Bản án số 276/2025/DS-PT ngày 17/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 276/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 276/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 276/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 276/2025/DS-PT ngày 17/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 276/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Cường
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Ngọc Thái
Ông Võ Ngọc Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tiến Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà:
Ông Trần Viết Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 145/2025/TLPT-DS ngày 28
tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành
chính cá biệt”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1583/2025/QĐ-PT ngày 6 tháng 6
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Võ T, sinh năm 1945; địa chỉ: khối phố P, phường Đ, thị
xã Đ, tỉnh Quảng Nam; do bà Đỗ Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A T, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam đại diện theo hợp đồng uỷ quyền ngày 25/02/2025. Ông
T vắng, bà L có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 276/2025/DS-PT
Ngày: 17-6-2025
V/v: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất
và hủy quyết định hành chính cá
biệt”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

2
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; do ông Trần Văn X, sinh năm:
1958; cùng địa chỉ: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam đại diện
theo Giấy ủy quyền ngày 04/12/2024. Bà M vắng, ông X có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị
Kiều D, thuộc Văn phòng L1; địa chỉ liên hệ: C T, phường H, quận L, thành phố
Đà Nẵng, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ: Số B H, phường V,
thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Do ông Nguyễn Thanh V - Trưởng phòng Tài N và M thị xã Đ, tỉnh Quảng
Nam đại diện theo Văn bản ủy quyền ngày 25/4/2024 (BL 118).
2. Ông Trần Văn X, sinh năm 1958 (chồng bà Nguyễn Thị M).
3. Bà Trần Thị Ngọc T1, sinh năm 1987 (con bà Nguyễn Thị M).
4. Bà Trần Thị Huyền T2, sinh năm 2000 (con bà Nguyễn Thị M).
Cùng địa chỉ: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
5. Bà Trần Thị Minh T3, sinh năm 1994 (con bà Nguyễn Thị M).
Địa chỉ: khối phố Quảng Lăng B, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Bà Trần Thị Ngọc T1, bà Trần Thị Huyền T2 và bà Trần Thị Minh T3 do
ông Trần Văn X, sinh năm 1958; địa chỉ: khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh
Quảng Nam đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 04/12/2024, ông X có mặt.
6. Bà Võ Thị N1, sinh năm 1947 (con bà Nguyễn Thị T4); địa chỉ: khối phố
P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
7. Bà Võ Thị B, sinh năm 1951 (con bà Nguyễn Thị T4); địa chỉ: khối phố
L, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
8. Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1957 (vợ ông Võ T); địa chỉ: khối phố P, phường
Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa,
nguyên đơn ông Võ T và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Nguyên diện tích 955m² đất thổ cư thuộc thửa đất số 666, tờ bản đồ số 05 tại
khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam đến nay, được ghi nhận tại bản
đồ 299 lập ngày 15/4/1984 do mẹ ông là Nguyễn Thị T4 đứng tên đăng ký và

3
được cấp Giấy CNQSD đất cho hộ Nguyễn Thị T4 ngày 20/5/1998. Trong quá
trình sử dụng, năm 1991 gia đình ông làm nhà ở, do vị trí nhà ở thấp nên mùa lụt
hay bị ngập nước vì vậy phần đất tiếp giáp đường đi của nhà ông được gia đình
đào, gánh lấy đất đắp cao nền nhà. Vì bị lấy đất nhiều mà diện tích đất bị đào đã
sâu xuống nên gia đình ông sử dụng trồng lúa từ đó đến nay. Sau khi mẹ ông chết
(2005), ông được thừa kế và sử dụng toàn bộ diện tích đất nêu trên (như bản đồ
299). Năm 2019, ông làm thủ tục nhận thừa kế theo quy định của pháp luật theo
Giấy CNQSD đất cấp cho hộ Nguyễn Thị T4 là 728m² đất ở và vườn thuộc thửa
1046, tờ bản đồ 07. Lúc này ông mới biết diện tích đất được công nhận trong Giấy
chứng nhận của mẹ ông không chính xác với diện tích đất thực tế gia đình ông sử
dụng từ trước đến nay. Tuy nhiên, việc gia đình ông sử dụng toàn bộ diện tích đất
theo hiện trạng ổn định từ trước đến nay và không ai tranh chấp, chính quyền địa
phương cũng chưa từng đề cập ý kiến gì. Đến ngày 27/4/2022, ông được UBND
phường Đ mời đến hòa giải về việc tranh chấp diện tích đất ông đang sử dụng
trồng lúa nêu trên với bà Nguyễn Thị M. Tại đây, ông được biết bà M được UBND
huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất số L705186 ngày 20/5/1998 đối với diện tích đất
gia đình ông đang sử dụng trồng lúa nêu trên là 175m
2
, thửa đất số 1050, tờ bản
đồ số 7. Ông cho rằng việc cấp Giấy CNQSD đất của UBND huyện Đ cho bà
Nguyễn Thị M là vi phạm pháp luật, nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Công nhận diện tích 175m
2
, thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7 tại khối phố P,
phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Võ
Thuẩn .
Hủy một phần Giấy CNQSD đất của UBND huyện Đ cấp cho hộ bà Nguyễn
Thị M ngày 20/5/1998 đối với thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7, diện tích đất
175m² tại phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Năm 1994, hộ gia đình bà Nguyễn Thị
M được UBND huyện Đ cấp 06 thửa đất nông nghiệp gồm các thửa:
1/ Thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7, diện tích 175m², loại đất: Lúa, thời hạn
sử dụng: 8/2017.
2/ Thửa đất số 78/2, tờ bản đồ số 8, diện tích 310m², loại đất: Lúa, thời hạn
sử dụng: 8/2017.
3/ Thửa đất số 751/1, tờ bản đồ số 8, diện tích 299m², loại đất: Lúa, thời hạn
sử dụng: 8/2017.
4/ Thửa đất số 50/1, tờ bản đồ số 8, diện tích 488m², loại đất: Lúa, thời hạn
sử dụng: 8/2017.

4
5/ Thửa đất số 270/3, tờ bản đồ số 8, diện tích 139m², loại đất: mạ, thời hạn
sử dụng: 8/2017.
6/ Thửa đất số 1048, tờ bản đồ số 7, diện tích 172m², loại đất: mạ, thời hạn
sử dụng: 8/2017.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thị M đã được nhà nước cấp Giấy CNQSD đất số
L705186 ngày 20/5/1998 đối với 06 thửa đất nông nghiệp nêu trên. (Đến ngày
21/02/2014, thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa nên UBND huyện Đ đã thu
hồi của hộ thửa đất số 50/1, tờ bản đồ số 8, diện tích 488m², loại đất: Lúa và đã
cấp đổi lại thửa đất số 141, diện tích 510m², tờ bản đồ số 24 thuộc phường Đ).
Mặc dù năm 1994, nhà nước cấp đất và năm 1998 cấp Giấy CNQSD đất cho hộ
gia đình bà Nguyễn Thị M đối với 06 thửa đất nông nghiệp nói trên, nhưng trên
thực tế hộ gia đình bà Nguyễn Thị M chỉ sử dụng 05 thửa gồm: Thửa đất số 78/2,
thửa đất số 751/1, thửa đất số 50/1, thửa đất số 270/3 và thửa đất số 1048. Riêng
thửa đất số 1050 do chồng bà M đi làm ăn xa, bản thân bà M nuôi con nhỏ, nên
không để ý gia đình mình được cấp bao nhiêu thửa đất nông nghiệp và đến khi
nhận Giấy CNQSD đất cũng không để ý đến thửa đất số 1050 này. Thửa đất số
1050, tờ bản đồ số 7 này gia đình bà Nguyễn Thị T4 (mẹ ruột ông Võ T) sử dụng
từ trước năm 1988 cho đến nay. Từ khi nhà nước chia lại đất nông nghiệp cho đến
nay, gia đình ông Võ T vẫn đang sử dụng sản xuất. Đến năm 2022, hộ gia đình bà
Nguyễn Thị M được UBND phường Đ thông báo thửa đất số 1050, tờ bản đồ số
7, diện tích 175m², loại đất lúa là của hộ gia đình bà Nguyễn Thị M đã được nhà
nước cấp Giấy CNQSD đất và UBND phường Đ đã mời 02 gia đình đến hòa giải
về việc tranh chấp đối với diện tích đất trên nhưng không thành. Nay bà Nguyễn
Thị M không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thuẩn . Bà M đã
có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc ông Võ T phải trả lại thửa đất số 1050, tờ
bản đồ số 7, diện tích đất 175m² tại phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam đã cấp
cho hộ bà Nguyễn Thị M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn X, bà Trần Thị Ngọc T1 và bà Trần Thị Huyền T2 thống
nhất với ý kiến của bị đơn.
+ Tại Công văn số 3929/UBND ngày 13/12/2024 (BL 156), UBND thị xã Đ
trình bày: Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành
quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, hộ Nguyễn Thị M đã có đơn xin đăng
ký quyền sử dụng đất ngày 31/7/1997 gồm 07 thửa đất, trong đó có thửa đất số
1050, tờ bản đồ số 07, diện tích 175m², loại đất: 2L (lúa). Nội dung đơn của hộ
Nguyễn Thị M được UBND xã Đ ký xác nhận ngày 30/8/1997. Trên cơ sở đơn

5
đăng ký quyền sử dụng đất của hộ Nguyễn Thị M, ý kiến đề nghị của UBND xã
Đ, UBND huyện Đ đã cấp Giấy CNQSD đất cho hộ Nguyễn Thị M gồm 07 thửa
đất, trong đó có thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 07, diện tích 175m², loại đất: lúa
là đúng theo quy định. Do đó đề nghị của ông Võ T về việc huỷ một phần Giấy
CNQSD đất do UBND huyện Đ cấp cho hộ Nguyễn Thị M đối với thửa đất số
1050, tờ bản đồ số 07, diện tích 175m², loại đất: Đất lúa tại phường Đ, thị xã Đ,
tỉnh Quảng Nam là không có cơ sở.
+ Bà Võ Thị N1, bà Võ Thị B cùng thống nhất ý kiến trình bày: ba mẹ bà là
ông Võ G và bà Nguyễn Thị T4 có 4 người con gồm: Võ Thuẩn, Võ Thị B, Võ
T5 và Võ Thị N1. Chị em bà trưởng thành, lập gia đình ở riêng nên chỉ có ông T
là ở bên nhà, cận kề chăm sóc mẹ. Năm 1991, mẹ bà sửa lại nhà ở, vị trí nhà cũ
thấp mùa lụt hay bị ngập nước nên mẹ và vợ chồng ông T đào lấy đất đắp cao nền
nhà bằng phần đất tiếp giáp đường đi. Vì diện tích đất bị đào sâu xuống nên ông
T trồng lúa từ đó đến nay, diện tích khoảng 175m² thửa đất số 1050, tờ bản đồ số
7, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Các chị em trong gia đình không ai tranh
chấp gì, đất này là của ông T. Hộ bà Nguyễn Thị M được cấp giấy cyhứng nhận
quyền sử dụng đất này là không đúng. Bà thống nhất với mọi trình bày của ông T
trong vụ án.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định:
Căn cứ vào các điều 26, 34, 37, 39 khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; các
điều 11, 15, 115, 163 và 168 của Bộ luật Dân sự; các điều 3, 21 Luật đất đai năm
1993, được sửa đổi bổ sung năm 1998; khoản 7,9 Điều 3, khoản 1,2,3 Điều 26,
các điều 53, 99, 100 và 101 Luật đất đai năm 2013; Điều 48 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ T về việc “Tranh
chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt” với bị đơn bà
Nguyễn Thị M.
Công nhận diện tích 175m
2
đất, thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7 tại khối phố
P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thuộc quyền sử dụng của ông Võ T và bà
Đoàn Thị H (có sơ đồ kèm theo).
Hủy một phần Giấy CNQSD đất do UBND huyện Đ cấp cho hộ Nguyễn Thị
M ngày 20/5/1998, đối với thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7, diện tích 175m
2
tại
khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

6
Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông
Võ T trả lại thửa đất số 1050, diện tích 175m
2
cho bà Nguyễn Thị M.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/3/2025, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam nhận đơn kháng cáo của
bị đơn bà Nguyễn Thị M, kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm xem xét: Huỷ bản án sơ thẩm; Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Võ T; xác định quyền sử dụng đất hợp pháp cho bị đơn đối với
thửa đất số 1050, theo GCNQSDĐ số L705186 ngày 20/5/1998.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng trong giai doạn xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có căn cứ và đúng pháp
luật, kháng cáo của bị đơn không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các
chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và xem xét
quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bà Đỗ Thị L là người đại diện theo uỷ
quyền của nguyên đơn ông Võ T không rút đơn khởi kiện. Ông Trần Văn X là
người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị M giữ nguyên nội dung
kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét Huỷ bản án sơ thẩm; xử bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn đối
với thửa đất 1050.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn về Huỷ Bản án sơ thẩm, cho rằng
nguyên đơn không có quyền khởi kiện, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: ông
Võ T là người thừa kế quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T4, là mẹ ông Võ
Thuẩn . Ông T cho rằng việc UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn
Thị M là vi phạm pháp luật nên ông khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận diện tích
175m
2
đất tại thửa 1050 và yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà
Nguyễn Thị M vào ngày 20/5/1998. Như vậy, ông Võ T có quyền khởi kiện vụ
án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

7
[3] Về nội dung kháng cáo của bị đơn về đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn đối với thửa đất 1050,
thấy rằng:
[4] Tại Công văn số 64/UBND ngày 15/11/2023 (BL 96), Công văn số
11/UBND ngày 16/4/2024 (BL 113) và hồ sơ kê khai đăng ký do UBND phường
Đ cung cấp thể hiện: diện tích 175m
2
đất tranh chấp do bà Nguyễn Thị T4 kê khai
theo Chỉ thị 299/TTg nằm trong thửa đất số 666, tờ bản đồ số 2, diện tích 955m
2
tại thôn P, xã Đ, huyện Đ. Do gia đình bà T4 lấy đất phía trước đổ lên để làm nền
nhà tránh ngập lụt mùa mưa, đồng thời lấy chỗ đó cấy lúa làm ăn sinh sống và gia
đình bà T4 sử dụng liên tục cho đến khi bà T4 chết và ông Võ T tiếp tục sử dụng
trồng lúa cho đến nay.
[5] Tại Bản tự khai ngày 19/6/2023 (BL 72a), Biên bản lấy lời khai ngày
29/6/2023 (BL 83) và Biên bản hoà giải ngày 26/7/2024 (BL 138 và 139) bà
Nguyễn Thị M và người đại diện theo uỷ quyền của bà M ông Lê Xuân H1 cũng
đã thừa nhận: năm 1994 chia đất, gia đình bà M không có ai ở nhà để đi nhận đất.
Mặc dù, năm 1994 được nhà nước cấp đất và năm 1998 được cấp Giấy CNQSD
đất nhưng từ năm 1994 đến năm 2022 gia đình bà M cũng không biết thửa đất số
1050, diện tích 175m
2
được cấp cho hộ bà M. Bà M cũng thừa nhận: thửa đất số
1050, diện tích 175m
2
gia đình bà Nguyễn Thị T4 sử dụng từ trước năm 1988 cho
đến nay. Từ khi nhà nước chia lại đất nông nghiệp cho đến nay gia đình ông Võ
T vẫn đang sử dụng sản xuất.
[5] Như vậy, việc UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất thửa đất số 1050,
diện tích 175m
2
tại thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cho hộ Nguyễn Thị
M khi các cơ quan chức năng không khảo sát, thẩm tra thực trạng tình hình sử
dụng đất của các hộ gia đình cá nhân có liên quan đối với phần diện tích 175m
2
đất; Không giải quyết các tài sản thuộc sở hữu của gia đình ông T có trên diện
tích 175m
2
đất và không tiến hành kiểm tra, xác minh ai là người khai hoang hoặc
đang sử dụng diện tích là 175m
2
đất nêu trên là không đúng qui định tại Điều 21
của Luật đất đai năm 1993 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử
dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”.
Sai sót này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của gia đình ông T. Hơn nữa,
phần diện tích đất này từ trước tới nay, hộ Nguyễn Thị M không phải là người sử
dụng. Theo quy định của Nghị định 64/CP, người được giao đất phải sử dụng đất
đúng mục đích trong thời hạn được giao. Nhưng thực tế: Bà Nguyễn Thị M không
phải là người sử dụng phần diện tích 175m
2
đất tranh chấp. Do UBND huyện Đ
cấp Giấy CNQSD đất thửa đất số 1050, diện tích 175m
2
cho hộ Nguyễn Thị M
không đúng pháp luật. Trong quá trình giải quyết, các đồng thừa kế của bà Nguyễn
Thị T4 đều đồng ý giao thửa đất số 1050, diện tích 175m
2
cho vợ chồng ông T

8
quyền sử dụng. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Công
nhận diện tích 175m
2
, thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7 tại khối phố P, phường Đ,
thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thuộc quyền sử dụng của ông Võ T, bà Đoàn Thị H và
hủy một phần Giấy CNQSD đất do UBND huyện Đ cấp cho hộ Nguyễn Thị M
ngày 20/5/1998, đối với thửa đất số 1050, diện tích 175m
2
; Không chấp nhận yêu
cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông Võ T trả lại thửa đất số
1050, diện tích 175m
2
cho bà Nguyễn Thị M.
Trên phần diện tích 175m
2
đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng
ông Võ T theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/7/2023 (BL 123 -
124) và tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm hôm nay, các đương sự có mặt đều
thừa nhận: Không có tài sản, vật kiến trúc và cây cối gì của bà Nguyễn Thị M trên
diện tích đất tranh chấp này.
Từ những chứng cứ, phân tích và lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có căn cứ và đúng pháp
luật; kháng cáo của bị đơn không có cơ sở, không có tài liệu chứng cứ mới làm
thay đổi bản chất nội dung vụ án nên không được chấp nhận, Hội đồng xét xử
phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Tuy kháng cáo không được chấp nhận nhưng bị
đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễm án phí nên HĐXX miễn án phí phúc
thẩm cho bị đơn bà Nguyễn Thị M.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các điều 26, 34, 37, 39 khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; các
điều 11, 15, 115, 163 và 168 của Bộ luật Dân sự; các điều 3, 21 Luật đất đai năm
1993, được sửa đổi bổ sung năm 1998; khoản 7,9 Điều 3, khoản 1,2,3 Điều 26,
các điều 53, 99, 100 và 101 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

9
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ T về việc “Tranh
chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt” với bị đơn bà
Nguyễn Thị M.
Công nhận diện tích 175m
2
đất, thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7 tại khối phố
P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thuộc quyền sử dụng của ông Võ T và bà
Đoàn Thị H (có sơ đồ kèm theo).
Hủy một phần Giấy CNQSD đất do UBND huyện Đ cấp cho hộ Nguyễn Thị
M ngày 20/5/1998, đối với thửa đất số 1050, tờ bản đồ số 7, diện tích 175m
2
tại
khối phố P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông
Võ T trả lại thửa đất số 1050, diện tích 175m
2
cho bà Nguyễn Thị M.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì là người cao tuổi.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- Cục THADS tỉnh Quản Nam;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Cường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm