phản đối, đồng thời hứa hẹn sẽ trả. L xác định người đòi tiền là
người hứa trả tiền là bà N. Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, mặc dù bà N
không thừa nhận giọng nói trong đoạn ghi âm là của mình nhưng lại không yêu cầu
giám định. Ngược lại, khi L yêu cầu giám định giọng nói để làm căn cứ thì
N không hợp tác, không cung cấp mẫu giọng nói để quan chuyên môn tiến
hành giám định. Việc N không thực hiện quyền nghĩa vụ chứng minh của
mình dẫn đến việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ hiện có do
nguyên đơn cung cấp để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của L căn
cứ.
[3] Tuy nhiên, sau khi xét xử thẩm, bị đơn (vợ chồng N) đơn kháng
cáo đề nghị được giám định giọng nói. Ngày 22/6/2026, Tòa án nhân dân tỉnh
4
Mau đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 618/2026/QĐ-TCGĐ,
trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giám
định giọng nói trong các file âm thanh do L cung cấp. Đến ngày 10/8/2026,
Phân viện Khoa học hình sban hành Kết luận giám định số 433/KL-KTHS với
nội dung: Không đủ sở kết luận giọng nói của Nguyễn Thị N trong file âm
thanh mẫu cần giám định do chất lượng mẫu so sánh kém”. Như vậy, đoạn ghi âm
do phía nguyên đơn cung cấp không đủ giá trị pháp để làm căn cứ chứng minh
giao dịch vay nợ. Do L không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác
để chứng minh, nên không đủ căn cứ pháp để xác định Nguyễn Thị N
ông A vay của L số tiền 240.000.000 đồng như nội dung đơn khởi
kiện.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tại phiên tòa là căn cứ, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ
kháng cáo của ông A Nguyễn Thị N, sửa toàn bộ bản án dân sự
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần
Tuyết L.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng:
[5.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Mặc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không được chấp nhận, nhưng do L là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án
phí theo quy định, nên nguyên đơn được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được Tòa án chấp nhận, các bị
đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5.3] Hoàn trả cho bị đơn toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí giám định giọng nói
đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm đ khoản 1
Điều 12 khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông A và vợ Nguyễn Thị N.
Sửa toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 51/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
2. Không chấp nhận đơn khởi kiện của Trần Tuyết L về việc yêu cầu ông
A Nguyễn Thị N thanh toán vốn lãi vay với tổng số tiền
322.000.000 (ba trăm hai mươi hai triệu) đồng.
3. Hoàn trả cho ông A Nguyễn Thị N 10.000.000 (mười triệu)
đồng tiền tạm ứng chi phí giám định theo Biên lai thu tiền số PT055 ngày
09/6/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
5
4. Trần Tuyết L được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông
A Nguyễn Thị N 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm theo các Biên lai thu tiền số 0004345, 0004346 ngày 14/4/2026.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS nd tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 1 - CM;
- Phòng THA dân sự khu vực 1 - CM;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 566/2026/DS-PT Bản án số 566/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 566/2026/DS-PT Bản án số 566/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất